Tuesday, November 25, 2014

Nhật Trường - Biển mặn

THƯ MỜI THAM DỰ LỄ TRAO NGHỊ QUYẾT CỜ VÀNG TẠI TP. PHOENIX

THƯ MỜI THAM DỰ LỄ TRAO
NGHỊ QUYẾT CỜ VÀNG TẠI TP. PHOENIX


Phoenix, thứ năm ngày 24 tháng 12 năm 2014 9: 00 AM


Kính gửi quý đồng hương:

Theo lời mời của Ông Greg Stanton, (Thị Trưởng Thành Phố Phoenix), xin kính mời quý đồng hương tham dự
BUỔI LỄ TRAO NGHỊ QUYẾT CỜ VÀNG tại toà hành chánh thành phố Phoenix tọa lạc tại:


Phoenix City Hall
200 West Washington Street
Phoenix, AZ 85003
(Đậu xe ở bãi đậu xe (garage) đối diện toà hành chánh)


Ngày/Giờ:  Thứ Năm Ngày 4 tháng 12 năm 2014 vào lúc 9:30 giờ sáng (9:30 AM)


Buổi lễ sẽ diễn ra vào lúc 9:30 AM với sự hiện diện của Ông Thị Trưởng Greg Stanton và Bà Councilwoman Thelda Williams. (Xin quý đồng hương có mặt trước toà Hành Chánh TP. Phoenix vào lúc 9:00 AM.) Theo Ông Thị Trưởng Greg Stanton, toà hành chánh Phoenix không giới hạn số lượng người tham gia buổi lễ trao nghị quyết cờ Vàng và Ông khuyến khích đồng hương chúng ta tham dự thật đông đủ)

Đài Truyền Hình SBTN đã nhận lời mời từ Ban Chấp Hành CDNVQG Arizona và sẽ quay phóng sự trực tiếp tại buổi lễ  Trao Nghị Quyết Cờ Vàng tại Thành Phố Phoenix.

Nghị Quyết Cờ Vàng ban hành từ Thành Phố Phoenix (Thành phố lớn thứ 5 của Hoa Kỳ) và Tiểu Bang Arizona (Một trong những tiểu bang đông dân cư Việt Nam) là một niềm vinh dự và hãnh diện của tất cả người Việt tỵ nạn Cộng Sản hiện đang sinh sống tại Phoenix nói riêng và khắp nơi ở Arizona nói chung.   Những thành công đạt được trong quá trình vận động Cờ Vàng trong những tháng qua là nhờ vào sự đoàn kết, đóng góp và nhiệt huyết từ các Hội Đoàn, Đoàn Thể, và tất cả quý đồng hương trong Cộng Đồng NVQG tại Arizona.  

Ban Chấp Hành CDNVQG AZ rất mong quý đồng hương tham dự buổi lễ Trao Nghị Quyết Cờ Vàng vào Thứ Năm ngày 4 tháng 12 năm 2014 (vào lúc 9:00AM) tại trung tâm hành chánh TP. Phoenix thật đông đủ.  Sự hiện diện của quý đồng hương là niềm khích lệ cho Ban Chấp Hành CDNVQG AZ và góp thêm phần long trọng cho buổi lễ.  Xin quý đồng hương phổ biến thông tin này đến gia quyến và thân hữu . 

Nhân dịp mùa Lễ Tạ Ơn, thay mặt Ban Chấp Hành CDNVQG AZ, xin mến chúc quý đồng hương và gia quyến được an vui và hạnh phúc .

Kính Thư

Đặng Thế Khương
Chủ Tịch CDNVQG Arizona

Từ việc xử lý quan chức tham nhũng ở VN: “Nhà tù sẽ phóng thích trộm cướp”?



026_c0023257ts-305.jpg
Ảnh minh họa về nạn hối lộ
AFP photo

“Ông ấy bán chức bao nhiêu tiền”?

Mấy hôm nay đám trộm cướp ở Việt Nam vui mừng khác thường. Người đang trộm cướp chưa bị phát hiện mừng rỡ đã đành, mà.  Mà ngay cả đám đang bị nhốt trong tù và những người có ý định trộm cướp nhưng chưa có dịp thực hiện cũng thấy tương lai rạng rỡ.
Đám này kháo nhau:  cần thì cứ trộm cắp cướp giật thôi. Mau mở hội ăn mừng. Không ăn mừng lúc này thì còn lúc nào. Cứ tha hồ trộm cướp đi. Nếu người ta không bắt được thì trót lọt. Nhưng nếu người ta có bắt được, thì chỉ cần trả lại một phần của đã trộm cướp là xong, chẳng bị kết án tù đày gì đâu. Xem tòa án và các ông to xử lý các ông quan trộm cướp của công thì biết. Quan trộm cướp hay dân trộm cướp thì cũng chỉ là trộm cướp. Họ được tha thì ta cũng phải được tha. Chúng ta được phóng thích đến nơi. Nhà tù sắp ế  rồi. Chuẩn bị về với vợ con thôi.
Có người tỉnh táo trong đám trộm cướp ấy hồ nghi : làm gì có chuyện ấy bình đẳng giữa quan với dân. Ngay cả cái tên cũng còn phân biệt. Dân trộm cướp thì gọi đúng tên, còn quan trộm cướp của dân, tội nặng hơn chúng mình nhiều, mà lại tránh đi, gọi là tham nhũng.
Đám đồng bọn của anh ta rộ lên phản đối: đây không lý lẽ cao xa. Chỉ cần xem người ta kết luận vụ ông cựu Tổng Thanh tra chính phủ thì biết là bây giờ pháp luật Việt Nam cũng chẳng coi tội trộm cướp là cái đinh gì.
Đám người trộm cướp ấy nói cũng có thể hồ đồ? Nhưng thực sự, dư luận bàn về việc ông cựu Tổng thanh tra CP có trộm cắp bằng phương thức nào đó hay lợi dụng vị trí để tham nhũng hay không, có những ý kiến trái chiều.
Có người nói: ông ấy có trộm cướp đâu. Theo kết luận của UB kiểm  tra T.Ư, ông ấy chỉ có 6 tài sản bất động sản cỡ bự , có “vấn đề” và trong 5 tháng trước khi về hưu ông ấy đã hối hả bổ nhiệm khoảng 60 cán bộ cấp vụ phó và tương đương...không biết ông ấy có bán chức không? bao nhiêu tiền, để dân phải còng lưng  ra nuôi...
Nhưng có nhiều ý kiến phẫn nộ khác. Ngay cả báo Pháp luật cũng phải nhiều lần lên tiếng về vấn đề này. “ Hàng loạt sai phạm “lộ thiên” mà theo điều tra của cơ quan UB kiểm tra trung ương là ít nhất 6 tài sản bất động sản thuốc “cỡ bự” của ông Truyền đều có vấn đề”. Một vài sai phạm của ông Truyền được kể ra như thiếu trung thực, thiếu gương mẫu, gây dư luận không tốt, thiếu tự giác...Hình thức xử lý đặt ra cho cựu Tổng Thanh tra chính phủ là kiểm điểm trách nhiệm về các khuyết điểm, vi phạm trước Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre và UB KTTW. Hai bất động sản bị thu hồi là căn nhà số 105 Nguyễn Trọng Tuyển, F15, Phú Nhuận, TP.HCM và thửa đất 598B5 Nguyễn Thị Định, F. Phú Khương, TX Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
So sánh giữa siêu lợi ích mà ông Truyền thu được dựa trên các tài sản không hợp lệ trên với mức đề xuất xử lý chỉ mang tính rút kinh nghiệm là chính, bạn đọc PLO đặt ra nhiều câu hỏi, trong đó nhức nhối nhất là “chẳng lẽ chỉ xử có thế?”(theo Phapluat- 25/11/2014).
Nhiều người nói rằng, vụ ông cựu Tổng Thanh tra gây sốc thật. Chỉ một ông quan chức thôi mà có được từng ấy tài sản bất minh, lại chỉ 5 tháng mà bổ nhiệm được khoảng 60 quan chức dưới quyền, vậy thì thử hỏi vô số những quan chức khác, trong bộ máy độc tài thiếu kiểm soát này mà “ĐB Trần Du Lịch nhấn mạnh: “nếu cứ duy trì bộ máy chính quyền địa phương 3 cấp với tất cả ban bệ hệ thống như hiện nay thì không dân nào đóng thuế nuôi nổi bộ máy này”(theo Vietnamnet – 21/10/2014), sẽ còn lạm dụng được đến cỡ nào? Liệu còn có bao nhiêu ông Truyền nữa? Và trong vô số ông Truyền đó, chỉ xử lý một ông, thì thật vô lý hết sức.

