“Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng...” là lời kinh sám hối của Tín đồ đạo Công giáo phải học thuộc từ khi biết đọc và hiểu Giáo lý của đạo.
Đem câu này áp dụng cho hoàn cảnh “trên đe dưới búa” cực kỳ nguy nan
trước hiểm họa mất dần chủ quyền đất nước vào tay người Tầu phương bắc
thì Việt Nam cần có Cách mạng để tồn tại. Nhưng trước khi có Cách mạng,
người dân Việt Nam cần biết những nguyên nhân đưa đất nước đến hoàn cảnh
bi đát ngày nay. Trước nhất, 3 nguyên Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt
Nam Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh, nếu còn chút liêm sỉ là
người Việt Nam và muốn không bị lịch sử lên án phản quốc, họ cần chứng
minh mình vô tội trong các thỏa hiệp với Trung Cộng.
Chuyện Đỗ Mười
Người đầu tiên là ông Đỗ Mười, nguyên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Tổng
Bí thư đảng Khóa 7 của Cộng sản Việt Nam (CSVN). Ông là người, cùng với
nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi ấy là Cố vấn của Ban Chấp hành Trung
ương đảng (1986-1997), đã tháp tùng Tổng Bí thư đảng Khóa 6 Nguyễn Văn
Linh đi phó Hội nghị bí mật ở Thành Đô (tỉnh Tứ Xuyên, Trung Cộng) trong
hai ngày 03 và 04/09/1990. Phía Trung Cộng có Tổng Bí thư đảng, Chủ
tịch Nhà nước Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng.
Mục đích “lúc đầu”, theo Hồi ký “Hồi ức và Suy nghĩ” của nguyên Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ thì Hội nghị Thành Đô nhằm vào hai vấn đề chính: Campuchia và vấn đề bình thường hòa quan hệ Việt-Trung.
Ngoài ra ông Nguyễn Văn Linh còn ôm mộng sang Thành Đô để “Tranh thủ Trung Quốc, hợp tác với Trung Quốc, để bảo vệ Xã hội chủ nghĩa!”
Hồi ký Trần Quang Cơ thuật lại rằng chính ông Linh đã nói với
Trương Đức Duy, Đại sứ Trung Cộng tại Hà Nội, trong một cuộc gặp mặt
giữa hai người hồi tháng 6/1990 rằng: “Trung Quốc cần giương cao ngọn
cờ xã hội chủ nghĩa, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin. Việt Nam kiên trì
chủ nghĩa Mác-Lênin. Những người cộng sản chân chính phải đoàn kết để
bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa đế quốc luôn tấn công vào chủ nghĩa
xã hội. Chúng tuyên bố đến cuối thế kỷ này sẽ làm cho chủ nghĩa xã hôi
biến mất.”
Nhưng tại Thành Đô, phía Trung Cộng đã hoàn toàn chủ động và lái Việt
Nam đi theo ý muốn của Bắc Kinh để ép phe Heng Samrin-Hun Sen thân Việt
Nam phải chấp nhận giải pháp chính trị “hòa hợp dân tộc” với phe bại
trận Khmer đỏ thân Trung Cộng, khi ấy đã phải dạt về biên giới Thái Lan.
Và đây cũng là cái giá Việt Nam phải trả để được bình thường hóa với
Trung Cộng, sau 11 năm Trung Cộng đem 600,000 quân tấn công 6 Tỉnh Việt
Nam dọc biên giới hai nước năm 1979.
Tuy nhiên, phe Heng Samrin - Hun Sen sau đó đã quay ra hận thù Việt Nam
vì Hà Nội đã xen vào “chuyện nội bộ của người Campuchea”.
Ông Trần Quang Cơ viết về thất bại chính trị này của Việt Nam trong Hồi ký “Hồi ức và Suy nghĩ”: “Cuộc
hội đàm Thành Đô tháng 9.90 hoàn toàn không phải là một thành tựu đối
ngoại của ta, hiện tại đó là một sai lầm hết sức đáng tiếc về đối ngoại.
Vì quá nôn nóng cải thiện quan hệ với Trung Quốc, đoàn ta đã hành động
một cách vô nguyên tắc, tưởng rằng thỏa thuận như thế sẽ được lòng Bắc
Kinh nhưng trái lại thỏa thuận Thành Đô đã làm chậm việc giải quyết vấn
đề Campuchia và do đó làm việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc,
uy tín quốc tế của ta bị hoen ố.”
