Wednesday, April 18, 2018

Người Rơm Việt Nam và kỹ nghệ trồng cỏ tại Anh quốc

Hoàng Tất Thắng (Danlambao) - Ngày 10/4/2018, hai người đàn ông di dân lậu Việt Nam, 46 tuổi và 54 tuổi, bị tòa án hình sự khu vực Dublin - Ireland, tuyên án hai năm rưỡi tù giam cho mỗi người, vì đã bị bắt từ ngày 10/5/2017 và về tội đã làm việc trong một căn nhà kho đã cải biến làm nơi trồng cần sa, với khối lượng cây trồng quy thành tiền có tổng giá trị lên đến gần 1,8 triệu Euro (tức hơn 2,2 triệu USD). Tuy vậy, theo quan tòa, về mặt đạo đức cả hai di dân Việt không đáng để bị trách cứ nhiều, bởi họ đều là những kẻ tuyệt vọng, đã cùng đường, không còn bất cứ quyền gì và bị biến thành người nô lệ lao động vô danh tiểu tốt - chỉ danh phổ biến dùng tại Anh cho hạng người này là người Rơm - bởi chính các đồng hương của họ.

Đây không phải là sự việc mới mẽ ở Ireland, hay nói rộng ra trên toàn lãnh thổ Liên hiệp vương quốc Anh và bắc Ireland (United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland). Hiện tượng một số khá đông di dân lậu đến từ Việt Nam và tệ nạn trồng cần sa đã được phát giác và truyền thông Anh Quốc nói tới từ những năm 90 trong cuối thế kỷ trước, đã nhanh chóng phát triển từ năm 2001 trở đi và hiện nay theo ước tính của các giới chức trách nhiệm Anh Quốc các băng đảng tội phạm người Việt đã kiểm soát tới 3/4 "trại trồng cần sa", với thu nhập hàng năm từ vài trăm triệu, đến cả tỷ bảng Anh. 

Lợi nhuận khổng lồ, trong khi hệ thống luật pháp sở tại chỉ quy định mức trừng phạt quá nhẹ đối với tội trồng cần sa. Trong các năm 1978 tới năm 2004, luật định cần sa thuộc nhóm B trong bảng các chất gây nghiện, người sở hữu, sử dụng, hay sản xuất nếu bị bắt có thể bị phạt vài năm tù giam. Từ năm 2004 trở đi, cần sa được xếp vào nhóm C, nên các người có liên quan kể trên, với số lượng sở hữu nhỏ, hoặc trồng cần sa không vì mục đích thương mại thì chỉ bị phạt vi cảnh, hay tù treo. Đây đã là cơ hội tốt cho các băng đảng tội phạm Việt Nam ùn ùn đưa di dân lậu, tức người rơm qua Anh trồng cần sa, tức trồng cỏ, bắt đầu vào khoảng năm 2001-2002 và phát triển rất mạnh ngay những năm sau đó. Đồng thời cũng đã có cả số người rơm Việt Nam không ra đi từ Việt Nam, mà là người Việt bị bỏ rơi tại Tiệp Khắc, Ba Lan, Đức cũng tràn sang Anh từ sau năm 2007, với đích đến là các trại trồng cỏ do người Việt ở Anh làm chủ. 

Người rơm Việt Nam và tệ nạn trồng cỏ đã trở thành quốc nạn ở Anh Quốc cũng như đã là thảm họa trước đó tại Canada, gần đây cho Úc và một số quốc gia châu Âu khác như Hòa Lan, Đức, Tiệp Khắc, khiến từ sau năm 2007 chính phủ Anh phải nâng cần sa trở lại nhóm B trong danh sách gây nghiện, để có cơ sở pháp lý đối phó với những kẻ trồng và chế biến cần sa. Theo đó bản án cụ thể cho tội làm vườn (trồng và chăm sóc cây cần sa) từ 18 tháng đến 3 năm tù giam, thiết kế kỹ thuật ăn cắp điện lưới quốc gia, hay sở hữu vài trại trồng cần sa, hoặc can dự vào một số việc phi pháp có liên quan bị tù từ 4 đến 6 năm, ông chủ lớn (trùm đường dây trồng và phân phối) án từ 6 năm trở lên, cao nhất là 14 năm tù giam. 

Những di dân Việt Nam đầu tiên đến Anh Quốc, thuộc lớp rời khỏi đất nước trong hai thập niên 70 đến 80, tức từ sau khi chính phủ miền nam Việt Nam bị sụp đổ năm 1975, đến cuối những năm 80. Họ đa số đều ra đi từ miền bắc Việt Nam, nhất là ở Hải Phòng, Quảng Ninh... lợi dụng phong trào vượt biên tỵ nạn cộng sản ở miền nam đang bùng phát, cũng vượt biển qua Hongkong, Macao, để tỵ nạn kinh tế, hay theo các đợt vượt biên bán chính thức trong tư cách danh nghĩa nạn kiều, tức những người Việt gốc Hoa, chạy trốn các sự đàn áp, bất công, những lần bị chế độ cộng sản Hanoi tước đoạt tài sản, của cải, vật chất, được cộng đồng thế giới bao dung và biết tới dưới tên gọi thuyền nhân (boat people). 

Từ năm 1979, một số thuyền nhân trong các trại tỵ nạn Hongkong, Macao, không được đi Hoa Kỳ, Canada định cư vì phạm tội, phạm pháp trong thời gian ở trại tỵ nạn, được chấp nhận cho sang Anh tái định cư và lên đến tổng cộng 22.577 người khi kết thúc chương trình năm 1988. Đặc điểm xuất phát và tính chất thành phần khiến số di dân này có đến 75% có nguồn gốc sắc tộc Trung Hoa, hoặc được sinh đẻ tại miền bắc Việt Nam. Cũng do đó, cộng đồng người Việt quốc gia tỵ nạn cộng sản ở Anh Quốc rất nhỏ và tầm ảnh hưởng rất hạn chế. 

Từ sau năm 1990 trở đi, các nhu cầu đoàn tụ gia đình và đòi hỏi bức thiết cần phải có thêm nhân lực cho nghề làm móng tay chân (nail), nhà hàng ăn uống và các trại trồng cần sa đang có chiều hướng phát triển mạnh trong nhóm di dân người Việt ở Anh Quốc, lồng trong bối cảnh Liên Sô và hệ thống các quốc gia cộng sản Đông Âu bị sụp đổ, buộc nhà cầm quyền Hanoi phải đổi mới để tồn tại, mở rộng quan hệ ra những nước tư bản "giảy chết", nới lỏng việc tự do đi lại, xuất cảnh thăm thân nhân, du lịch, du học... cho người dân, khiến nhiều người Việt ở Anh mau chóng trở thành đầu cầu cho đợt di dân lần thứ hai, hợp pháp cũng như bất hợp pháp. 

Do đó, những người rơm tại Anh Quốc đều thuộc đợt di dân bất hợp pháp lần thứ hai của người Việt, có liên hệ ít nhiều với số người Việt đã định cư ở Anh khởi diển từ đầu những năm 90 và sau đó bùng phát mạnh mẽ hơn nhân khi các chế độ cộng sản Lienxo, Đông Âu sụp đổ. 

Người rơm đa số là người miền bắc Việt Nam, cư dân từ Quảng Bình trở ra, ra đi với lý do thuần túy kinh tế, hy vọng sẽ kiếm được công ăn, việc làm thuận lợi có thu nhập cao nơi xứ người, hầu giúp đỡ thân nhân ruột thịt thoát khỏi cảnh nghèo khó tại quê hương, bản quán. Họ bị quyến rũ bởi các hứa hẹn dễ dàng đổi đời trên các vùng đất hứa xa xôi - công việc đơn giản, không đòi hỏi ngành, nghề chuyên môn, lương hậu cả 4, đến 5 ngàn euro mỗi tháng - nên hoàn cảnh thực tế, bản chất việc di cư của người rơm có tính chất liều lỉnh và bất chấp hậu quả. Bên cạnh đó cũng do tính chất đặc thù của xuất phát điểm, nên gần như đối nghịch lại cộng đồng người Việt quốc gia tại Anh, hoàn toàn không có liên can gì tới vấn đề người rơm và kỹ nghệ trồng cỏ tại đây. 

Người rơm đi theo những đường dây xuất cảnh lậu, chồng chéo bởi nhiều thế lực mờ ám, ngay từ trong nước ra đến ngoại quốc. 