Khi hành vi trộm cướp được mỹ từ hóa

Trong các chế độ xã hội loài người từ xưa đến nay, trộm cắp, cướp giật là một trong những hành vi khiến cho mọi người phẫn nộ, khinh bỉ nhất. Để bảo vệ con người khỏi bị xâm hại bởi trộm cướp dù dưới bất kỳ hình thức nào, xã hội nào cũng đặt ra những hình phạt nghiêm khắc để răn đe và đảm bảo công bằng xã hội.  VN cũng vậy, nhưng qua nhiều ý kiến có trọng lượng vẻ việc xử lý chủ yếu chỉ tới dân đen, còn với quan chức thì vô cùng nương nhẹ.
Cùng là trộm cắp cướp giật – gọi chung là trộm cướp, nhưng do hoàn cảnh và tính chất hành vi nên thật khác nhau, khác nhau ngay cả tên gọi.

Dùng phụ nữ để hối lộ. Ảnh minh họa RFA
Dùng phụ nữ để hối lộ. Ảnh minh họa RFA

Có người thất nghiệp, sa cơ lỡ vận không còn miếng ăn, do đói khát mà sinh trộm cắp giật dọc lấy vài đồng bạc cơ hồ cứu mạng sống. Đó là cách trộm cắp của đám cùng dân khốn khổ, mặc dù đáng lên án, nhưng cũng không thể không xét đến hoàn cảnh cùng quẫn của họ, và tác hại xã hội họ gây ra không lớn, giỏi lắm cũng chỉ làm được vài vụ đơn lẻ, lại rất dễ bị bắt quả tang và dễ ngăn chặn. Họ là thường dân, không quyền lực, nên hành vi của họ được gọi đúng tên là trộm cướp.
Khác một trời một vực, ngay cả tên gọi hành vi cũng được mỹ từ hóa,  đối với đám trộm cướp bằng quyền lực, cấu kết với nhau thành một giai tầng còn nguy hại hơn bất kỳ băng đảng mafia nào trên thế giới.
Bởi vô số cuộc trộm cướp kiểu này xẩy ra cùng một lúc, hành vi trộm cướp của từng cá nhân và dàn giai tầng ấy chỉ chấm dứt khi cá nhân ấy chết hoặc hết nhiệm kỳ hoặc bị buộc phải ra khỏi hệ thống và không có điều kiện  tiếp tục trộm cướp nữa. Mặc dù vậy, cái giai tầng -  siêu băng đảng ấy vẫn tiếp tục trộm cướp thậm chí hàng thế kỷ theo sự tồn tại của thể chế độc tài.
Siêu giai tầng trộm cướp ấy được vận hành nhịp nhàng hiệu quả, tận dụng được nguồn nhân tài vật lực khổng lồ, rất ít  bị giám sát chi tiêu và hiệu quả đầu tư từ nguồn mà nhân dân cả nước đã đóng góp để nuôi hệ thống. Kinh hoàng hơn, siêu băng đảng trộm cướp này còn thu vét siêu lợi nhuận từ việc xẻo từng mảnh chủ quyền đất nước, từng miếng thị trường mậu dịch, từng miếng tài nguyên và nhân công lao động và bao thứ có thể bán được cho ngoại bang bành trướng để vơ vét siêu lợi nhuận cho quyền lợi riêng và quyền lợi nhóm.
Siêu băng đảng này có chân rết đến tận ngõ ngách sơn cùng thủy tận, vận dụng được mọi nguồn lực tuyên truyền và cấm cản sự minh bạch, tự do hóa thông tin, lợi dụng vị thế “Bao công” để bóp méo xuyên tạc sự thật cũng như buộc những kẻ trộm cướp khác phải cống nạp để được bảo kê  bằng cách vô hiệu hóa hệ thống pháp luật.
Siêu băng đảng ấy vận hành đồng bộ để lạm dụng được những  bánh răng và mắt xích của bộ máy hành chính, cơ quan đoàn thể và lực lượng an ninh , quân đội, lực lượng đàn áp của hệ thống độc tài. Lương trích ra từ tiền thuế của dân để vận hành cho bộ máy thì cũng vận hành luôn bộ máy trộm cướp. Chúng được thiết kế sao cho tiền của mỗi một khoản chi, mỗi sản phẩm tạo ra , mỗi khi người dân cần đến cơ quan công quyền đều phải trích ra và tự động chảy một phần vào cái hầu bao tối tăm của riêng chúng. Chúng lợi dụng đủ loại hệ thống bộ máy chính quyền đoàn thể, được trả lương để trộm cướp công khai, trộm cướp ngày ngày phút phút, rành rành trước mắt người dân ai cũng biết nhưng không thể làm gì trước quyền lực của chúng.
Siêu băng đảng trộm cướp ấy chính là bộ máy bị lũng đoạn bởi tham nhũng và tham ô.  Sản phẩm mà chúng trộm cướp là không thể tính đếm, không  chỉ tiền rừng bạc biển mà điều còn lớn hơn là chúng trộm cướp cơ hội của người dân, đất nước và khiến cho quốc gia bị mỏi mòn dần dà cạn kiệt hy vọng và  danh dự.
Theo định nghĩa của Tổ chức Minh bạch quốc tế, tham nhũng là lợi dụng quyền hành để gây phiền hà, khó khăn và lấy của dân. Tham ô là hành vi lợi dụng quyền hành để lấy cắp của công.
Như vậy, hành vi trộm cắp trong tham nhũng và tham ô, trong nhiều trường hợp phải gọi là cướp đoạt, vì không phải là lén lút nữa, mà là cưỡng đoạt công nhiên, nhiều lần trước cơ quan, đơn vị. Cán bộ cấp dưới, đồng nghiệp cũng như người dân biết nhưng nếu động đến  sẽ bị trù úm, đuổi việc, thậm chí trả thù bằng việc mượn tay côn đồ, xã hội đen đe dọa tính mạng.