Ông Cơ còn vạch trần “giấc mơ” hão huyền của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh
mong được hợp tác với Trung Cộng để bảo vệ Chủ nghĩa xã hội, sau khi
khối Liên bang Sô viết tan rã: “Việc ta đề nghị hợp tác với Trung
Quốc bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc Mỹ, thực hiện “ giải pháp Đỏ ”
ở Campuchia là không phù hợp với Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị mà còn
gây khó khăn với ta trong việc đa dạng hóa quan hệ với các đối tượng
khác như Mỹ, phương Tây, ASEAN, và tác động không thuận lợi đến quan hệ
giữa ta và đồng minh, nhất là quan hệ với Liên Xô và Campuchia.
Trung Quốc một mặt bác bỏ những đề nghị đó của ta, nhưng mặt khác lại
dùng ngay những đề nghị đó chơi xấu ta với các nước khác nhằm tiếp tục
cô lập ta, gây sức ép với ta và Campuchia.”
Về chuyện này, ông Trần Quang Cơ còn bổ sung thêm phát biểu của Ngoại
trưởng Nguyễn Cơ Thạch tại phiên họp kiểm điểm của Bộ Chính trị, sau Hội
nghị Thành Đô: “Liên Xô, Anh, Pháp, Nhật, Mỹ đều cho ta biết là
Trung Quốc đã thông báo cho họ đầy đủ về Thỏa thuận Thành Đô và nói với
họ là lãnh đạo Việt Nam không đáng tin cậy. Trung Quốc đã sử dụng Thành
Đô để phá quan hệ của ta với các nước và chia rẽ nội bộ ta...”
Ông Võ Văn Kiệt bổ túc thêm: “Trong thâm tâm tôi, tôi không đồng ý có
anh Tô (Phạm Văn Đồng) trong đoàn đi Thành Đô. Nếu có gặp anh Đặng
(Đặng Tiểu Bình, người thực sự nắm quyền ở Trung Cộng thời gian này) thì
anh Tô đi là đúng. Tôi nói thẳng là tôi xót xa khi biết anh Tô đi cùng
anh Linh và anh Mười chỉ để gặp Giang và Lý, không có Đặng. Mình bị nó
lừa nhiều cái quá. Tôi nghĩ Trung Quốc chuyên là cạm bẫy.”
Hồi ký của nguyên Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ kết luận: “Ta
đã tự tạo ra ảo tưởng là Trung Quốc sẽ giương cao ngọn cờ CNXH, thay thế
cho Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và chủ nghĩa
xã hội thế giới, chống lại hiểm họa “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa
đế quốc do Mỹ đứng đầu. Tư tưởng đó đã dẫn đến sai lầm Thành Đô cũng như
sai lầm “ giải pháp Đỏ ”.
Ngoài những việc bất lợi về mặt ngoại giao cho Việt Nam của Hội nghị
Thành Đô do ông Trần Quang Cơ tiết lộ, còn có Văn kiện chính trị quan
trọng hơn được gọi là “Kỷ yếu của hội nghị” do chính Lý Bằng soạn
để cho hai Tổng Bí thư và Thủ tướng hai nước cùng ký nhưng không được
ông Cơ viết ra, có thể ông không được biết hay biết mà bị cấm.
Hai ông Linh và Đồng đã qua đời nên bây giờ chỉ còn lại ông Đỗ Mười là người biết rõ đầu đuôi câu chuyện ở Thành Đô, nhất là hai bên đã đồng ý với nhau và cam kết với nhau những gì trong “Kỷ yếu hội nghị” 1990.
Cho đến nay, 24 năm sau Hội nghị Thành Đô, cả hai nước Việt-Trung đều kín miệng về nội dung “Kỷ yếu hội nghị”,
nhưng theo tiết lộ của Cụ Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Đại sứ
của CSVN tại Bắc Kinh từ 1974 đến 1987 thì phía Trung Cộng đã buộc Việt
Nam không được nhắc đến 2 vấn đề gai góc có lợi cho Trung Cộng nhưng vô
cùng tai hại và hiểm độc đối với Việt Nam, đó là: 1) Chuyện Hoàng Sa đã bị Trung Cộng chiếm của Việt Nam từ tháng 1/1974 và, 2) Cuộc chiến xâm lược của 600,000 quân Trung Cộng vào 6 tỉnh biên giới Việt Nam năm 1979.