Trong nước là những chân rết môi giới trung gian, thực hiệc các hoạt động móc nối, giới thiệu và các công ty có vỏ bọc "xuất khẩu lao động" trá hình, đảm trách giai đoạn gom người và xuất phát các chuyến đi. 

Ngoài nước - chủ yếu là tại Nga và các quốc gia cộng sản Đông Âu cũ, do những người Việt đồng hương với con mồi, nhưng "có số má", phụ trách đón và tổ chức chuyển tiếp đến nơi tiêu thụ. 

Đây là những thành phần băng đảng mafia người Việt, hoạt động buôn lậu, trấn lột, cướp bóc, tống tiền và buôn người, hình thành và hoành hành trong lòng các cộng đồng người Việt bị bỏ rơi, tức tập thể người Việt miền bắc, được Hanoi đưa đi "lao động hợp tác" tại Liên Sô, Đông Âu từ thập niên 70, 80, đã trụ lại sau khi hệ thống các quốc gia cộng sản tan rã, tản mác, trà trộn khắp nơi tại châu Âu. Các lưu dân này hổn độn, mù mờ giữa hợp pháp và bất hợp pháp, bất định trong khi chờ tìm ra giải pháp giải quyết thỏa đáng của chính quyền bản xứ và bấp bênh trước các chính sách nước đôi, thủ lợi của Hanoi. May mắn bất ngờ như kẻ nhặt được của rơi, Hanoi nhanh chóng tạo ảnh hưởng chi phối lên đám lưu dân khốn khổ thông qua cái dù khống chế lẫn che chở, có qua có lại, của các tòa đại sứ cộng sản Việt Nam ở Nga, qua Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung, Đức, Pháp, Anh... và trên tất cả, không thể nào loại trừ việc chắc chắn phải có sự ngấm ngầm điều hành, cộng tác (hay bảo kê) của bộ công an cộng sản Việt Nam, bởi lợi nhuận và chủ trương xâm nhập gầy dựng những con ngựa thành Troia, nhằm lũng đoạn, phá thối các cộng đồng người Việt quốc gia tỵ nạn cộng sản ở châu Âu và phục vụ cho những lợi ích chiến lược của Hanoi. 

Tất cả các thế lực đen này đã phối hợp hoạt động, biến các con mồi nạn nhân của nó, trở thành một lớp di dân khốn khổ mới (nouveaux boat people), không được nơi nào thừa nhận và bị coi là người rơm (strawman), bởi dù họ tuy vẫn là một dạng vật chất cụ thể theo nhân chủng học, nhưng không có vốn liếng, không nghề nghiệp, không ngoại ngữ, cả một mảnh giấy tùy thân, một tấm hình cá nhân nhỏ cũng không có, coi như hoàn toàn vô tang, vô tích giữa cộng đồng xã hội của con người bình thường. 

Tùy theo khả năng mê hoặc, dụ dổ, tính khả tín của các đầu mối, cũng như tùy vào cường độ khao khát đổi đời của con mồi, những người rơm luôn khởi đầu cuộc đời chông gai của họ bằng một số tiền luôn ngoài tầm của họ, từ 20.000 đến 50.000 USD phải đóng cho đường dây, tùy từng trường hợp mỗi một người. Do đó họ đều đã phải vay mượn rất nhiều nơi, cầm cố ruộng vườn, thế chấp nhà cửa của mình, của cả người thân của mình cho ngân hàng để có tiền ra đi. Tất cả liều chết ra đi trong một niềm tin tuyệt đối, chỉ cần sau 2-3 tháng làm việc cật lực tại nơi đến (trong phạm vi bài viết này là ở Anh Quốc), thì họ sẽ chuộc lại được các món gì đã cầm cố, thế chấp, sẽ trả được các món nợ đã vay mượn và tiếp theo là có được một cơ hội đổi đời to lớn, tốt đẹp hơn, không những cho họ mà luôn cả gia đình của họ đang hy vọng và mòn mỏi trông đợi tại quê nhà. 

Các tuyến đường đưa người rơm xuất cảnh được thiết lập rất chặt chẻ, với nhiều lựa chọn tùy theo khả năng tài chánh của các nạn nhân. 

Đơn giản và rẻ tiền nhất là… Một đường dây ở Việt Nam buộc họ phải trả từ 200 đến 300USD để được chở qua Tàu bằng xe lửa, rồi từ đó họ phải tự túc. Họ tiếp tục di chuyển bằng đủ mọi phương tiện, sống bờ, sống bụi bằng đủ mọi cách để qua Nga, xuyên qua các nước Đông Âu, Đức, rồi cuối cùng đến Pháp mà họ cho là trạm áp chót, vì mục tiêu khi còn ở Việt Nam phải là Anh Quốc, thiên đường của tỵ nạn theo họ. Vì vậy số phận đã đưa đẩy họ tới vùng sình lầy Calais này, bờ biển biên giới với nước Anh… (Phương Vũ - Võ Tam Anh, Người Việt khốn khổ tại Paris, 30/11/2009). Dù hiếm hoi và rất khó thành công, nhưng một trong những cách vượt biển Manche giữa Anh và Pháp, mà người tỵ nạn gốc Á châu, Trung Á, Trung Đông và Đông Âu nhiều lần thử thời vận là bất chấp nguy hiểm tìm cách đi bộ trái phép trong lòng đường hầm Channel Tunnel dài gần 51km dưới đáy biển, nối liền vùng Coquelles – Calais ở bắc Pháp, với vùng Folkestone – Kent tại vùng nam Anh thuộc eo biển Dover, để xâm nhập vào đất Anh, khiến Pháp phải đóng cửa trại tỵ nạn Sangatte ở gần đó năm 2002. 

Cao cấp, đắt tiền và thỉnh thoảng xảy ra là những trường hợp đi theo đoàn của nhân viên tòa đại sứ Hanoi, đi đi, về về giữa Việt Nam và các quốc gia nhiệm sở. Mang sổ thông hành tên giả, có người sứ quán đón và đưa từ nơi đi, tới nơi đến, nhất nhất làm theo sự hướng dẩn của họ, nhập cảnh và gặp người thân ra đón xong, thì nộp nốt số tiền còn thiếu theo thỏa thuận và hai bên cùng biến mất trên đất Ireland, Hòa Lan, Đức, hoặc Anh (Daniel Silverstone, Trafficked to grow cannabis: Việt Namese migrants are being exploited in Britain, The Conversation, 11/9/2017, Lâm hoàng Mạnh, Chuyện người Rơm, Talawas, 3/10/2010). 

Thông thường nhất là chuyến khởi đầu bằng đường hàng không qua Nga, hay các nước cộng sản cũ và bởi visa nhập cảnh được cấp bởi các tòa đại sứ Nga, Ba Lan, Tiệp Khắc, Ukraine... mà chỉ có trời mới biết bằng cách nào để có được. Họ được chuyển tiếp nhiều nơi ở Đông Âu, trước khi xâm nhập qua Đức bằng cách đi bộ, hay trên những chuyến xe hơi băng rừng vượt biên giới, với nhiều hạng người thuộc những quốc tịch khác nhau và sau cùng lưu trú tạm bợ, vật vờ, dài hạn trong các vùng rừng phía bắc nước Pháp, chờ có cơ hội chui tiếp vào những thùng chứa hàng trên xe tải, vượt biển Manche để vào đất Anh. 

...Trong cuộc hành trình dài bằng phần nữa vòng trái đất, họ thường bám trên các xe vận tải hạng nặng xuyên châu Âu. Trốn trong những thùng chứa hàng trong xe, họ phải ép xác, có khi chịu đựng không ăn uống trong nhiều ngày. Khám xét những xe vận tải đầy ắp hàng, đi từ nước này qua nước khác, làm cho cảnh sát biên phòng phải điên đầu, vì không phải chuyện đơn giản lúc nào cũng làm được. Năm ngoái quan thuế Pháp đã khám phá được mười mấy xác Á châu chết vì ngạt ở trong xe hàng, không biết có phải Việt Nam không?... (Phương Vũ, Võ Tam Anh, bđd). 

Đây là một chặng đường gian nan và một thời gian sống chẳng khác gì dưới địa ngục của người rơm. 

Phần lớn phụ nữ và một số trẻ em đã bị lạm dụng tình dục. Họ buộc phải đóng "thuế" dọc đường bằng thân xác cho cả bọn dẩn đường, lẫn những gã tài xế, Việt có, gốc Trung Đông, Nam Á, Đông Âu có, vì nếu không như thế họ sẽ bị bỏ rơi bơ vơ, không được tiếp tục đi theo đoàn xuyên qua nhiều nước châu Âu. 