Các “đồng chí” bảo kê cho nhau là khuyến khích trộm cướp

Điều 138 Bộ luật Hình sự quy định về tội trộm cắp tài sản là rất nghiêm khắc: Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm...
Nhưng cũng tại VN, những người trộm cắp có chức quyền, gây hậu quả hết sức nghiêm trọng cho xã hội thì lại được ưu tiên đặc biệt. Đó là những người phạm tội tham nhũng và tham ô.
Không phải vô cớ mà người dân nhìn những kẻ trộm cắp cướp đoạt của công ấy bằng con mắt khinh miệt, dù họ không thể không sợ hãi và tránh né bởi các quan trộm cướp ấy có cả một giai tầng cùng vị trí, cũng hành xử như họ, cũng được hưởng lợi từ sự trộm cướp của họ, bao che và bảo kê từ quá trình bắt đầu trộm cướp tới khâu cuối cùng là hạ cánh an toàn và nếu chẳng may phải ra trước vành móng ngựa thì được xử nhẹ nhất có thể, thường là được hưởng án treo hoặc chạy được bệnh án tâm thần để được đình chỉ điều tra, trì hoãn xử, trì hoãn việc thu hồi tài sản công đã bị trộm cắp cướp đoạt và kẻ tội phạm  kiểu này quan cứ ung dung hưởng thụ ngoài vòng hưprng thụ.
Báo Thanhtra.com đã đưa ra một phần thực tế về hiện trạng bất công này:
“Trình bày tham luận về vấn đề thu hồi tài sản tham nhũng theo khuôn khổ công ước liên hợp quốc về chống tham nhũng, một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật Quốc tế, Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú cho biết, thu hồi tài sản tham nhũng là vấn đề phức tạp, kỹ thuật đặc biệt từ góc độ pháp luật quốc tế và pháp luật trong nước, bởi quy định về tội phạm tham nhũng theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành vẫn còn khoảng trống so với phạm vi điều chỉnh của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC), đặc biệt là chưa hình sự hóa được các tội phạm tham nhũng trong khu vực tư nhân, chưa ưu tiên cao yêu cầu thu hồi tài sản.
Hiện nay, Việt Nam đã đưa ra bảo lưu đối với quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân, hành vi làm giàu bất hợp pháp trong UNCAC. Tuy nhiên, trên thực tế, những nội dung này nếu không được quy định trong pháp luật Việt Nam sẽ khó có thể tạo thành một khuôn khổ pháp lý toàn diện, đồng bộ và hiệu quả cho công tác PCTN và thu hồi tài sản.(theo Thanhtra.com- 29/10/2014).
Gần đây nhất, khi “đánh giá về báo cáo phòng chống tham nhũng của Chính phủ, ông Đỗ Văn Đương, Ủy viên thường trực Ủy ban Tư pháp của Quốc hội cho rằng, báo cáo nói tình hình tham nhũng "tương đối ổn định", trong khi dư luận rất bức xúc. Ông cũng cho rằng việc phân tích khó khăn, vướng mắc trong phát hiện tham nhũng thiếu cụ thể nên dẫn đến những kiến nghị rất nhạt.  Ông Đương cũng lưu ý rằng rất nhiều vụ án tham nhũng sau khi khởi tố điều tra thì bị can bị cáo bị bệnh tâm thần, phải chờ để giám định, hoặc bị đình chỉ khiến vụ án kéo dài. “Tôi cho rằng loại tội phạm này thì không cần phải đi giám định tâm thần nữa”, ông Đương nói.
Xác nhận điều này, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Văn Hiện lưu ý, kể cả các vụ án tham nhũng lớn, các bị cáo khi bị truy tố thường bị bệnh tâm thần và không phải chịu trách nhiệm hình sự, hoãn thời gian chịu trách nhiệm hình sự. “Tình hình này có vấn đề gì không, tâm thần thật hay là đối phó, nhiều vụ chúng tôi thấy các bị can bị cáo tỉnh táo, hoành tráng lắm”,..
Trang luatsungaynay đưa ra một hiện trạng khác. Theo con số mà Viện trưởng VKSND Tối cao Nguyễn Hòa Bình đưa ra khi trả lời chất vấn của Quốc hội hồi tháng 6-2013, tính đến năm 2013, tỉ lệ án treo đối với án liên quan đến tham nhũng là 30,8%, cao hơn các loại án khác (bình quân chỉ 21%). Còn theo Chánh án TAND Tối cao Trương Hòa Bình, con số cụ thể qua các năm là 36,5% (năm 2010), 37,1% (năm 2011), 30,2% (năm 2012).
Ông Nguyễn Mạnh Cường (Ủy viên Thường trực Ủy ban Tư pháp) nói: “Trong số án treo này, có trường hợp hành vi phạm tội rất nghiêm trọng nhưng tòa vẫn vận dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ, kéo mức án tuyên thấp dưới khung hình phạt, làm cơ sở để cho treo. Như vậy phải giải thích như thế nào?”.
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Đình Quyền khẳng định tòa các cấp đang  áp dụng có lợi cho tội phạm tham nhũng: Báo cáo của TAND Tối cao khẳng định các bản án treo đều đúng luật. Xin thưa, luật có bắt buộc tòa phải xử treo đâu? Cả nước phải coi chống tham nhũng như chống giặc nội xâm cơ mà.
Khi những “đồng chí cùng một giai tầng” nương nhẹ, bảo kê cho nhau, lại càng dẫn tới nguy hiểm là cách hành xử của đám quan chức này không những gây bất công xã hội mà còn vô hình trung nêu gương và cổ vũ cho một lối sống gian xảo, tàn nhẫn, lưu manh hóa, côn đồ hóa, khiến cho những người lương thiện mất cơ hội lao động, dần dà cũng bị buộc phải đi vào con đường lưu manh hóa để sống còn hoặc tuyệt vọng quay ra chém giết lẫn nhau, trong đó tiện lợi nhất là giết người thân, như vô số vụ gần đây tại VN.
Dù có mỹ từ hóa, bản chất  tham nhũng vẫn là trộm cướp. Hãy thôi mỹ từ hóa hành vi này của những kẻ trộm cướp đang nắm giữ quyền chức để chúng ta không còn mơ hồ về nhận diện và để vận dụng mọi nguồn lực chặt đứt nguồn dinh dưỡng của tham nhũng để cứu dân cứu nước.
VTH