Riêng chuyện quân Trung Cộng đánh chiếm đảo Gạc Ma và 7 bãi đá ngầm của
Việt Nam trong quần đảo Trường Sa năm 1988 dưới thời Tổng Bí thư Nguyễn
Văn Linh và Thủ tướng Đỗ Mười thì cho đến nay, Việt Nam không dám đánh
đuổi quân xâm lược mà còn đang “sống chung hòa bình” ở đó như không có
chuyện gì xảy ra, dù rằng 64 lính của quân đội Việt Nam đã bị quân Trung
Cộng giết chết trong cuộc chiến 1988.
Bây giờ thì lịch sử Biển Đông đã rẽ sang khúc quanh mới có lợi cho Trung
Cộng khi Bắc Kinh “tự do” đặt giàn khoan tìm kiếm dầu Hải Dương 981 vào
thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam từ ngày 02/05/2014.
Trung Cộng cũng đang có kế họach xây dựng một “căn cứ hải-không quân”
nổi ở Trường Sa để xác nhận chủ quyền và khống chế Việt Nam và các nước
có tranh chấp biển đảo với Bắc Kinh.
Như vậy, nếu ông Đỗ Mười còn là người Việt Nam yêu nước và không muốn
tên mình bị lịch sử bôi đen thì hãy can đảm xác quyết với nhân dân có
hay không chuyện ông đã cùng với ông Nguyễn Văn Linh và Phạm Văn Đồng
cam kết với hai lãnh đạo Trung Cộng, Tổng Bí thư đảng, Chủ tịch nước
Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng tại Hội nghị Thành Đô (Tứ Xuyên)
năm 1990 rằng Việt Nam sẽ “không bao giờ nhắc đến chuyện Hoàng Sa 1974
và cuộc chiến tranh biên giới 1979”?
Trong khi chờ đợi câu trả lời, và có thể chẳng bao giờ có, của ông thì
ông Đỗ Mười và tất cả lãnh đạo của đảng CSVN cần đọc lại đoạn dưới đây
trong Hồi ký lịch sử của ông Trần Quang Cơ:
“Ngày 5-10/11/91, sau khi Hiệp định về Campuchia được ký kết ở Paris,
Tổng bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt thăm chính thức Cộng hòa
Nhân dân Trung Hoa để hoàn thành việc bình thường hóa mối quan hệ bị
trục trặc lớn từ tháng 2/79.
Nhưng trong khi lãnh đạo ta ôm kỳ vọng cùng Trung Quốc “bảo vệ chủ
nghĩa xã hội chống đế quốc” thì họ đã xác định quan hệ với ta là “thân
nhi bất cận, sơ nhi bất viễn, tranh nhi bất đầu” (thân nhưng không gần,
sơ nhưng không xa, đấu tranh nhưng không đánh nhau).
Trung Quốc nói thế song luôn luôn lấy thế nước lớn để lấn chiếm lãnh
thổ lãnh hải ta, và hiểm độc nhất là không ngừng tác động vào nội bộ
ta.”
Bộ ba Phiêu-Mạnh-Trọng
Trong trường hợp của nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu thì ông chỉ cần trả lời với nhân dân xem ông
có nhượng đất và nhượng biển cho Trung Cộng khi ký hai Hiệp định “Phân
định biên giới trên đất liền” và “Phân định vịnh Bắc Bộ” trong hai năm
1999 và năm 2000?
Mục Nam Quan đã mất, 2/3 Thác Bản Giốc đẹp nhất và một phần Vịnh Bắc Bộ đã thuộc về Trung Cộng có phải là bằng chứng không?
Ông Phiêu cũng cần cho dân biết có bao
nhiêu cây số vuông, kể cả điểm cao 1509, hay núi Lão Sơn thuộc tỉnh Hà
Giang (tên cũ là Hà Tuyên) đã nằm gọn trong tay Trung Cộng sau cuộc chiến Biên giới thứ hai từ tháng 4 năm 1984 đến tận năm 1990?