Trong vùng phía bắc nước Pháp, cụ thể là các khu rừng trong vùng Grande Synthe, cách Calais khoảng hơn 30km, bị các nhóm di dân có nhiều quốc tịch khác nhau, kể cả người rơm Việt Nam chiếm ngụ. Họ phải chịu đựng cuộc sống lều trại tạm bợ, nhếch nhác, chung đụng hổn tạp, chỉ còn dựa vào sự trợ giúp nhân đạo của những tổ chức từ thiện tại địa phương để sống qua ngày. Nhiều phụ nữ lại bị rơi vào hoàn cảnh bị cưởng bức, săn tìm, tấn công tình dục của nhiều sắc dân di dân khác và thuộc đủ hạng du thủ du thực quốc tế. 

Ban ngày, mọi người đều không dám ra khỏi rừng, họ phải trốn tránh các đợt truy quét giải tỏa, nhằm kết thúc nạn di dân lậu của cảnh sát Pháp. Thê thảm và nghịch lý hơn tất cả, mọi di dân người Việt rất sợ gặp các "quan chức" của tòa đại sứ Việt Nam cộng sản ở Pháp. Hanoi chẳng có bất kỳ một biện pháp giúp đỡ gì, ngoài việc hăm dọa, điều tra và toa rập với giới công quyền sở tại, để bắt giữ và hồi hương di dân, hầu lấy tiền trợ cấp của Paris, trong chương trình hợp tác giữa hai chính phủ Pháp-Việt, có mục đích giải quyết di dân lậu và vấn nạn gánh nặng xã hội cho nước Pháp. 

Ban đêm, thường có những toán 5-10 người đi bộ ra bến xe hàng, cách nơi trú ẩn khoảng vài ba cây số, dưới sự thông đồng giữa các đầu nậu người Việt và những anh chị bản địa, tổ chức cho "nhảy bãi", tức trốn vào các xe tải đang nghỉ chân qua đêm, hay dừng chờ phà vượt qua eo biển Dover (Strait of Dover, hay Pas de Calais), với hơn 40 chuyến phà mỗi ngày, nối hai bờ Anh-Pháp trong vùng biển Manche. 

Khi cảnh sát và quan thuế của Anh, Pháp siết chặt kiểm soát hai bờ tuyến phà vượt eo biển Dover, bằng cảnh khuyển và máy đo lượng khí CO2, để tìm biết trong xe có người hay không, số di dân nhập lậu qua ngã eo biển Dover mới suy giảm mạnh, chuyển về tập trung quanh cảng Ouistreham trong vùng Normandy, phía tây Calais khoảng gần 350km, với ba chuyến phà mỗi ngày chuyển hàng qua cảng Portsmouth của Anh Quốc. 

Nhiều người rơm đã chết ngạt trong thùng xe khi đi tìm đất hứa, cũng như có những người "nhảy bãi" đến 6-7 lần, nhưng cũng không thể thành công như mong muốn. 

Một số người rơm gặp may mắn do nhảy bãi thuận lợi, đi thoát, tìm cách liên lạc với người quen đến đón và tan biến vào khối người Việt tại Anh. Số xui rủi bị bắt, nhưng chỉ bị nhốt ở các trại tạm giam ít ngày, vài tháng cũng được thả ra. Phía Pháp biết rỏ đất Pháp chỉ là nơi tạm trú, khi phía Anh giao trả thì Pháp không nhận và người rơm thì hoàn toàn không có giấy tờ tùy thân, nên cũng rất khó để trả về lại Việt Nam. Báo cáo của cảnh sát ghi nhận có nhiều người rơm có quan hệ thân tộc, họ hàng với nhau, họ muốn sang Anh làm hầu bàn, đầu bếp trong nhà hàng, thợ làm móng, hay giữ trẻ, giúp việc nhà... trong khi thực tế rất nhiều người đã dấn thân vào con đường phạm tội như hoạt động cho mạng lưới trồng cần sa. 

Xâm nhập đất Anh từ nhiều ngã đường khác nhau và kéo dài trong nhiều năm, khiến các giới chức trách nhiệm trong chính phủ Anh cũng không thể biết rõ có bao nhiêu người Việt nhập cư trái phép đang sống tại Anh. Ước tính trong năm 2014 của viện thống kê quốc gia vương quốc Anh có khoảng 55.000 người Việt ở Anh, trong đó có 28.000 người sinh đẻ tại Việt Nam và khoảng 20.000 người là di dân lậu, không có giấy tờ hợp pháp và không rỏ nguồn gốc, với khoảng 60% tập trung sinh sống ở London. Theo điều tra của phóng viên BBC News là Nick Thorpe trong năm 2010, con số người Việt tại Anh lớn hơn, lên đến 30.000 di dân hợp pháp và 35.000 di dân bất hợp pháp. 

Kỹ nghệ trồng cần sa của người Việt tại Anh Quốc phát triển mạnh từ năm 2001 trở đi, bởi sự xuất hiện của các băng đảng tội phạm có tổ chức từ Việt Nam đến Anh. Thông qua một mô hình sản xuất, kinh doanh, có trình độ chuyên môn hóa cao, đáng tin cậy, đã được trui rèn, thử thách trong các bài học ở Vancouver, Canada và dể dàng thu lượm lợi tức khổng lồ trong một thời gian ngắn, các băng đảng Việt Nam thay vì lập các đồn điền trong vùng nông thôn, đã tập trung chuyển đổi các ngôi nhà thuê bình thường tại các khu dân cư bình dân, bận rộn, sang các hoạt động trồng cần sa bí mật ngay trong khu đô thị. Đa số các "trại trồng cỏ" tập trung ở ngoại thành London, Manchester do các nhóm di dân gốc Hải Phòng, Quảng Ninh kiểm soát, trong khi nhóm "bộ đội miền trung" gốc Nghệ An, Quảng Bình thống trị nghề trồng cỏ tại Birmingham. 

Nhà được thuê dưới tên giả, giấy tờ giả. Bên ngoài cũng chỉ như những căn nhà bình thường khu ngoại ô, ít có dấu hiệu cho cảnh sát, hay người dân chung quanh ngờ vực, hoặc lẫn lộn trong các khu nhà cho thuê thời vụ, người mướn chỉ thỉnh thoảng tới ở ngắn hạn và ít quan tâm đến láng giềng trong cộng đồng. Bên trong bị tháo dở trống rổng và che kín triệt để không cho ánh sáng lọt ra ngoài để trồng cây, giao cho một người rơm ở biệt lập chăm sóc. Ăn uống chủ bãi cung cấp theo định kỳ, hay theo yêu cầu bằng điện thoại và thu nhập được chia trên lợi tức thuần, theo tỷ lệ 7/3, chủ 7 phần, người làm công 3 phần. 

Thông thường quy mô một trại trồng cỏ trong nhà khoảng 1.000 cây cần sa, chi phí đầu tư khoảng 15.000 tới 50.000 bảng Anh, với nguồn điện sưởi ấm và chiếu sáng cây trồng bằng loại bóng đèn cao áp natri 600W lấy cắp từ lưới điện quốc gia, cùng một hệ thống tưới nước có kiểm soát chặt chẻ, hệ thống quạt thông gió, thông hơi tinh vi, để ngăn mùi vị cây trồng phát tán qua các nhà kế cận. Có bốn lần cần sa được thu hoạch trong một năm, bởi các đội đặc biệt đến nhổ hết cây, đựng trong các bao đựng áo quần giặt ủi kín đáo, đưa về cơ sở khác sấy khô và đóng gói, trước khi bán sĩ lại cho các nhóm phân phối lẻ trên đường phố của người Anh. 

Trung bình lợi tức ròng hàng năm của một trại trồng cỏ loại này lên đến khoảng 500.000 bảng Anh, so với chi phí đầu tư tổng cộng chỉ chiếm 10%, trong đó thu nhập của người làm vườn khoảng từ 35 đến 40 ngàn bảng là mơ ước đổi đời của người rơm và trong khi với bốn kỳ thu hoạch, có bị bể ba lứa, chủ trại vẫn không thiệt hại và nhất là cùng lắm cảnh sát cũng chỉ bắt giữ được vài người làm vườn, rất hiếm khi lần tới được các chủ trại thực thụ. 