Ối giời! Môn Lịch Sử


Blog Trần Kỳ Trùng
Trên tay tôi là ba quyển sách dạy lịch sử từ lớp 7 đến lớp 9 của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo.
Lớp 7 đến lớp 9, các em vừa mới qua tuổi nhi đồng, chưa đến tuổi trưởng thành, tâm lý đang hình thành, suy nghĩ chưa phải chín chắn. Ấy vậy, trong ba quyển sách giáo khoa về lịch sử, có những khái niệm, đến như tôi còn phải tra từ điển, thì thử hỏi, học sinh tuổi như các em làm sao hiểu được.
Dưới đây tôi xin lấy một số dẫn chứng:
Sách lớp 7 gồm hai phần:
Phần một – Khái quát lịch sử trung đại (gồm 7 bài) .
Tôi tự hỏi, học sinh lớp 7, một tuổi mới lớn, vắt mũi chưa sạch cần gì những nội dung bắt các em phải học như: Sự hình thành và phát triển của xã hội phong kiến ở châu Âu. Hay như : Cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống phong kiến thời hậu kỳ trung đại ở châu Âu.
Chỉ riêng khái niệm “ Xã hội phong kiến”, “ hậu kỳ trung đại”… người lớn, nhiều người đã hiểu chưa? Mà bắt các em học.
Đến phần hai của quyển sách lịch sử này kiến thức bắt các em học thuộc, hiểu mới thật kinh khủng – Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX, gồm 6 chương, 22 bài. Cho dẫu chỉ tóm tắt cũng là một sự “nhồi nhét” không hơn, không kém. Như chương I: Buổi đầu độc lập thời Ngô – Đinh – Tiền Lê ( Thế kỷ X) gồm hai bài: Bài 8:  Nước ta buổi đầu độc lập. Bài 9:  Nước Đại Cồ Việt thời Đinh – Tiền Lê. Tôi cứ tự hỏi, học sinh lớp 7 có cần nêu những sự kiện ( đến cả người lớn, nếu hỏi, có khi không nhớ, không biết) về tình hình chính trị, quân sự, sự phát triển kinh tế và văn hóa…của cuối thời Ngô, nhà Đinh, tiền Lê. Tiếp theo nội dung của cuốn sách giáo khoa lịch sử này là  các sự kiện dài dằng dặc bắt các em  học thuộc từ nước Đại Việt thời Lý ( thế kỷ XI – XII) kéo dài đến Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX. Bài nào cũng có tình hình kinh tế – xã hội, văn hóa, giáo dục… với những những dòng chữ khô khan, không có một chút nào gây hứng thú đến học sinh như: “ …Chính quyền phong kiến được hoàn thiện dần. Đứng đầu triều  đình là vua…cả nước chia làm năm đạo…dưới đạo là phủ, huyện…” ( trang 94 – Sách lịch sử lớp 7- NXBGD năm 2010). Nêu  khái niệm này giáo viên phải giải thích, so sánh mà giải thích, so sánh làm sao khi đầu óc non nớt của các em còn mải chơi bi, đá cầu… đâu có cần những khái niệm trìu tượng này. Điều cần nhất, ở tuổi các em, qua môn lịch sử sẽ hình thành, bồi đắp lòng yêu nước, nhưng nếu cứ dạy kiểu này chắc chắn không thể có được.
Giá như ở tuổi các em học sinh lớp 7, thay thế những kiến thức lịch sử khô khan như vậy, bằng những câu chuyện kể lịch sử của từng giai đoạn đó, hợp với lứa tuổi tâm lý, sinh hoạt của các em ( Những câu chuyện lịch sử hay, không thiếu trong sách vở, di tích đền chùa, lời kể của các cụ già, bậc cao niên…) hoặc như bằng hình thức đi tham quan đình chùa, di tích lịch sử có liên quan đến những giai đoạn lịch sử đang học rồi viết thu hoạch hay kể  lại những câu chuyện lịch sử mình đã biết, đã nghe, đã nhìn… dưới sự hướng dẫn của giáo viên, có phải tốt bao nhiêu. Học sinh vừa có kiến thức, vừa tạo hứng thú, vừa để các em yêu môn lịch sử. Tất nhiên, để làm tốt điều đó, đòi hỏi giáo viên lịch sử phải năng động, am hiểu lịch sử, có nghệ thuật truyền đạt, dẫn chương trình, quản lý giỏi.
Tiếc rằng, các trường sư phạm nói chung, đào tạo giáo viên dạy môn lịch sử nói riêng, gần như không chú trọng điều này.
Trong những quyển sách giáo khoa môn lịch sử dạy cho các em tôi đang cầm, hãi nhất là quyển lịch sử lớp 8 . Cũng hai phần, gồm 31 bài. Phần I, lịch sử thế giới – Lịch sử thế giới cận đại ( từ giữa thế kỷ XVI đến năm 1917) – Phần II, Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1918. những kiến thức “ cực khủng” buộc học sinh phải thuộc như chương I – Thời kỳ xác lập của Chủ nghĩa tư bản,  sau đó là một loại bài nói về cách mạng Hà Lan ( thế kỷ XVI), cách mạng tư sản Anh ( Thế kỷ XVII ), chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ với rất nhiều chi tiết, đọc hoa cả mắt, chứ chưa nói đến học thuộc. Sau bài này chốt lại hai câu hỏi “ khủng khiếp”: “ – 1) Lập niên biểu về cách mạng tư sản Anh và chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ. 2) Nêu ý nghĩa của các cuộc cách mạng tư sản đầu tiên?
Hai câu hỏi này, nếu như một số em ở thành phố lớn có cơ hội tiếp xúc, học hỏi…có thể làm được, thì các em ở miền núi, vùng khó khăn có cần phải biết đến “ cách mạng tư sản Anh”!!! Khi cơm ăn chưa no, đi chân đất, học bữa đực, bữa cái… Học lịch sử với một kiến thức quá tải, quả thật đây là một sự đánh đố, nhất là những em ở  vùng xa, còn khó khăn…
Đó chỉ là chương đầu tiên của cuốn sách giáo khoa lịch sử lớp 8. Nếu như các bậc phụ huynh có con cháu đang học lớp 8, chịu khó mở cuốn sách này, xem hết 31 bài, tôi tin chắc có chung một nhận định, học sinh không thể học hiểu, yêu môn lịch sử, trừ nói như con vẹt.
Dạy lịch sử, cho các em biết sự phát triển của từng thời kỳ lịch sử là cần thiết, nhưng nhất thiết phải phù hợp với từng tâm, sinh lý từng lứa tuổi. Với học sinh lớp 7, lớp 8 với những mục, chương…như tôi vừa dẫn chứng, có cần cho các em học ôm đồm như thế không? Hay chỉ cần nêu một số cuộc cách mạng tư sản tiêu biểu thông qua bằng những câu chuyện lịch sử, những hình ảnh, bộ phim video…để cho các em hiểu ( hiện nay với nhiều phương tiện thông tin hiện đại, điều này không khó với một giáo viên dạy sử). Ở tuổi này cũng có cần cho các em lập niên biểu, so sánh, hay nêu ý nghĩa của những cuộc cách mạng tư sản xảy ra xa lắc, xa lơ? Tôi muốn hỏi, các nhà soạn sách giáo khoa lịch sử: Điều này có giúp các em yêu lịch sử không? Gợi mở cho các em điều gì để áp dụng, hay so sánh với thực tế? Có giúp các em hình thành được một nhân cách tốt trong cuộc sống hay không?
Nếu không trả lời được những câu hỏi này, rõ ràng dạy lịch sử đã phản tác dụng.
Đến nội dung quyển sách giáo khoa môn lịch sử lớp 9 với nội dung : Phần I – Lịch sử thế giới hiện đại từ năm 1945 đến nay, gồm 13 bài, với nội dung bao quát gần như toàn bộ các cuộc cách mạng lớn trên thế giới từ năm 1945 đến nay và câu hỏi cuối cùng của chương này với một học sinh lớp 9: “ Tại sao nói “ Hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển” vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với các dân tộc?”. ( trang 54 – SGK lịch sử lớp 9 – NXB Giáo dục – 2014)
Quả thật, tôi không hiểu một em học sinh lớp 9 sẽ trả lời câu hỏi này như thế nào?
Phần II của quyển sách giáo khoa này là “ Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến nay) gồm 7 chương, 21 bài, diễn giải gần như toàn bộ lịch sử Việt Nam dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Tôi không đi sâu vào sự kiện, vì tôi tin rằng, giáo viên chỉ nêu sự kiện lịch sử xảy ra trong giai đoạn này cũng đã hết giờ, chứ chưa nói giải thích, diễn giải, minh họa… Tại sao không thể chọn ra một giai đoạn lịch sử nhất định, sự kiện lịch sử tiêu biểu để giảng dạy cho các em, nhất là những phong trào yêu nước của người dân Việt Nam, như khởi nghĩa Yên Bái, hình ảnh lẫm liệt của anh hùng Nguyễn Thái Học (Quốc Dân Đảng)…Vậy trong quyển SGK này những sự kiện, nhận vật này nêu rất sơ sài, ngược lại sách giáo khoa đặt rất nặng những sự kiện về đảng, từ lúc mới manh nha là  những tổ chức đảng ở ba miền tiến tới, do yêu cầu của lịch sử, thống nhất thành một tổ chức. Tuy vậy cũng không biết sự kiện nào là chính, sự kiện nào là phụ. Nhưng giá như đây là những câu chuyện lịch sử hấp dẫn thì SGK Lịch sử lớp 9 viết một nhận định y như giáo trình lịch sử đảng: “…sự ra đời của ba tổ chức cộng sản là một xu thế tất yếu của cách mạng Việt Nam. Các tổ chức cộng sản trên đã nhanh chóng xây dựng cơ sở đảng tại nhiều địa phương, trực tiếp và tổ chức lãnh đạo nhiều cuộc đấu tranh của công nhân và nông dân. Phong trào công nhân kết hợp chặt chẽ với phong trào đấu tranh của nông dân chống sưu cao thuế nặng, chống cướp ruộng đất, với phong trào bãi khóa của học sinh ,bãi thị của tiểu thương…tạo thành một làn sóng đấu tranh cách mạng dân tộc dân chủ khắp cả nước.”  ( Trang 69 – SGK Lịch sử -NXB Giáo dục -2014). Liệu giáo viên dạy bộ môn này, ở chương trình phổ thông cơ sở, với 45 phút, chỉ riêng đoạn văn này, giải thích như thế nào để các em hiểu. Có cần thiết đưa đoạn văn trên vào bài giảng không? Ta có thể tìm ra vô số những nhận định lịch sử khô khan, máy móc, áp đặt… gây khó cho giáo viên cũng như học sinh trong quyển sách giáo khoa lịch sử này. Cứ mỗi chương lại có những câu hỏi ngang với thi vấn đáp của học sinh đại học  như :“1) Tại sao nói sự ra đời của ba tổ chức cộng sản vào năm 1929 là xu thế tất yếu của cách mạng Việt Nam? 2)  Hãy cho biết những yêu cầu bức thiết về tổ chức để bảo đảm cho cách mạng Việt Nam phát triển từ năm 1930 về sau?”.( trang 71-đã dẫn).
Điều đặc biệt, những giai đoạn lịch sử gần đây, nghĩa là vẫn còn nhân chứng, vật chứng…thì nội dung quyển sach giáo khoa này vẫn “ rập một khuôn” như viết giáo trình đại học, bắt các em mới mười bốn, mười lăm học. Ví như phong trào đồng khởi ở Bến Tre dưới sự lãnh đạo của bà Nguyễn Thị Định, nhiều sự kiện nổi bật, nhân vật hay, có những trận đánh lớn, gay cấn…lẽ ra SGK dẫn chứng cho học sinh đọc, hiểu, thì ngược lại, trích dẫn những nghị quyết, nhận định của đảng rồi tóm tắt bằng mấy dòng gần như đọc lên học sinh không biết hiểu như thế nào, vì nội dung rất chung chung: “…Quân khởi nghĩa đã phá vỡ từng mảng lớn bộ máy cai trị và hệ thống kìm kẹp của địch ở thôn xã. Ở những nơi đó,Ủy ban nhân dân tự quản được thành lập, lực lượng vũ tráng ra đời và phát triển, ruộng đất của địa chủ cường hào bị tịch thu đem chia cho dân cày nghèo…” ( trang 135 – đã dẫn). Cuối cùng là câu hỏi: “ Phong trào “đồng khởi”( 1959-1960) nổ ra trong hoàn cảnh lịch sử nào? Diễn biến,kết quả và ý nghĩa của nó?”. (trang 135- dã dẫn). Chịu!
Đặc biệt với bài 32- Xây dựng đất nước, đấu tranh bảo vệ tổ quốc ( 1976 – 1985) với hai cuộc chiến tranh ở biên giới Tây nam và biên giới phía bắc chống quân Pôn pốt và Đại Hán xâm lược, quyển sách GK lịch sử này viết cực kỳ sơ sài, không nêu được tội ác diệt chủng của hai thế lực phản động này, cũng không chỉ cho các em thấy âm mưu thâm độc  muốn thôn tính Việt Nam của chúng.  Không một tấm gương anh hùng nào của nhân dân, quân  đội Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lược Pôn pốt và Đại Hán được trích dẫn ( trang 173 – đã dẫn).
Theo tôi đây là một sai lầm nghiêm trọng của những người viết quyển sách GK này.
Tôi được biết rằng, hiện này Bộ GD-ĐT vẫn muốn có một bộ sách giáo khoa chung, nếu vậy vẫn đi vào vết xe đổ như bao lần cải cách sách giáo khoa. Với môn lịch sử, muốn cho học sinh yêu, thích học môn này điều cần thiết, phải làm cho các em yêu lịch sử ngay nơi mình sinh ra, gia đình, bà con họ hàng đang sống, yêu quê hương, rộng ra yêu và tự hào với lịch sử đất nước. Nên thế, ngay từ lúc học phổ thông cơ sở, ngoài chính sử, chỉ cần những sự kiện, nhân vật tiêu biểu để các em nắm được, nhất thiết trong giảng dạy phải gắn với lịch sử địa phương nơi các em đang học bằng các phương pháp trực quan như đi tham quan di tích lịch sử, nghe kể chuyện, đọc sách, xem phim…rồi các em viết thu hoạch, diễn  kịch, hay kể lại những câu chuyện lịch sử đó… như vậy tốt bao nhiêu, các em sẽ hứng thú học lịch sử.
Còn cứ dạy và học lịch sử, như tôi nêu những ví dụ trên, tuy còn sơ sài, đến người lớn cũng chán học lịch sử, đừng nói các em.
Mà để các em chán học lịch sử, nguy hiểm vô cùng.
Đó là sự tiềm ẩn của nguy cơ mất nước.