Đối với nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh thì điều quan trọng nhất là tại sao ông đã “tự ý ký thỏa hiệp để cho Trung Cộng vào khai thác Bauxite ở vùng đất chiến lược Tây Nguyên” để bây giờ chịu thua lỗ không gỡ ra được mà còn nguy hiểm cho an ninh quốc gia?
Ông Mạnh cũng cần phải trả lời thắc mắc tại
sao ông đã để cho 90% dự án kinh tế chiến lược lọt vào các Công ty
Trung Cộng và không ngăn cản các địa phương cho người Tầu thuê đất trồng
rừng và xây dựng cơ sở dọc theo duyên hải trong hàng chục năm khi ông tại chức trong hai khóa đảng từ 2001 đến 2011?
Đối với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, người kế vị ông Mạnh từ tháng 01/2011 cũng phải
giải thích với lịch sử tại sao ông đã ra lệnh cho Công an ngăn cản, bắt
giam và đàn áp thô bạo những người dân biểu tình chống Trung Cộng xâm chiếm biển đảo và giết hại ngư dân Việt Nam ở Biển Đông từ năm 2011 đến nay.
Ông Trọng cũng có trách nhiệm đã để cho Thương lái Trung Cộng tự do
hoành hành và phá hoại kinh tế Việt Nam; để cho hàng hóa Trung Cộng tự
do nhập lậu vào thị trường để giết các doanh nghiệp trong nước và để cho
các Công ty Trung Cộng tự do đem hàng nghìn lao động phổ thông vào Việt
Nam cướp việc của dân Việt?
Ông cũng cần cho dân biết tại sao Nhà
nước đã dành nhiều đặc quyền, đặc lợi cho Công ty Trung Cộng trúng thầu
các dự án kinh tế quan trọng; cho các doanh nghiệp Tầu Bắc Kinh thuê đất
từ 50 đến 70 năm tại các địa điểm chiến lược như Vũng Áng (Hà Tĩnh) và
Cửa Việt (Quảng Trị)?
Song song với kế họach “mở rộng lãnh thổ cho Tầu vào nhà”, ông Tổng Bí
thư đảng CSVN còn để cho hàng chục nghìn dân Tầu nhập cư bất hợp pháp và
lập các khu phố, vùng dân cư xen kẽ với xóm làng và thành phố Việt Nam
từ Nam ra Bắc?
Ngoài ra, trong cương vị “lãnh đạo toàn diện nhà nước và xã hội”, ông
còn cấm không cho dân và cựu chiến binh tổ chức truy điệu và tưởng niệm
những chiến sỹ và đồng bào Việt Nam đã hy sinh trong 3 cuộc chiến chống
quân Trung Cộng xâm lược tiêu biểu nhất trong Thế kỷ 20 tại Hoàng Sa
(1974), Cuộc chiến biên giới 1979 và trận Trường Sa năm 1988?
Rồi ông cũng hành động đầy nghi ngờ khi bác yêu cầu của Quốc hội muốn
Chính phủ báo cáo về tình hình Biển Đông. Giữa lúc Trung Cộng tuyên bố
thành lập Thành phố Tam Sa bao gồm Hoàng Sa, Trung Sa (bãi cạn
Scarborough có tranh chấp với Phi Luật Tân) và Trường Sa năm 2012 và
nhiều ngư dân Việt Nam bị lính Trung Cộng giả dạng Hải giám, Kiểm ngư
đánh đập tàn nhẫn, thuyền cá bị tấn công và cướp đi tài sản và ngư cụ
thì ông Trọng bảo “tình hình Biển Đông không có gì mới”!
Lê Đức Anh
Cuối cùng là Đại tướng Lê Đức Anh cũng có bổn phận phải bạch hóa “hồ sơ
thân Trung Cộng” của ông khi giữ Bộ trưởng Quốc Phòng trong giai đoạn
16/02/1987 – 10 tháng 08/1991 và Chủ tịch Nước từ 23/09/ đến 24/09/ năm 1997.
Hồi ký “Hồi ức và Suy nghĩ” của nguyên Thứ trưởng Ngoại giao Trần
Quang Cơ đã nói rất rõ vai trò “khuynh loát” và “đi đêm” với các sứ giả
Trung Cộng của ông khi Việt Nam bị Trung Cộng ép tham gia vào “giải pháp Đỏ” để tìm giải pháp chính trị cho Campuchea.