Do đó, dù phải đối mặt với tù tội, khả năng bị trục xuất bởi chính phủ Anh, hay bị cướp bóc, thanh toán bởi các băng nhóm tội phạm bản xứ, kỹ nghệ trồng cần sa tại Anh vẫn là thanh nam châm thu hút người rơm vay mượn, thế chấp của cải còm cỏi ở quê nhà để ra đi, trong tư thế "thí mạng cùi", không còn gì để mất. Theo ACPO (Association of Chief Police Officers) nhiều trại trồng cần sa còn dẫn điện lên các cửa ra vào và người rơm còn tự võ trang súng shotgun cắt nòng, bình xịt hơi cay, gậy bóng chày để bảo vệ cây trồng và chống trả các phe nhóm đối thủ. 

Vài số liệu cụ thể của sở cảnh sát thủ đô (Metropolitan Police Specialist) và cơ quan đặc trách tội phạm nghiêm trọng có tổ chức SOCA (Serious Organized Crime Agency) cho thấy năm 2003 có gần 470 kg cây trồng cần sa và sản phẩm thu hoạch bị tịch thu, năm 2004 đã tăng lên gấp hơn hai lần với gần 1.010 kg. Từ năm 2001 đến 2007 có hơn 2.000 trại trồng cỏ bị phát giác và phá hủy. Năm 2008 tăng lên 4.951 trại và năm 2009 có đến 6.866 trại bị cảnh sát phá hủy. 

Trước năm 2005 trong tổng số cần sa tiêu thụ hàng năm trên thị trường Anh Quốc, chỉ có khoảng 15% được trồng trong nội địa. Năm 2010 tình hình thay đổi hẳn, có đến 90% lượng cần sa tiêu thụ tại Anh là đã được trồng tại chổ, trong đó các băng nhóm người Việt đã kiểm soát đến 75% và 15% khác được phân phối qua Hòa Lan. 

Nguồn lợi hấp dẩn và nguồn tài nguyên nhân lực vẫn luôn dồi dào - có thể nói lại càng dồi dào hơn - khi tuyệt đại bộ phận người dân Việt Nam vẫn còn chìm đắm trong nghèo nàn, bởi sự cai trị dốt nát nhưng không kém sự sắt máu của chế độ cộng sản Hanoi, đưa đến hố chênh lệch giàu nghèo trong xã hội ngày càng sâu. Cán bộ, đảng viên đều trở thành tư bản đỏ, giới cùng đinh chỉ còn con đường tha phương cầu thực, trai xuất ngoại làm lao nô, gái xuất cảnh đi làm vợ hờ xứ người, nên vấn nạn người rơm Việt Nam và kỹ nghệ trồng cỏ tại Anh Quốc nói riêng, trên toàn thế giới nói chung vẫn luôn và đang là một tấm màn bí mật đầy sôi động. 

17.04.2018



___________________________ 


Hai Thanh Luong, Based on the Ethnic Factor to Understanding the Distinct Characterisitics of Cannabis Cultivation: A Review of Overseas Việt Namese Drug Groups, 2014. 

Jessica Mai Sims, The Việt Namese Community in Great Britain, Runnymede Trust, 2007. 

Office for National Statistics, Overseas-born population in the United Kingdom, excluding some residents in communal establishments, by sex, by country of birth Jan 2014 to Dec 2014, 8/2015. 

Nick Thorpe, EU's biggest crackdown on Vietnamese illigal migrants, 6/2010. 

Tony Thompson, Untold profits fuel the violent gang world of London’s cannabis farms, Evening Standard, 9/2010. 

AloUc.com (Tin nước Úc), Bí ẩn về câu chuyện người Việt trồng cỏ ở nước ngoài, 04/2016. 

700 triệu hồ tệ, cái giá của việc “vặt lông vịt”

Hải Âu (Danlambao) - Cùng với cái nóng của thời tiết trong những ngày vừa qua, đề xuất “thu thuế tài sản” đang tạo sóng trong dư luận. “Bộ vặt lông vịt” (bộ tài chính) đề xuất đánh thuế đối với mọi chủ sở hữu nhà (gồm cả chung cư, đất ở, đất xây nhà chung cư, đất kinh doanh…) có giá trị từ 700 triệu hồ tệ trở lên. Phạm Đình Thi, vụ trưởng vụ chính sách thuế, cũng là một kẻ tích cực góp phần đẻ ra đề xuất trên cho hay “hiện có 174 trong số 193 nước, vùng lãnh thổ thu thuế tài sản với nhiều tên gọi khác nhau!? Các nước này sử dụng thuế tài sản như một công cụ tài chính hữu hiệu để quản lý việc sử dụng tài sản của tổ chức, cá nhân… góp phần đảm bảo công bằng xã hội”.

Trong khi đó ở Việt Nam, sau vô số lần sửa đổi luật thuế, “bộ vặt lông vịt” đã khiến người dân chóng mặt với các khoản thuế phí liên tục tăng. Hàng trăm mặt hàng từ phân bón, cà phê, xe ô tô, nước, điện, thiết bị, máy móc dùng trong nông nghiệp, đánh bắt thuỷ hải sản, xăng dầu… phải chung số phận với việc chịu thuế hoặc tăng thuế mỗi khi “cuốc hội” cộng sản tổ chức các kỳ họp. Với đề xuất ồ ạt tăng thuế của “bộ vặt lông vịt” cho thấy, nhà cầm quyền Ba Đình đang ra sức tận thu. Chế độ cộng sản Hà Nội không cần biết cuộc sống của người dân sẽ khó khăn ra sao khi phải cõng thêm những khoản phí, thuế đểu cán mà chúng đã và đang tạo ra. 

Phạm Đình Thi cho rằng “qua đánh giá, thuế thu trong quá trình sử dụng tài sản (thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế sử dụng đất nông nghiệp) từ trước tới nay chỉ mới điều tiết đối với đất nước!?” Chính vì thế đề xuất dự án luật thu thuế tài sản mà “bộ vặt lông vịt” vừa trình cho nhà cầm quyền cộng sản là “để tái cơ cấu nguồn thu ngân sách, khai thác tốt nguồn thu tài sản”. 

Và để minh hoạ thêm cho việc “vặt lông vịt” là cần thiết, “thiến sĩ” Đinh Thế Hiển hào hứng “tôi nói thuế đó là đúng, và tôi đã trông chờ nhiều năm…” Không biết “thiến sĩ” Hiển tốt nghiệp luận án ở thể loại nào nhưng nhiều khả năng cái bằng “thiến sĩ” của Hiển có được do “bộ vặt lông vịt” cấp. Vì thế “thiến sĩ” Hiển phân tích: “nếu không ra sắc thuế này, Việt Nam có thể bị kéo giật về thời phong kiến kiểu mới!?” và “thuế tài sản, trong đó có bất động sản là cần thiết và phải thực hiện trong một quốc gia văn minh hiện đại”. “Thiến sĩ” Hiển phân tích thêm về đề xuất thu thuế tài sản là do “nhóm người trung bình và nghèo (chiếm 70%-80%) kêu gọi!?” 

Nhận định của vụ trưởng chính sách thuế Phạm Đình Thi đưa ra con số 174/193 quốc gia và vùng lãnh thổ áp dụng thu thuế tài sản quả là không sai. Hơn nữa các nước này sử dụng nguồn thu trên để góp phần bảo đảm công bằng xã hội lại càng đúng. Nhưng đó là chuyện của các quốc gia không bị chế độ cộng sản cầm quyền. Đại đa số các quốc gia, vùng lãnh thổ mà Phạm Đình Thi muốn nói đều là những nước có nền kinh tế minh bạch và một chính quyền dân chủ. Người dân của họ nhận thức và kiểm soát được những đồng thuế mà họ đóng góp. Họ biết rằng tiền của họ đóng thuế được bộ máy nhà nước sử dụng đúng mục đích và hiệu quả. Tuy nhiên những điều bình thường đó không có và không thể xảy ra trong một đất nước mà người dân mỉa mai gọi nó là cái “thiên đường xã nghĩa” được cai trị bởi tập đoàn độc tài cộng sản. 

Đinh Thế Hiển
Về phần hào hứng của “thiến sĩ” Hiền có vẻ gượng gạo và mang phong cách của một kẻ bưng bô chế độ khi nhận định 70%-80% người trung bình và người nghèo kêu gọi nhà cầm quyền cộng sản “vặt lông” chính mình. Một điều chắc chắn là chẳng một ai lại thần kinh đến độ tự kêu kẻ cướp, cướp những thứ mà họ làm lụng vất vả. Điều đó lại càng không thể đối với những người nghèo, người trung bình mà “thiến sĩ” Hiền khẳng định họ chiếm 70-80% dân số của Việt Nam. 