Một hình ảnh lãng mạn

Chị Dương Thị Tân (ngoài cùng bên trái), Tôi, vợ tôi và Phạm Thanh Nghiên
Chiều qua mẹ con chị Dương Thị Tân bay từ Sài Gòn ra Hải Phòng vì công việc gì đó, ghé thăm…

Được hân hạnh giam chung cùng Hải- bloger ĐC 4 tháng trong trại giam số 6 - Thanh Chương - Nghệ An, ra tù, được vài ngày, chỉ liên lạc qua điện thoại cầm tay với chị Tân được vài phút. Biết chị rất bận qua giọng nói; nghĩ vài ngày nữa sẽ gọi lại… Rồi trưa ngày 23/9, may mắn có cuộc tiếp xúc với bà Jennifer Neidhart de Ortiz, dành nhiều thời gian (trong khoảng thời gian ít ỏi của chương trình) để nói về HĐC. Người đầu tiên tôi đề nghị chính phủ Mỹ thương thuyết VN trả tự do là HĐC, sau đó đến Tạ Phong Tần và Trần Huỳnh Duy Thức… rồi bất ngờ nhận thông tin anh Hải đi Mỹ...
Lúc này, hầu như bản thân đã hết việc, hết trả lời phỏng vấn, hết chiến hữu, đồng sự, thương mến thăm hỏi. Bắt đầu tiêu khá nhiều thời gian quan tâm đến chị Tân. Quả tình rất cảm mến chị. Hình ảnh chị tràn ngập trên các video clip, tiếng nói của chị sang sảng trên các phương tiện thông tin đại chúng, từ Quốc nội, Hải Ngoại, đến Quốc tế. Cuộc chiến đấu của chị trải dài từ Sài Gòn đến Hà Nội, dành phần lớn cho sự tự do của anh Hải ĐC. Chị đã góp phần quan trọng đưa anh Hải thoát khỏi nhà tù CS tàn bạo.

Chị Tân rất vội, chỉ lưu lại nhà vợ chồng tôi khoảng 30 phút, không kịp hỏi tôi, anh HĐC đã sinh hoạt, đã chịu đựng, đã nghĩ thế nào trong trại giam số 6 - Thanh Chương… Chị nhấp nhổm vì một công việc gì đó ở Hà Nội. Hình như người phụ nữ mạnh mẽ này luôn muốn kết thúc công việc hiện tại để nhanh chóng bắt tay vào một công việc mới, cũng như chị đã làm rất vội vàng, rất dồn dập trong cuộc chiến đấu của chị cho sự tự do của anh Hải Điếu Cày và cho sự đoàn tụ của gia đình.

Bây giờ cuộc chiến đấu ấy đã kết thúc.? 

Tôi rất mong chị sẽ tiếp tục cuộc chiến đấu mới của chị cùng chúng ta mặc dầu hoàn cảnh, tuổi tác, xuất phát điểm của chị không giống như LS Lê Thị Công Nhân, Phạm Thanh Nghiên, Phương Uyên, Huỳnh Thục Vy… Có chị chúng ta có thêm một người đi từ cuộc chiến cho cái TÔI sang cái cho CHÚNG TA. Có chị chúng ta sẽ có thêm một truyền thống gia đình làm cách mạng dân chủ hóa đất nước giống LS Lê Thị Công Nhân, mẹ và chồng, như Phạm Thanh Nghiên và Mẹ, giống như cả gia đình Huỳnh Thục Vy… 

Anh Hải đã ở Mỹ…

Cũng có thể chị phải thu quân cởi giáp, kết thúc cuộc chiến riêng của mình vì nhiều lý do, nhìn thấy và không nhìn thấy được.

Dù vậy hình ảnh của Chị, cuộc chiến của chị cho tự do của một con người, cho sự đoàn tụ vợ chồng… sẽ gợi cảm cho những trang văn, trang thơ, các bản ngạc…, ngay lúc này và lâu dài về sau. Và dù bắt đầu tuổi xế chiều trong cảnh "Vầng trăng ai xẻ làm đôi?/ Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.”… với tôi, chị vẫn là một hình ảnh lãng mạn…

Đêm ngày 24-25/ 11/ 2014


Suối lệ dưới vành khăn tang cô phụ

Vĩnh Phú, Nam Việt Nam, 19/4/1975- Người thiếu phụ trẻ bước đến chiếc quan tài phủ lá quốc kỳ và bắt đầu khóc nấc.

Chị cúi đầu và chắp tay lặng lẽ cầu nguyện.

Với đôi mắt đẫm lệ, chị quay sang bàn thờ Phật gần dãy quan tài và thắp hương. Rồi chị lại cúi đầu.

Chị 21 tuổi, mặc áo bà ba trắng vải hoa giản dị và chiếc quần đen quá rộng.

Chỉ mới cách đây hai giờ, chị chợt biết mình đã trở thành góa phụ.

Trước mặt chị là chiếc quan tài của chồng, trung úy Trần Văn Đại, tử trận cách đây 10 ngày khi chiến đấu cùng Sư đoàn 18 Bộ binh trong trận đánh bảo vệ Xuân Lộc, cách Sài Gòn 34 cây số về hướng đông bắc.

Hôm nay, quan tài của trung úy Đại sẽ được chôn cất ở Nghĩa trang Quân đội Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa, cách Sài Gòn 16 cây số về hướng bắc. Anh sẽ an nghỉ ở đây cùng với 16.000 chiến hữu khác.

Và hôm nay anh sẽ được an táng cùng với binh nhì Lê Tết, binh nhì Bát Thiên, hạ sĩ Trần Duy Tân, thượng sĩ Phạm Văn Sửu, hạ sĩ Nguyễn Văn Sanh, trung sĩ Thanh Sưu Thiên và hai chục người lính khác, hầu hết họ đều tử trận ở khu vực Xuân Lộc trong 10 ngày qua.

Được khởi công vào năm 1968, Nghĩa trang Quân đội Quốc gia này là nơi an nghỉ cuối cùng bên cạnh nhau của sĩ quan và lính, theo Phật giáo và Công giáo, gần giống như nghĩa trang Arlington.

Nơi an nghỉ vĩnh hằng này đúng là ốc đảo thanh bình nằm giữa bao cảnh sinh hoạt tất bật ở nơi nào khác bên ngoài trong miền quê xung quanh, với những chiếc xe tải chạy ầm ầm trên xa lộ Sài Gòn-Biên Hòa sát bên, và những tiếng đại bác từ xa dội về.