“Giải pháp Đỏ” là kế hoạch chính trị của Trung Cộng nhằm
tạo thế “liên hiệp bình đẳng” cho phe Khmer đỏ (thân Bắc Kinh) tại bàn
hội nghị với phe Heng Samrin-Husen (thân Việt Nam) để thành lập Hội đồng
Quốc gia Tối cao Campuchia (Supreme National Council, SNC), sau khi
Việt Nam hoàn tất rút quân khỏi chiến trường Campuchea năm 1989.
Ông Lê Đức Anh đã sát cánh với Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Chủ tịch
Hội đồng Bộ Trưởng Đỗ Mười làm theo ý muốn của Trung Cộng để, một mặt
bảo đảm thế chính trị cho Khmer đỏ sau khi đã “bằng lòng không lập lại
vấn đề “tội diệt chủng giết trên 1 triệu người Campuchea” của Khmer đỏ
và mặt khác giúp Trung Cộng duy trì “ảnh hưởng của họ ở Campuchea”.
Tuy nhiên, theo quan điểm của Bộ Ngoại giao Việt Nam lúc đó thì giải
pháp này bất lợi cho cả Việt Nam lẫn phe Heng Sanrin-Hun Sen nên Bộ
Trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch và Thứ trưởng Ngoại giao Trần
Quang Cơ quyết liệt chống đối nhưng bất thành vì có bàn tay của Lê Đức
Anh thúc sau lưng hai ông Linh và Mười.
Vì lập trường “chống giải pháp Đỏ” của Trung Cộng mà Ngoại trượng Nguyễn
Cơ Thạch không được tham dự Hội nghị Thành Đô. Và cũng tại Thành Đô,
phía Trung Cộng đã công khai yêu cầu phía Việt Nam loại ông Thạch ra
khỏi Bộ Chính trị và Bộ Ngoại giao, theo nhiều bài viết không hề bị cải
chính của một số cựu viên chức cao cấp đảng, trong đó có Cụ nguyên đại
sứ Nguyễn Trọng Vĩnh.
Quả nhiên tại Đại hội đảng kỳ VII tháng 6/1991, ông Nguyễn Cơ Thạch đã
bị phe Nguyễn Văn Linh-Đỗ Mười-Lê Đức Anh loại ra khỏi Bộ Chính trị và
mất luôn chức Bộ trưởng Ngoại giao, theo yêu cầu của Trung Cộng!
Sau khi thay Nguyễn Văn Linh làm Tổng Bí thư, ông Đỗ Mười đã mau mắn
chứng minh sự “tuân phục Bắc Kinh” của mình, theo Hồi ký của ông Trần
Quang Cơ ghi lại: “Ngày 9/7/91, vừa được bầu làm Tổng bí thư, Đỗ Mười
gặp đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy tỏ ý muốn cử Đặc phái viên đi Bắc
Kinh để thông báo về Đại hội VII và trao đổi về quan hệ giữa hai nước.
Trước đó ít ngày - ngày 11/6/91 - Bộ Ngoại giao ta cũng đã gặp đại sứ
Trung Quốc đề nghị mở lại đàm phán cấp Thứ trưởng Ngoại giao hai nước.
Ngày 17/7, Trung Quốc trả lời đồng ý gặp cấp Thứ trưởng ở Bắc Kinh từ 5/8 đến 10/8.
Hai ngày sau, Trung Quốc trả lời đồng ý việc ta cử Đặc phái viên gặp
lãnh đạo Trung Quốc, nhưng lại sắp xếp cuộc gặp Đặc phái viên Đảng trước
cuộc gặp Thứ trưởng Ngoại giao...
Việc làm trên cho thấy một mặt Trung Quốc muốn gặp ta ở cả hai cấp,
mặt khác muốn dùng những thỏa thuận với cấp Đặc phái viên để ép ta trong
cuộc gặp cấp Thứ trưởng Ngoại giao. Để đề cao công việc này, phía Trung
Quốc đã đề nghị thay chữ “Đặc phái viên” thành “đoàn Đại diện đặc biệt
của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam” tuy Đoàn chỉ có 2
thành viên là Lê Đức Anh và Hồng Hà.