Với đề xuất thu thuế tài sản của “bộ vặt lông vịt” đưa ra là 0,3% hoặc 0,4% cho phần giá trị vượt triệu 700 triệu hồ tệ, gần như tất cả các hộ gia đình đều phải cõng thêm một khoản phí tăng gấp 12. Trong đó rất, rất nhiều người có thu nhập thấp nhưng đang sở hữu đất hay nhà ở vẫn phải đóng thuế vì giá trị đất, nhà ở thời điểm hiện tại đa số đều có giá trị trên 700 triệu hồ tệ. Điều đáng nói là những đồng tiền mồ hôi xương máu của nhân dân đóng góp thông qua thuế hầu hết đều trở thành tài sản riêng của quan chức đảng viên. Bộ máy cồng kềnh của tập đoàn cai trị cộng sản tập chung tuyệt đại đa số là những kẻ quan liêu, tham ô, tham nhũng. 

Phạm Đình Thi và Đinh Thế Hiển chỉ là 2 trong số những kẻ mà chế độ cộng sản sử dụng để truyền tải và khẳng định khả năng cướp bóc của lũ khỉ hang động Pắc Pó. Chính vì thế những giải thích, phân tích của những kẻ đại diện cho một thể chế cướp chính quyền, cướp nhân quyền, cướp sự tự do của nhân dân chỉ là những lời ma mị. Hơn 90 triệu người dân Việt Nam đang phải đối diện với một loạt đề xuất tăng thuế. Mức thuế một số mặt hàng phổ biến được đề xuất tăng từ 5 lên 6%, các mặt hàng đặc biệt khác tăng từ 10 lên 12%... Điều đó đồng nghĩa với việc nhu cầu thiết yếu hằng ngày mà người dân sử dụng, dù là người nghèo đều đội giá do chính sách thuế tận thu mà chế độ cộng sản đang chủ mưu thực hiện. 



Nếu như “cuốc hội” cộng sản đồng ý với những đề xuất tận thu trên, nó sẽ thu về hàng chục nghìn tỷ hồ tệ hằng năm cho những kẻ cai trị sử dụng. Hàng triệu người buộc phải gồng mình để đóng thuế cho những kẻ đi cướp chính quyền. Đây không phải là lần đầu chế độ cộng sản đưa ra những đề xuất khiến người dân khó khăn trong cuộc sống. Thế nhưng với tư duy cam chịu của đa số người dân Việt Nam, rất có thể những đề xuất trên sẽ sớm được thông qua và đi vào cuộc sống. Khi ấy hơn 90 triệu con người Việt Nam có còn đủ sức “đóng góp” nuôi những “đầy tớ” để tiếp tục nhận được sự “phục vụ” bằng cách tận thu như đề xuất thu thuế tài sản hay không. 

Một chuyên gia kinh tế của cộng sản, “thiến sĩ” Vũ Đình Ánh từng nói: “thu thuế cũng như vặt lông vịt, đừng để kêu toáng lên”. Liệu khi đề xuất thu thuế tài sản được thông qua, không biết “thiên đường xã nghĩa” có nghe được tiếng kêu của vịt khi bị vặt lông không? 

17.04.2018

Nền giáo dục của một quốc gia độc lập

“Không có gì quý hơn độc lập tự do”
Tôi biết nó, thằng nói câu nói đó

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến (Danlambao) - Vào buổi khai trường đầu tiên của Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, 3 tháng 9 năm 1945, Chủ Tịch Nước Hồ Chí Minh long trọng tuyên bố: “Từ giờ phút này trở đi các em nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam, một nền giáo dục của một nước độc lập.” Ngay “giờ phút” đó, chắc chắn, toàn dân không ai có thể hình dung ra được là cái “nền giáo dục của một nước độc lập” nó mắc (tới) cỡ nào?

Phải đợi đến gần hai phần ba thế kỷ sau, giá cả mới được ghi rõ – theo Mỹ Kim bản vị – trên báo Sài Gòn Tiếp Thị:

“Tháng Bảy mới là thời điểm chính thức các trường đầu cấp nhận hồ sơ tuyển sinh, nhưng hiện nay tại Hà Nội, cuộc chạy đua vào lớp 1 đã lên đến đỉnh điểm. Dù không giấy mực hay tuyên bố chính thức ‘giá’ vào trường điểm là bao nhiêu, nhưng các bậc phụ huynh đều hiểu muốn cho con vào trường mình mong muốn đều phải mở hầu bao. Một suất vào trường điểm lên đến cả vài nghìn USD.”

“Vài” là bi nhiêu? 

Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế có con số chính xác hơn: VN đứng hạng nhì trong khu vực Á Châu Thái Bình Dương về giá hối lộ cho một năm học vào trường công lập. Phải trả ba ngàn đồng để mua một chỗ ngồi học trong những trường công lập uy tín là một khoảng tiền rất lớn trong một đất nước mà lợi tức trung bình hằng năm chỉ nhỉnh hơn hai ngàn hai trăm đô chút xíu. (“A Transparency International report has found Vietnam to have the second highest bribery rates for public schools in the Asia Pacific region. It costs up to $3,000 to buy a place at the most sought after public schools, a huge expense in a country where annual average incomes barely top $2,200).”

Không có thông tin nào về giá để được dậy ở trường điểm Hà Nội cả nhưng chắc chắn là cũng không rẻ lắm vì ngay ở những vùng xa/vùng sâu mà số tiền (“chạy cho một suất”) cũng đã cao ngất trời rồi – theo báo Lao Động, số ra ngày 14 tháng 3 năm 2018: “Để được ký hợp đồng ngắn hạn và lời hứa vào biên chế, có giáo viên phải chi từ 200-300 triệu đồng nhưng cuối cùng vẫn không có việc làm ổn định.”

Nguyên do đưa đến hoạn nạn (“tiền mất tật mang”) được báo Tiền Phong, số ra cùng ngày, cho biết thêm chi tiết: 

“Chuyện hàng trăm giáo viên huyện Krông Pắk (Đắk Lắk) sắp mất việc có nguồn cơn từ việc 3 đời lãnh đạo huyện này đã ‘ký bừa’ hợp đồng với hơn 600 giáo viên, nhân viên giáo dục.”

May mắn là Bộ Giáo Dục Đào Tạo đã lên tiếng “can thiệp” kịp thời, và “đề nghị” một phương cách giải quyết (hết sức vô tư) như sau: 

“Công đoàn giáo dục Việt Nam đã có công văn gửi Liên đoàn lao động tỉnh Đắk Lắk, Sở GD&ĐT có giải pháp can thiệp... đề nghị các cơ quan liên quan sớm có phương án sắp xếp, bố trí việc làm cho giáo viên theo hướng tiếp nhận tối đa các giáo viên làm việc tại địa phương.”

Với “hướng tiếp nhận tối đa” thế này thì nhiều lớp học sẽ có hai hay ba giáo viên phụ trách. Người đứng đầu, người đứng cuối, và nếu vẫn dôi dư thì nhét thêm một ngồi giữa (lớp) nữa là xong. Học sinh sẽ được dậy dỗ kỹ càng hơn, và – chung cuộc – chả ai bị mất việc cả. Nhờ vậy, giới quan chức địa phuơng sẽ hết phải thấp thỏm, và phải nhờ đến trung ương can thiệp – như tin loan của báo Dân Trí hôm 28 tháng 3 năm 2018: “Đắk Lắk đề nghị báo chí tạm dừng đưa tin 500 giáo viên mất việc... nhằm tránh làm nóng vấn đề.”

Vấn đề, thực ra, không chỉ giới hạn vào chuyện bạc tiền. Giáo giới còn phải trả giá bằng nhiều hình thức khác nữa cơ. 

Hôm 16 tháng 11 năm 2016, tờ Vietnamnet ái ngại cho hay: “Chuyện giáo viên ở thị xã Hồng Lĩnh được điều đi tiếp khách đã làm nóng phiên chất vấn Bộ trưởng GD-ĐT sáng nay.” May thay, câu chuyện đã nguội ngay, ngay sau khi ông Phùng Quang Nhạ giải thích (xuê xoa) rằng có nhiều vị khách tưởng giáo viên là tiếp viên nên chỉ “vui vẻ chút thôi” – chứ cũng không có gì là nghiêm trọng lắm!

Đến đầu tháng ba năm 2018 thì có “sự cố” khác, nóng hơn chút xíu, khi báo chí đồng loạt loan tin: Cô giáo phải qùi gối trước phụ huynh. Đến cuối tháng này lại có thêm chuyện nóng mới: Phụ huynh đánh cô giáo mang thai nhập viện!