Ở góc nghĩa trang, những người thợ làm quan tài đóng những chiếc hòm gỗ. Những người thợ khác đúc những tấm bia mộ bằng xi măng. Đài tưởng niệm trên đỉnh đồi vẫn đang được xây dựng nhưng với tình hình chiến sự ngày càng xấu đi ta không biết liệu công trình ấy có hoàn tất được không.

Ở góc khác của nghĩa trang, sự tĩnh lặng bị phá tan bởi những tiếng gào khóc ai oán vọng đến từ những phụ nữ bi thương khi họ được cho phép nhận diện người thân gần gũi nhất đã khuất của họ, hay chỉ những đồ vật cá nhân.

Và chính ở đây những quan tài mới đóng xong được phủ lá cờ vàng ba sọc đỏ tươi của Nam Việt, rồi được sắp đặt để thực hiện tang lễ theo nghi thức Phật giáo và Công giáo. Và tại đây những người thân khóc thương tập trung lại để thắp hương hay đặt hoa trên quan tài, dưới cây Thánh giá hay dưới tranh Đức Phật.

"Tôi biết anh ấy sẽ chết," người góa phụ trẻ của người trung úy quá cố nói." Tôi đi coi bói và biết chồng tôi sẽ tử trận vào tháng Tư, 1975.

"Anh ấy mới 30 tuổi và chúng tôi cưới nhau cách đây ba năm. Anh ấy rất hạnh phúc, sung sướng. Tôi đã sống với anh trong khu gia binh ở Xuân Lộc, nhưng cách đây ba tuần khi chiến sự bắt đầu anh khăng khăng bắt tôi phải về lại Sài Gòn. Anh cho địa chỉ báo tử ở nhà cha mẹ anh ở Đà Lạt, và vì thế họ chỉ mới tìm được tôi vào sáng hôm nay để báo tin.

"Anh thường viết thư kể tôi nghe đơn vị của anh đã chiến đấu anh dũng và cuối thư anh luôn luôn hứa sẽ kể cho tôi nghe nhiều hơn về cuộc chiến. Trong lá thư cuối cùng, anh chẳng nói gì về những hiểm nguy anh đang đương đầu.

"Trong những lần duy nhất anh nhắc đến cái chết với tôi, anh thường nói anh ước gì có con. Có lần anh nói nếu anh có con anh sẽ chết hạnh phúc.

"Nhưng chúng tôi không bao giờ có con nữa."

Trong số hàng trăm ngàn người Việt chết trong cuộc chiến tranh này chỉ một số ít người được an táng ở Nghĩa trang Quân đội Quốc gia, phần do nghĩa trang này mới có và phần vì nhiều người thân của những người lính tử trận thích chôn cất người thân gần quê quán.

Tuy sĩ quan và lính nằm an nghỉ cuối cùng bên cạnh nhau, nhưng có sự sắp đặt đặc biệt cho năm vị tướng cầm quân đã tử trận và trước đấy đã yêu cầu được an táng cùng với binh lính của họ.

Ngoài những người thân gần gũi nhất đến nhận diện người thân của mình và dự tang lễ, chẳng có nhiều người đến nghĩa trang, đặc biệt lúc trưa vào ngày nóng như thiêu đốt này.

Nguồn:

Báo Los Angeles Times ngày 19 tháng 4, 1975. Tựa đề của người dịch. Nguyên tác tiếng Anh "Vietnam's 'Arlington'-an Oasis of Sorrow".


Biết tạ ơn ai

Đời vẫn vốn không nương người thất thế.
Nguyễn Tất Nhiên

  - Những ngày cận lễ, tôi hân hạnh nhận được qua email một bài viết mới (“Thanksgiving 2014 & Dân Việt Tỵ Nạn”) của nhà văn Giao Chỉ. Xin được trích dẫn đôi đoạn ngắn để chia sẻ cùng độc giả:

Quả thực người Mỹ đã có đầy đủ lý do để giữ gìn truyền thống với ngày Lễ Tạ ơn vào tháng 11 mỗi năm. Lịch sử ghi rằng vào năm 1620 có một nhóm gia đình người Anh theo Tin Lành đã đi tìm đất mới để sống đời tự do tín ngưỡng...

Trải qua một năm đầu với mùa đông khắc nghiệt, không đủ thực phẩm, không có đủ quần áo, không có nơi cư trú nên di dân đã phải chôn cất 46 người. Qua năm sau, mùa gặt 1621 thành công, di dân cùng dân da đỏ bản xứ tổ chức tiệc mừng lễ tạ ơn trên đất Mỹ.

Đó là ngày lễ hội đầu tiên tại Mỹ Châu và truyền thống còn mãi đến ngày nay... 

Đạo luật quốc tịch của Hoa Kỳ ban hành 1790, hơn 200 năm trước đã có những lời vàng ngọc như sau: Bất cứ ai tị nạn đến Hoa Kỳ, sau khi được xác nhận sẽ hưởng quy chế nhập cư.

Như vậy chúng ta hiểu một cách giản dị là nếu đã đến Mỹ thì sẽ có cơ hội trở thành người Mỹ. Căn cứ vào điều khoản của luật 1790, một đạo luật khác đã ra đời năm 1975 có tên là Indochina Migration and Refugee Act...

Khi miền Nam xụp đổ tháng 4-1975 đợt di tản đầu tiên của người Việt đã mở ra một đầu cầu quan trọng cho lịch sử di dân từ Châu Á. Những chuyến đi vô cùng mạo hiểm của thuyền nhân đã làm thành thiên anh hùng ca của con đường đi tìm tự do với hàng ngàn con tàu May Flower của dân Việt đã ra đi trong đó nhiều di dân không bao giờ đến được miền đất Hứa...​

Và dù 5 ăn 5 thua con tàu Mayflower Việt Nam đã ra đi từ khắp miền duyên hải có khi chỉ là những chiếc ghe nhỏ bé mong manh.

Người Việt đã vì nhiều lý do để ra đi suốt bao nhiêu năm qua. Và danh từ Boat People trong tự điển thế giới đã không còn cùng ý nghĩa xưa cũ để chỉ những người sinh sống ở trên thuyền. Boat People ngày nay có nghĩa là người Việt đã đi tìm tự do bằng thuyền vượt biển Nam Hải.

Lịch sử các cuộc di dân của nhân loại đã đưa đến nhận định rằng Ta không thể lựa chọn sinh quán, nhưng ta có thể chọn lựa để sống ở miền đất mà chúng ta yêu quý. (You cannot choose the land you birth, but you can choose the land you love).

Nhận định này, tiếc thay, không hẳn đã hoàn toàn đúng với tuyệt đại đa số người Việt đang sống lây lất ở Cambodia. Phần lớn họ không được chính phủ sở tại xem là cư dân hợp pháp nên vẫn cứ là những boat people (bấp bênh sinh sống trên thuyền) ở Biển Hồ, và nhiều bến bờ khác nữa xuôi theo dòng sông Tonlé Sap.

Ảnh NCB – November 2014

Sau một chuyến đi thăm đồng hương ở đất nước này, nhà báo Văn Quang kết luận: 

“Hầu hết là người Việt Nam lưu lạc qua Campuchia vì nhiều lý do khác nhau. Nhưng tựu chung họ là những người đi kiếm sống ở một vùng tưởng rằng đó là đất hứa... Trước hay sau họ cũng phải tìm đường đi thôi. Nhưng đi đâu, làm cái gì để sống là những hòn đá tảng níu chân họ lại. Rồi bao nhiêu đời vẫn cứ thay nhau lầm than cơ cực ở nơi xứ người này, không có lối thoát. Họ vẫn chỉ có một ý nghĩ, ở đây họ còn có chiếc thuyền, dù rách nát, nhưng họ vẫn có một nghề chài lưới kiếm sống qua ngày. Đi nơi khác, chẳng biết bấu víu vào đâu!”

Ảnh NCB – November 2014

Trong bản tường trình (The Situation of Stateless Ethnic Vietnamese in Cambodia) của MIRO – Minority Rights Organization – phổ biến vào tháng 3 năm 2014, tổ chức này đã ví von đám người Việt đang sinh sống nơi đây là “những kẻ đang sống ngoài cửa thiên đàng.” Ngay giữa thiên đàng của xứ Chùa Tháp (ngó bộ) cũng không hạnh phúc hay tự do gì cho lắm, nói chi đến thân phận của những kẻ còn “kẹt” ở bên ngoài.

Họ “kẹt” cái gì vậy Trời?
Xin thưa cái... quốc tịch Cambodia. 