Hồng Hà lúc đó là Bí thư Trung ương, phụ trách đối ngoại. Phụ tá đoàn
là Trịnh Ngọc Thái, phó ban Đối ngoại của Đảng. Tôi nhớ khi đó Bộ Ngoại
giao có đề nghị có một Thứ trưởng Ngoại giao là ủy viên Trung ương đi
với đoàn để nắm tình hình vận dụng vào cuộc đàm phán cấp Thứ trưởng
Ngoại giao ngay sau đó, nhưng đề nghị không được chấp nhận. Đại sứ Việt
Nam tại Trung Quốc Đặng Nghiêm Hoành cũng không được tham dự các hoạt
động của đoàn, trong khi đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, Trương Đức Duy
lại có mặt trong mọi hoạt động chính thức của đoàn tại Trung Quốc.”
Thế rồi chuyện “hạ mình xin lỗi” Trung Cộng của Lê Đức Anh đã diễn ra, theo ông Trần Quang Cơ kể tiếp: “Ngày
28/7/91, đoàn đã đến Bắc Kinh và trong mấy ngày sau đó đã gặp Kiều
Thạch, Lý Bằng, Giang Trạch Dân thông báo khá chi tiết về Đại hội VII.
Thông báo cả những ý kiến khác nhau quá trình thảo luận, tranh luận và
việc biểu quyết những vấn đề quan trọng trong Đại hội, và cơ cấu nhân sự
của Ban Chấp hành Trung ương mới..., Giang Trạch Dân và Lý Bằng tỏ ra
quan tâm đến việc Việt Nam sẽ có Ngoại trưởng mới (thay Nguyễn Cơ Thạch)
trong kỳ họp Quốc hội tháng 8/91, Giang tỏ ý hài lòng: “Từ đáy lòng
mình, tôi hết sức hoan nghênh kết quả Đại hội VII của các đồng chí Việt
Nam”.
Đặc biệt mặc dù chuyến đi có mục đích gặp lãnh đạo Trung Quốc thông báo
về Đại hội VII và bàn quan hệ hai nước, nhưng Lê Đức Anh và Hồng Hà đã
chủ động xin gặp Từ Đôn Tín tới 2 lần, chiều 29/7 và tối 31/7 để tạ lỗi
(?).
Mở đầu cuộc gặp chiều 29/7, Lê Đức Anh đã nói:
“Năm ngoái khi đồng chí Từ Đôn Tín sang Việt Nam đã xảy ra một số
trục trặc không hay lắm do phía chúng tôi gây ra (!) Đồng chí Nguyễn Văn
Linh và chúng tôi khi biết việc này, chúng tôi không vui lắm. Hôm nay
gặp đồng chí, tôi nói tình cảm của đồng chí Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và
của tôi... Tình hình trục trặc trong quan hệ là một việc đau lòng, nhất
là giữa những người cộng sản. Khúc nhạc cũ đã qua rồi, mong các đồng chí
yên tâm”.
Chuyện “không hay ho lắm” hay “là một việc đau lòng” chính là cuộc va
chạm bằng ngôn ngữ gay gắt mà trước khi bị mất chức, Ngoại trưởng Nguyễn
Cơ Thạch đã “dạy cho Đặc phái viên, Trưởng đoàn đàm phán Từ Đôn Chính một bài học” khi họ Từ sang Hà Nội ép ông Thạch chấp nhận “giải pháp Đỏ” ngồi lên đầu đồng minh Heng Samrin-Hunsen.
Như vậy thì chuyện lãnh đạo CSVN nào thân Tầu, ai qụy lụy Tầu và ai sẵn
sàng thỏa hiệp với Bắc Kinh để được tại chức an thân đã rõ chưa, hay cần
Trung Cộng đặt thêm vài chục giàn khoan cỡ HD-981 ở Trường Sa và Vịnh
Bắc Bộ, hay cạnh đảo Lý Sơn, hoặc gần đảo Phú Quốc thì đảng CSVN mới
“sáng mắt sáng lòng”?
Và nếu tất cả các ông Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú
Trọng và Lê Đức Anh không trả lời được những thắc mắc trong bài này thì
liệu Việt Nam có cần một Cuộc Cách Mạng để giữ nước?
(06/014)








0 comments:
Post a Comment