Bạo lực học đường, nói cho nó công tâm, không chỉ đến từ một phía. Cha mẹ học sinh, đôi khi, chỉ vì “nóng lòng báo thù” cho con cái nên hơi quá tay chút xíu thôi. Giáo chức, không ít vị, cũng rất đáng bị trách phạt bằng những hình thức nặng nề hay thô bạo:


Ảnh: giaoduc.net

Điều an ủi là loại cô thầy bất nhân tuy nhiều nhưng... không nhiều lắm. Bên cạnh thành phần bất hảo, vẫn có những nhà mô phạm tận tâm và khả kính. 

Ngày 23 tháng 3 năm 2018 – ông Trần Tuấn Khanh, phó giám đốc Sở GD-ĐT An Giang – cho biết: “Đến thời điểm này toàn tỉnh có trên 3.000 em học sinh không trở lại lớp từ sau Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018... Đa số là học sinh lớp 8, 9. Các em này một phần do hoàn cảnh khó khăn, ăn tết xong các em theo gia đình lên những thành phố lớn để làm ăn. Mặc dù các em chưa đến tuổi lao động nhưng cũng đi theo cha mẹ.”

Đây là tình trạng phổ biến trên toàn quốc chứ không riêng chi ở An Giang. Đôi nơi, giáo viên đã hết sức tận tụy trong việc tìm lại học trò – theo như lời tự thuật của thầy giáo Vũ Văn Tùng:

“Những ngày tháng Ba khi hoa Pơ Lang đang nở đỏ rực trời Tây Nguyên, những giáo làng vùng sâu chúng tôi lại tất bật với hành trình lên nương tìm kiếm học trò. Khoác vội chiếc ba lô và cưỡi lên ‘con ngựa sắt’ già, tôi lại bắt đầu một cuộc hành trình hơn 40km đi tìm kiếm học trò. Sau gần 2 giờ đồng hồ rong ruổi đường rừng, tôi tìm thấy em trong một túp lều giữ rẫy của người dân vào đúng giờ nghỉ trưa.

Vừa nhìn thấy tôi, em ngượng ngùng đứng nép vào vai bạn. Tôi tiến lại gần em và nói: về với thầy với lớp đi em. Bỗng có tiếng lanh lảnh của một người phụ nữ trạc tuổi 40 ‘sao anh lại cướp công của tôi?’ và kèm sau đó là những ngôn từ chua chát khác. 

Loay hoay tìm hết lời lẽ vận động, giải thích, mãi đến xế chiều thầy trò tôi mới được người phụ nữ ấy tha cho về với 60.000 đồng là nửa ngày công của em.

Đưa em về nhưng trong lòng tôi vẫn canh cánh một nỗi lo vì không biết sẽ giữ được em bao lâu khi mà gánh nặng mưu sinh đang đè nặng trên đôi vai cô học trò bé nhỏ.” 

Thầy Tùng khiến tôi thốt nhớ đến tâm sự của một một nhà văn tiền bối:

“Sau khi đỗ tiểu học, tôi thi vào Trung -học. Những bạn của tôi ở từ các tỉnh tới, nói nhiều giọng khác nhau: Quảng - nam, Quảng -ngãi, Thừa -thiên, Bình – thuận, Ban- mê- thuột... Sau mỗi kỳ nghỉ Tết mỗi kỳ nghỉ Hè, lũ bạn đi học mang theo quà địa phương của mình. Bạn Quảng-nam mang theo khoai lang khô và bánh tổ, bạn Quảng-ngãi mang theo đường phổi, bạn Phan-thiết mang theo nước mắm nhĩ, còn rim mức, kẹo mè, bánh in, bánh cốm thì gần như không ai không có...

Ngoài những bạn học người kinh, ký túc xá còn nhận những học sinh người Rhadé, những Y Bliêng, Y Phơm, Y Bih, R’om Rock, Nay Phin... Họ đồng phục kaki vàng và trao đổi trò chuyện với chúng tôi bằng tiếng Pháp... Những buổi chiều trong sân trường, Y Phơm hay biểu diễn môn bắn ná cho chúng tôi xem và mách rằng: ‘Thằng Y Bliêng đó, nó giầu lắm. Nhà nó có năm con voi và nhiều con trâu... Ở ký túc xá ăn, học, ngủ đều đúng giờ giấc nhưng khi thích chúng tôi vẫn lén nhẩy rào hay chun rào ra phố xem xi-nê...” (Võ Hồng. Người Về Đầu Non. NXB Văn: Sài Gòn, 1968).

Nhà văn/nhà giáo Võ Hồng sinh năm 1921, và bắt đầu dậy học từ năm 1943. Tuổi ấu thơ và tuổi học trò của ông đều gói trọn trong thời gian nước nhà còn bị đô hộ và lệ thuộc. Phải đợi đến ngày 3 tháng 9 năm 1945, ngày khai trường đầu tiên của Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Chủ Tịch Hồ Chí Minh mới long trọng cho biết: “Từ giờ phút này trở đi các em nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam, một nền giáo dục của một nước độc lập.” 

“Không có gì quý hơn độc lập tự do”
Tôi biết nó, thằng nói câu nói đó
Tôi biết nó, đồng bào miền Bắc này biết nó
Việc nó làm, tội nó phạm ra sao (Nguyễn Chí Thiện

Đến giờ thì không riêng đồng bào miền Bắc mà dân chúng mọi miền, kể luôn miền ngược, cũng đều biết việc nó làm, tội nó phạm ra sao!

18/4/2018

Hoài niệm 30-4: “Tìm mãi yêu thương”

Nguyễn Thượng Long (Danlambao) - ...Lại một ngày 30-4 nữa sắp đến… xin các đỉnh cao trí tuệ đừng bắt dân tộc tôi phải tiếp tục lên đồng, phải tự sướng với những tín điều đã không còn sức thuyết phục nữa rằng, 30-4 là ngày “Đánh cho Mỹ cút - Đánh cho ngụy nhào”. Nên chăng hãy coi 30-4 là ngày để người Việt Nam ở cả bên thắng cuộc và bên thua cuộc cùng lắng lòng mình lại, để suy tư về những thảm kịch đã đến với mảnh đất đau thương này, đến với dân tộc bất hạnh này...


*

Có thể nói, bất khuất trước những bạo tàn là một trong những phẩm chất vốn có của dân tộc Việt Nam. Tương truyền từ ngàn xưa, trong đêm dài 1000 năm Bắc thuộc, người nước Nam ngoài việc phải lên rừng tìm ngà Voi xuống biển tìm châu báu để cống nạp cho mẫu quốc Trung Hoa, nước Nam ta nhức nhối trên thân mình là những cột đồng với lời nguyền ác độc “ĐỒNG TRỤ CHIẾT - GIAO CHỈ DIỆT”cùng những bùa chú các loại của người phương Bắc, nhằm trấn yểm long mạch đất nước này.

Theo truyền thuyết, đỉnh núi Lam Thành - 
nơi chôn “đồng trụ” của Mã Viện ở Hưng Nguyên

Là những thầy Địa Lý tài ba, họ quá tin vào những pháp thuật, những lời nguyền, bùa chú... sẽ làm nước Nam lụn bại, bị Hán hóa và đời đời là Quận Huyện của Bắc Quốc. Họ không biết chúng ta về phong thủy lại liền mạch cùng tổ sơn Himalaya ngút ngàn hùng vĩ, có Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ cùng sự dồi dào yếu tố ĐỊA LINH - NHÂN KIỆT đã góp phần hóa giải thành công lời nguyền của Mã Viện ngay từ những năm đầu của thiên niên kỷ thứ nhất. Không có thời kỳ nào nước Nam bị khô kiệt nhân tài vì những bát quái trận đồ của phù thủy lừng danh Cao Biền (821-887). (Tìm đọc “Trận đồ bát quái của Cao Biền trên sông Tô Lịch” - “Thắng địa Thăng Long & Địa linh đất Việt” của Trần Văn Việt và Nguyễn Văn Túc).

Tôi tin là rồi những “16 chữ vàng” (Láng giềng hữu nghị - Hợp tác toàn diện - Ổn định lâu dài - Hướng tới tương lai),“4 Tốt” (Láng giềng tốt - Bạn bè tốt - Đồng chí tốt - Đối tác tốt)… một dạng “Bùa Chú” mới thời cộng sản của những Giang Trạch Dân, Lý Bằng, Hồ Cẩm Đào, Tập Cận Bình được những Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Nông Đức Mạnh, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Phú Trọng... giúp sức đưa vào Việt Nam, rồi cũng sẽ chung số phận với những gì mà những Mã Viện, Cao Biền, Hoàng Phúc... đã từng thi thố từ hàng ngàn năm trước mà thôi. Trừ những đám Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc, Hoàng Văn Hoan, trừ những kẻ đang bán dần đất nước cho Tầu... truyền thống phải cảnh giác với người Tầu đã là thái độ thường trực của người Việt Nam yêu nước từ lâu rồi.