Nhà văn Giao Chỉ cho biết “Đạo luật quốc tịch của Hoa Kỳ ban hành 1790, hơn 200 năm trước đã có những lời vàng ngọc như sau: Bất cứ ai tị nạn đến Hoa Kỳ, sau khi được xác nhận sẽ hưởng quy chế nhập cư.” Cao Miên không phải là Mỹ Quốc nên xứ sở này không có luật lệ gì đàng hoàng và rõ ràng, cùng với những lời lẽ “vàng ngọc” như vậy. 

Vô số người Việt sinh đẻ ở Miên còn chưa được cấp cái giấy khai sinh, nói chi đến những thứ xa xỉ như thẻ căn cước hay quốc tịch. Và không quốc tịch cũng có nghĩa là không có quyền tiếp cận với tất cả những dịch vụ và quyền lợi tối thiểu như người dân bản xứ: không y tế, không giáo dục, không có quyền sở hữu đất đai hay tài sản…

Thực ra thì những người dân trôi sông lạc chợ này cũng chả ai biết (hay dám) đòi hỏi quyền lợi gì ráo trọi. Tất cả chỉ mong được sống cho nó yên thên thôi nhưng sự mong muốn giản dị này – xem chừng – vẫn còn rất xa tầm tay của họ. 

Chính phủ Cambodia đang tiến hành một cuộc kiểm tra dân số mà nhiều quan sát viên cho rằng mục đích chính của nó là nhắm vào đám dân Việt Nam đang ngụ cư ở đất nước này. Ông Sok Hieng – công nhân xây cất, 33 tuổi, sinh ở Nam Vang nhưng có bố mẹ gốc việt – bầy tỏ sự lo âu: “Tôi sợ rằng mình sẽ buộc phải rời khỏi Cambodia vì tôi chưa có thẻ căn cước. Khi tôi đến Việt Nam, họ coi tôi là người Miên; tôi ở giữa người Miên và người Việt.” (Sean Teehan & Phak Seangly. “Vietnamese wary of planned census.” The Phnom Penh Post 26 August 2014).

Nỗi lo sợ của Sok Hieng đã trở thành sự thực vào hai tháng sau, vân theo The Phnom Penh Post, số ra ngày 3 tháng 10 năm 2014: “Chỉ trong vòng một ngày 142 người di dân bất hợp pháp Việt Nam đã bị trả qua biên giới – Census deportations hit 142 in single day.”

Cùng với sự bất an, nếp sống bấp bênh và nghèo khó là nét nổi bật trong sinh hoạt hàng ngày của đa số dân Việt ở Cambodia – theo như tường trình của thông tín viên Quốc Việt, RFA:

“Hầu hết người Việt sống trên làng nổi, theo bờ sông đều không có đất đai sản xuất nên họ bắt buộc lăn lộn lén lút đi đánh bắt cá. Các gia đình đều muốn cho con em có nơi chỗ ăn học để vươn lên trong xã hội và đóng góp cho đất nước tuy nhiên tất cả đều không có khả năng.”

Nhiều năm trước, sau khi chia tay đồng bào mình ở Cambodia – vào tháng 12 năm 2008 – nhà báo Văn Quang vẫn còn nhìn ngoái lại, với rất nhiều ái ngại:

“Hình ảnh những bà cụ già lưng còng lom khom trên chiếc ghe mỏng manh, những đứa trẻ con người Việt tháo láo mắt nhìn khách lạ, những gia đình 7-8 đứa con sống lúc nhúc trên chiếc ghe rách tơi tả còn bám theo tôi mãi.”

Đến hôm nay chúng tôi mới lò dò đến xứ sở này, và kinh ngạc nhận ra rằng hình ảnh của “những bà cụ già lưng còng lom khom trên chiếc ghe mỏng manh, những đứa trẻ con người Việt tháo láo mắt nhìn khách lạ” vẫn còn nguyên vẹn như xưa. Thời gian, dường như, không hề trôi trên những bến nước ở nơi đây.

Ảnh NCB. November 2014

Chúng tôi ghé làng nổi Kandal và Chong Kok, thuộc xã Phsar Chhnang – tỉnh Kampong Chhnang – nằm ở phần đuôi của Biển Hồ (nơi hiếm có khách du lịch nào lai vãng) vào cuối tháng 11 năm 2014. Theo lời ông trưởng thôn: nơi đây có 931 gia đình người Việt, nhân khẩu chính xác là 4,760, tất cả đều là người Việt hay gốc Việt. 

Người Miên và người Chàm không sống trên ghe, và họ có quyền lựa chọn một lối sống bình thường (trên bờ) như đa phần nhân loại. Số dân Việt Nam đang trôi nổi ở xứ Chùa Tháp thì không. Họ là thứ sắc dân vô tổ quốc (stateless ethnic Vietnamese, theo như cách gọi chính thức của các N.G.O đang hoạt động ở Cambodia) nên không có quyền sở hữu tài sản hay đất đai, và buộc phải chấp nhận một nếp sống rất bồng bềnh, và vô cùng bấp bênh – như hiện cảnh.

Chúng tôi đi ghe vòng vòng thăm hỏi và trò chuyện với chừng chục gia đình người Việt, những thuyền nhân (boat people) ở Kampong Chhnang. Không ai chuẩn bị gì ráo trọi cho mùa Thanksgiving này cả. Họ hoàn toàn không có chút khái niệm gì về Lễ Tạ Ơn. Họ biết tạ ơn ai, và “tạ” về chuyện gì đây? 


Ảnh NCB. November 2014


Kinh tế Việt Nam sẽ sụp đổ trong những năm sắp tới?!

Nhìn vào sự tranh dành ngân hàng giữa các nhóm đảng viên CSVN để sống còn. Nhóm của chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đang tranh dành với nhóm của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Ông Nguyễn Sinh Hùng đang tranh dành chức Thủ Tướng với ông Dũng, nếu không có tiền thì khó lòng thắng ông Dũng. Nhóm Nguyễn Tấn Dũng đang nắm hệ thống ngân hàng. Khi kinh tế kiệt quệ thì nhóm nào còn tiền sẽ thắng. Tại sao tôi lại dự đoán kinh tế CSVN sẽ sụp đổ trong tương lai gần?
1. Những dấu hiệu đã bắt đầu hiện rõ tương tự như kinh tế Mỹ trong thời suy thoái những năm 2008-2010. Những ngân hàng nhỏ khánh tận và phải nhập vào những ngân hàng lớn. Sau đó những ngân hàng lớn cũng khánh tận và chính phủ Mỹ phải in dollars để cứu những ngân hàng lớn. Thị trường chứng khoán và địa ốc tuột dốc thê thảm. Hiện tượng này đang xảy ra tại VN.

2. Nợ công quá cao. Phải dùng 65% tổng sản lượng quốc gia để trả nợ. Đây là con số chính thức do đảng CSVN xác nhận. Thực tế có thể còn cao hơn.

3. Chi quá nhiều công quỹ để trả lương cho hệ thống chính phủ và hệ thống đảng vận hành song song rất tốn kém.

4. Chi phí quá nặng nuôi một bộ phận công an quá đông để đàn áp và cướp của dân. 

5. Quốc gia Miến Điện đang phục hồi dân chủ và đầu tư ngoại quốc đang đổ vào Miến Điện sẽ làm giảm đầu tư vào Việt Nam.

6. Nam Hàn đang đầu tư vào nhân công rẽ ở Bắc Hàn. Chủ tịch Bắc Hàn Kim Jong-Un giết các tay chân thân Tàu, và Kim Jong-Un đang chống TQ. Dân Bắc Hàn sẽ chết đói và Kim Jong-Un sẽ không còn chọn lựa nào khác là mở cửa mời Nam Hàn xây dựng thêm cơ xưởng ở Bắc Hàn giúp tạo công ăn việc làm. Cách đây 40 năm TQ dưới thời Đặng Tiểu Bình đã bắt tay với Mỹ để cứu đói dân TQ. Hiện tại Nam Hàn đã có công ty sản xuất tại bên trong Bắc Hàn. Nam Hàn sẽ chọn đầu tư vào Bắc Hàn thay vì Việt Nam vì ít hao tốn tiền chuyên chở cộng thêm nhân công rẽ và không bị bất đồng ngôn ngữ. Kim Jong-Un vừa lên tiếng kêu gọi trở lại bàn đàm phán vô điều kiện với 6 quốc gia về vấn đề võ khí nguyên tử mà trước đây Bắc Hàn đã tẩy chay. Kin Jong-Un đang muốn xích gần hơn với Nam Hàn để kiếm ăn.