Nhưng... đất nước chúng ta lại đang thực sự lao đao vì một thứ cũng hoàn toàn ngoại lai do Hồ Chí Minh và những người cộng sản Việt Nam du nhập và khư khư lưu giữ suốt 88 năm nay. Đó là “Ý THỨC HỆ MÁC - LÊ”. Vì sao mà một dân tộc có truyền thống “Nhiễu điều phủ lấy giá gương / Người trong một nước phải thương nhau cùng” lại dễ dàng bị cuốn vào cơn gió chết chóc một cách dễ dàng như vậy:

“Giết giết nữa bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong
Cho đảng bền lâu cùng dập bước chung lòng
Thờ Mao Trạch Đông, thờ Stalin bất diệt”? (Tố Hữu) 

Dễ hiểu thôi, cố giáo sư Trần Quốc Vượng đã từng nói: “Hồ Chí Minh chở Chủ nghĩa Mác Lê vào Việt Nam trên cỗ xe Nho Giáo” nên về cơ bản, “Ý THỨC HỆ MÁC LÊ” cũng mang hồn cốt của Khổng Nho với biết bao hạn chế không khắc phục được. Nếu cơ sở tư tưởng của Khổng nho là “Tứ Thư - Ngũ Kinh” thì cơ sở tư tưởng của Mác Lê là “Tư Bản Luận”. Nếu chuẩn mực đạo đức của Khổng Nho là “Tam tòng tứ đức - Tam cương Ngũ thường”, là “Quân xử thần tử - Thần bất tử bất trung”, thì chuẩn mực của ý thức hệ Mác Lê là “Trung với nước - Hiếu với dân”, nay là “Trung với Đảng hiếu với dân”, là “Yêu nước là yêu CNXH”. Trong bài “Nỗi ám ảnh của quá khứ” giáo sư Trần Quốc Vượng nói rõ hơn: “Chủ nghĩa quốc tế của Mác Lê mà Nguyễn Ái Quốc và những người cộng sản mang về áp dụng vào một xã hội nông dân châu Á nghèo khổ, khác hẳn cơ địa xã hội tư sản Tây Âu, nơi hình thành chủ nghĩa Marxisme”. 

Những người cộng sản Việt Nam tiền bối cũng có căn cước là nông dân chính hiệu. Cho nên không có gì là lạ, ngay từ khi chưa cướp được chính quyền thì “TRÍ - PHÚ - ĐỊA - HÀO” là cái gai trong mắt họ cần phải “ĐÀO TẬN GỐC TRỐC TẬN RỄ”. Là những lãnh tụ nông dân nên phát súng đầu tiên của CCRĐ họ dành cho ân nhân của họ là bà Nguyễn Thị Năm chỉ vì bà là địa chủ. Là những lãnh tụ nông dân nên mới có chuyện “Tiếng đầu đời con gọi Stalin” và “Bên ni biên giới là nhà / Bên tê biên giới cũng là quê hương” (Tố Hữu). Là những lãnh tụ nông dân nên khi có chiến thắng 30-4-1975 họ mới bảo nhau: “Nhà Ngụy ta ở, vợ ngụy ta lấy, con ngụy ta sai…” (Nguyễn Hộ). Là những lãnh tụ nông dân nên mới có chuyện lùa nhân dân đi tìm thiên đường XHCN mà “Không biết đến hết thế kỷ này đã thành hiện thực chưa?” (Nguyễn Phú Trọng), và ròng rã 88 năm nay, với “Ý THỨC HỆ” đó, ĐCS đã đặt đất nước luôn ở vị trí cửa dưới, chầu rìa trong những cuộc chơi mà quyền định đoạt luôn luôn thuộc về các siêu cường.

Trong một thế giới đơn cực không còn đối trọng bởi Liên Xô và hệ thống XHCN đã tan rã ngót 30 năm rồi, thế giới đó đang lấp đầy là những tín điều thực dụng đến nghiệt ngã nhưng lại là chân lý: “Mọi lý thuyết đều là mầu xám - Còn cây đời mãi mãi xanh tươi”. Thế giới đó “Không có liên minh nào là vĩnh viễn - Không có kẻ thù nào là vĩnh viễn - Chỉ có lợi ích là vĩnh viễn”… thì ĐCS Việt Nam dường như vẫn chưa ra khỏi cơn hoang tưởng vào sự vô địch của “Ý THỨC HỆ MÁC LÊ”. Tại sao ĐCS lại coi thường người dân đến như vậy?

Thực ra ĐCS Việt Nam thừa biết là “Ý THỨC HỆ MÁC LÊ” đã hết sức sống rồi, nhưng nếu từ bỏ nó thì ĐCS không có lý do tồn tại. Người ta biết được điều này qua tuyên ngôn hết sức bá đạo của đảng trưởng Nguyễn Văn Linh ngày nào “Thà mất nước còn hơn là mất đảng”. Mất đảng tức là mât độc quyền cai trị dân tộc Việt Nam, là không còn cơ hội để vơ vét tham nhũng được nữa. Thế là người ta cấy vào “NỀN KINH TẾ THỊ TRƯƠNG”, biểu tượng của kinh tế TBCN một cái đuôi xấu xí “ĐỊNH HƯỚNG XHCN”. Vậy là đã có một cuộc hôn phối gượng ép giữa “CHỦ NGHĨA TƯ BẢN RỪNG RÚ” với “Ý THỨC HỆ MÁC LÊ PHIÊN BẢN STALIN - MAO”, hình thành nên một mô hình chính trị quái đản chưa từng thấy trong lịch sử loài người. Ở Việt Nam, “Cuộc Hôn Phối” bệnh hoạn này đã tạo ra một thứ “CỘT TRỤ” vô hình, nhưng nó phát tác lực “TRẤN YỂM” là vô cùng ghê gớm. 

Vì thứ “CỘT” đó mà nguyên khí dân tộc bị tiêu tán, nội lực dân tộc bị suy kiệt vì chia rẽ, vì hận thù. 

Vì thứ “CỘT” đó mà mọi giá trị trong xã hội Việt Nam bị đảo lộn nghiêm trọng. Vì thứ “CỘT” đó, Việt Nam sẽ không bao giờ có Đa Nguyên chính trị, không bao giờ có tam quyền phân lập, không bao giờ có bầu cử trực tiếp... và ĐCS mãi mãi có quyền hành xử và hiện diện như một lực lượng chiếm đóng. 

Vì thứ “CỘT” đó mà các lực lượng vũ trang Việt Nam trở thành lực lượng “Chỉ biết còn đảng còn mình”. Quân đội thì bỏ nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ để mải mê làm kinh tế. Công an thì hèn với giặc ác với dân, làm “Thanh Kiếm - Lá Chắn” cho đảng. 

Vì thứ “CỘT” đó mà xã hội Việt Nam xuất hiện ngày càng đông đảo tầng lớp “Tư Bản Đỏ”, bên cạnh đó là sự tàn tạ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường sống của ngót 100 triệu con người không còn trong lành. 

Vì thứ “CỘT” đó mà trí thức văn nghệ sĩ mất hết bản lĩnh trở thành những kẻ bưng bô tầm thường cho quyền lực để sinh nhai. 

Vì thứ “CỘT” đó mà Bệnh Viện - Nhà Trường biến thành thương trường, chợ búa. Nơi đó những thầy cô giáo xấu, những thầy thuốc bất lương tha hồ thi thố các chiêu trò ma giáo. 

Vì thứ “CỘT” đó mà công nhân thì bị giới chủ bóc lột tàn tệ, thất nghiệp lang thang sống kiếp làm thuê làm mướn khắp thế giới. 

Vì thứ “CỘT” đó nông dân thì bị mất đất đai vì lá bùa “Đất đai là sở hữu toàn dân do nhà nước thay mặt đứng ra quản lý” vẫn sừng sững án ngữ luật pháp hiện hành. 

Vì thứ “CỘT” đó mà kho tàng tiếng Việt đã xuất hiện những thuật ngữ vô cùng biểu cảm “Thuyền Nhân, “Dân Oan”. Những thuật ngữ này có tính tố cáo rất cao. 

Vì thứ “CỘT” đó mà người Trung Quốc tự do ra vào Việt Nam, ngày Việt Nam trở thành quận huyện của Trung Quốc đã cận kề. 

Chiến tranh đã lùi xa qua 43 năm mà hiện trạng của Việt Nam lúc này không làm ai hài lòng. Đất nước đã thống nhất nhưng chưa hề có Dân Chủ, chưa hề có Độc Lập, chưa hề có Tự Do, chưa hề có Hạnh Phúc... Tất cả là do sự kiên định cái mớ lý thuyết mầu xám đó. Vì khư khư cái thứ mà các dân tộc văn minh đã vứt bỏ mà nội lực dân tộc bị huỷ hoại, suy yếu vì bất đồng vì chia rẽ. Tương lai của dân tộc rồi sẽ ra sao? Ai là người có lỗi trước tiền nhân? Ai sẽ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử đây? 

Hình như sự kiên định “Ý THỨC HỆ MÁC LÊ” của ĐCS Việt Nam là dấu hiệu cho biết nghiệp báo vì những gì đã diễn ra trong quá khứ của dân tộc là nặng nề đến thế nào. Sẽ có điều gì khác không nếu sau hiệp nghị Giơnevơ 1954, phía Bắc vĩ tuyến 17 sẽ là những người dân miền Nam và nam vĩ tuyến 17 sẽ là những người dân miền Bắc? Người dân miền Nam mà sống với những người cộng sản ở miền Bắc, họ sẽ phải tiếp thu ý thức hệ của ĐCS. Đảng sẽ dúi vào tay họ khẩu AK47 được sản xuất từ Liên Xô. Người miền Bắc mà phải sống ở nam vĩ tuyến 17, trong tay họ sẽ là những khẩu AR15 được sản xuất ở Hoa Kỳ. Điều gì sẽ xảy ra đây? Lịch sử sẽ phải viết khác đi chăng? Chẳng thể có câu trả lời dứt khoát được. Nhưng một điều có thể chắc chắn là người miền Nam mà sống ở miền Bắc cũng sẽ biết thế nào là đấu tố trong cải cách ruộng đất, thế nào là: “Mang bục công an đặt giữa trái tim người / Bắt tình cảm ngược xuôi theo luật đi đường nhà nước” (Lê Đạt), sẽ phải thắt lưng buộc bụng, phải làm viêc bằng 2 để xây dựng chủ nghĩa xã hội, vẫn phải dốc sức để “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào” như lời kêu gọi của Hồ Chí Minh. Người miền Bắc sống ở miền Nam cũng làm sao mà thoái thác được nhiệm vụ là người lính ngăn chặn làn sóng “ĐỎ” đang lăm le tràn ngập khắp Châu Á. Và nếu như lịch sử lại có một kết cục ngược lại, ngày 30/4/1975 lại kết thúc chiến tranh ở Hà Nội thì liệu người dân ở đó có thoát được những cuộc tập trung cải tạo để tẩy não như những gì đã xẩy ra ở miền Nam sau 30-4-1975? Câu hỏi này cũng chẳng có câu trả lời khẳng định được. Nhưng chắc chắn sẽ xẩy ra cái điều mà nhà thơ Nguyễn Duy đã nói tới trong bài “Đá ơi” là: “Nghĩ cho cùng / Mọi cuộc chiến tranh / Phe nào thắng thì nhân dân đều bại”… Vậy là bi kịch vẫn đến với dân tộc chúng ta như một thứ tiền định. Chúng ta vẫn chỉ là những con tốt thí, những quân cờ trên bàn cờ “Ý THỨC HỆ” mà thôi.

Để có được mấy thứ này ông Phạm Duy phải nói: 
“Tôi chống gậy chứ đâu có chống cộng…”

Vào thời điểm tôi đang viết những dòng chữ này, các Fan hâm mộ các ca sĩ hải ngoại của cư dân nơi tôi ở đang vô cùng háo hức đón chờ thế hệ hậu duệ của những tài danh Chế Linh (Chế Phong), người hùng Biệt Động Quân Duy Khánh với quý tử Chế Phi cùng với những siêu sao cỡ Khánh Ly, Thanh Tuyền, Giao Linh, Tuấn Vũ, Tuấn Ngọc, Elvis Phương, Trường Vũ, Quang Lê, Hoài Linh, MC Nguyễn Cao Kỳ Duyên… đã “Nối vòng tay lớn” điều mà cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã ao ước ngay từ buổi trưa 30/ 4 của 43 năm về trước. Đây là một dẫn chứng sinh động cho điều mà ông Võ Văn Kiệt đã từng nói: “Có hàng trăm con đường yêu nước khác nhau. Tổ Quốc Việt Nam không của riêng một ai, một Đảng, một phe phái, hay một tôn giáo nào”. Những cuộc “Nối vòng tay lớn” tương tự đã, đang và có thể sẽ còn diễn ra dồn dập hơn nữa, liệu quá trình đó có làm lu mờ đi "vừng hào quang" của "chiến thắng" 30/4/1975? Tất nhiên là có. Khi phải hạ mình đón nhận những đồng tiền của bọn “Ngụy” bỏ nước ra đi vì bị họ đánh thắng... thì còn đâu vừng hào quang nào nữa. Hóa ra chúng ta đã “Dắt tay nhau đi dưới những tấm biển chỉ đường… không hề trí tuệ” (Xin lỗi Tiến sĩ Hà Sĩ Phu). Cái giá của cuộc tương tàn để có một xã hội như thế này... thật là thê thảm & vô nghĩa. Tôi nghĩ, nếu được làm lại thì những người Việt Nam yêu nước, thương nòi, có văn hoá, có nhân cách, có lòng tự trọng… sẽ hành xử khác những gì mà những người chiến thắng đã làm sau ngày 30-4-1975.

Lại một ngày 30-4 nữa sắp đến… xin các đỉnh cao trí tuệ đừng bắt dân tộc tôi phải tiếp tục lên đồng, phải tự sướng với những tín điều đã không còn sức thuyết phục nữa rằng, 30-4 là ngày “Đánh cho Mỹ cút - Đánh cho ngụy nhào”. Nên chăng hãy coi 30-4 là ngày để người Việt Nam ở cả bên thắng cuộc và bên thua cuộc cùng lắng lòng mình lại, để suy tư về những thảm kịch đã đến với mảnh đất đau thương này, đến với dân tộc bất hạnh này. Sau 43 năm sự kiện 30-4-1975, không một người dân trong nước nào nghĩ đến việc có ngày xuất hiện một nước Việt Nam thứ 2 ở hải ngoại. Nước Việt Nam đó có 4 triệu dân, cũng máu đỏ da vàng, cũng thờ cúng tổ tiên ông bà như người Việt Nam trong nước, cũng vững tin “Truyện Kiều còn tiếng ta còn - Tiếng ta còn nước Nam còn” (Phạm Quỳnh). Nước Việt Nam đó không tôn thờ “Ý THỨC HỆ MÁC – LÊ”, nhưng họ cũng xuống đường phản đối Trung Quốc mỗi khi nước này giở trò với cố hương của họ và từ nước Việt Nam đó mỗi năm có hơn 13 tỉ Mĩ kim kiều hối chảy về giúp cho CHXHCN Việt Nam bù đắp thâm hụt do tham nhũng tràn lan và nợ công cao ngút trời.

Mọi năm… người ta vẫn coi 30-4 là ngày “Đánh cho Mỹ cút - Đánh cho ngụy nhào”. Đánh cho Mỹ cút cái gì mà ông lớn, ông nhỏ nào cũng đua nhau cho con cháu ôm tiền cướp được đi Mỹ để mua nhà, mua đất sẵn cho ngày tháo chạy. Đánh cho ngụy nhào cái gì mà lại hạ mình gọi “Những kẻ đĩ điếm lười lao động” là “Khúc ruột ngàn dặm”. Ngày nào mà những giáo điều quan trọng nhất của tà thuyết ngoại lai, như “Bạo lực cách mạng triệt để”, “Chuyên chính vô sản đến cùng”, “Chính quyền trên đầu mũi súng”... chưa được cởi bỏ thì những gì mà nhạc sĩ tài hoa Văn Cao viết trong ca khúc “Mùa Xuân Đầu Tiên” sau ngày 30-4-1975: “Từ nay người biết yêu người -Từ nay người biết thương người” vẫn chỉ là một mơ ước của một DÂN OAN nổi tiếng của chế độ mà thôi. 

17.04.2018

Powered By Blogger