7. Ngư phủ VN không dám ra Hoàng Sa và Trường Sa đánh cá vì sợ TQ húc chìm tàu. Nhiều triệu người sống nhờ biển sẽ thất nghiệp.

8. Hàng trăm tàu đánh cá lớn của TQ vào biển VN bắt cá, tôm, mực, rùa mỗi ngày. TQ dùng các loại lưới cào thì chỉ trong vòng 2 năm biển miền Bắc và miền Trung VN sẽ hết cá.

Chúng ta phân tích điểm số 1: Chính phủ Mỹ đã cho in cả nghìn tỷ dollars để cứu hệ thống ngân hàng khỏi bị sụp đổ trong thời kỳ suy thoái. Những ngân hàng lớn của Mỹ như Bank of America, Citi Bank, và hai ngân hàng liên bang Fannie Mae and Freddie Mac, JP Morgan phải mượn chính quyền liên bang cả 200 tỉ Mỹ kim cho mỗi ngân hàng. Thế giới hiện tại vẫn sử dụng Mỹ kim làm bản vị trao đổi hàng hóa, thực phẩm, do đó Hoa Kỳ có thể in tiền để cứu nguy kinh tế mà không sợ các quốc gia khác không nhận Mỹ kim. Khi hệ thống ngân hàng Việt Nam bị sụp đổ thì đảng CSVN không thể in tiền VN để trả nợ ngoại quốc hoặc nhập cảng hàng hóa vì tiền "Đồng" của VN không có giá trị bên ngoài VN, và chắc chắn là không có sức mạnh như Mỹ kim. Người dân VN muốn bảo vệ tài sản thì nên cất giữ Mỹ kim, vàng hoặc gửi tiền ở các ngân hàng ngoại quốc. Đảng CSVN trong những ngày sắp tới sẽ bòn rút ngoại tệ từ dân. Để cứu nguy kinh tế nội địa thì đảng CSVN sẽ bán công phố phiếu ngắn hạn, dài hạn và cướp quý kim và ngoại tệ của dân. Sau khi những biện pháp đó không ngăn chận được được kinh tế sụp đổ thì đảng CSVN sẽ in rất nhiều tiền để mua hàng hóa, thực phẩm nội địa đem xuất cảng, và như thế tiền VN sẽ lạm phát và thực phẩm tiếp tục tăng giá không biết tới đâu?
Chúng ta tiếp tục phân tích điểm thứ 2, 3 và 4: Cả 3 điểm này có liên hệ với nhau. Trước hết chúng ta cần chia nợ công ra làm hai loại. Loại thứ nhất là nợ người dân trong nước do đảng CSVN phát hành công khố phiếu, loại này ít phải lo hơn loại nợ thứ 2 là nợ vay từ ngân hàng ngoại quốc. Loại nợ thứ nhất có thể trả bằng tiền VN và có thể giật nợ mà người dân chẳng làm gì được chế độ độc tài toàn trị. Loại nợ thứ 2 phải trả bằng Mỹ kim hoặc Euro. VN hiện nay mang loại nợ thứ 2 rất nhiều. 

Hệ thống chính quyền của CSVN bao gồm hệ thống chính phủ và hệ thống đảng. Ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng là đảng trưởng đảng CSVN nhưng đảng không trả lương cho ông ta. Ông Trọng nhận lương từ tiền thuế của dân để phục vụ cho đảng CS, khi ông về hưu thì dân tiếp tục nai lưng trả tiền hưu. Một ông Chủ Tịch Huyện của hệ thống chính phủ lại kèm theo một ông Huyện Ủy của hệ thống đảng, cả 2 ông đều lãnh lương từ tiền thuế của dân. Khi tiền lương ít ỏi của công nhân nghèo bị trừ một phần để gọi là xóa đói giảm nghèo nhưng thực chất là đảng CSVN bóc lột công nhân để nuôi những người Huyện Ủy, Tỉnh Ủy, Quân Ủy và ủy ban thường vụ BCT đảng CSVN. Công nhân làm kiệt sức để trả lương cho các ngài Ủy... chỉ ngồi không ăn bác vàng, bên cạnh đó người dân phải đóng tiền tham nhũng cho cả 2 người, Chủ Tịch Huyện và Huyện Ủy. Công nhân cần phải mạnh mẽ chống lại việc trừ lương để xóa đói giảm nghèo và mọi hành động bóc lột khác từ "đảng" cho đến khi đảng CSVN ngưng trả lương cho các ủy viên đảng CSVN. Nhân viên của đảng CSVN, làm việc đảng thì đảng trả lương chứ hà cớ gì bắt dân trả lương? Đảng CSVN bắt công nhân nghèo phải trả lương cho những ủy viên nhà giàu là việc làm đầy áp bức, bóc lột. 

Đảng CSVN chu cấp hậu đãi, trang bị vũ khí và dụng cụ điện tử tối tân cho một tập thể rất lớn công an và dư luận viên. Họ chỉ có mục đích theo dõi, đàn áp dân và tham nhũng. Đảng CSVN cần kiếm tiền nhanh chóng để trả lương hàng tháng cho công an bằng cách tăng giá xăng, giá điện, nước, tiền học phí và thu phí đi đường. Đảng CSVN còn làm ngơ hay khuyến khích công an ăn cướp tài sản của dân để bớt chi phí cho đảng và Nhà Nước. Nhà báo Trương Minh Đức đang khiếu nại việc Trung Tá công an tên Hòa và đám công an đàn em mới vừa cướp tiền, laptop computer, dụng cụ điện tử của ông Đức. Nếu việc này không được đem ra xử thì chúng ta phải hiểu là ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng và ông Đại tướng Trần Đại Quang khuyến khích công an đi ăn cướp để trừ vào phần đảng CSVN trả thiếu cho lực lượng công an. Công an cũng cướp nhà cướp đất, chận xe thu tiền mãi lộ của dân và đảng CSVN coi đó là tiền thưởng, tiền huê hồng của lực lượng công an do dân trả. Cái thời ăn cướp lén lút chận đường cướp của lúc trời tối rồi bỏ chạy đã qua. Ở trong thiên đường XHCN VN thì cướp không cần bỏ chạy mà còn đứng đó đánh, chửi mắng nạn nhân và bỏ tù nạn nhân. Bọn cướp là bọn công an nhân dân và tướng cướp nằm trong BCT. Những kẻ nằm trong BCT đảng CSVN đã từng là những tên ăn cướp. Hồ Chí Minh, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Lê Duẫn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Tấn Dũng đều là những tên cướp nhà, cướp đất, cướp tài sản của dân.

Chúng ta phân tích điểm 7 và 8: Xuất cảng hải sản mang lại một nguồn lợi nhiều tỷ Mỹ kim hằng năm giúp ngư dân nuôi sống gia đình và tạo công ăn việc làm cho hàng trăm ngàn người kể cả ngư phủ và công nhân chế biến, xuất cảng thủy sản. Tàu của ngư phủ VN bị tàu TQ húc chìm, ngư phủ VN bị hải quân TQ đánh đập, cướp hải sản mà đảng và Nhà Nước CSVN không dám đứng ra bảo vệ thì tương lai số người thất nghiệp sẽ tăng cao. Hoàng Sa và Trường Sa đang biến thành ngư trường của TQ. Hàng trăm tàu đánh cá TQ mang lưới cào vào vùng biển VN để càn quét tất cả hải sản từ nhỏ đến lớn mà nhà cầm quyền CSVN vẫn đồng ý như thế. Chỉ trong vòng 2 năm thì biển miền Trung và miền Bắc sẽ hết hải sản thì gia đình ngư dân chết đói.

VN là một quốc gia với hệ thống hành chánh quá tốn kém do trả lương cho nhân viên của cả hệ thống "đảng" và "chính phủ". Đảng CSVN nuôi một tổ chức công an quá đông chỉ để bảo vệ đảng CSVN và bọn tham nhũng chứ không bảo vệ tổ quốc. Nhà Nước trả lương cho các đại biểu quốc hội do họ chọn lựa chứ không do dân chọn. ĐBQH chỉ biết làm theo lệnh đảng CSVN và không phục vụ quyền lợi người dân. Đầu tư từ ngoại quốc bị cạnh tranh khốc liệt với những quốc gia như Miến Điện, Thái Lan, Indonesia và tương lai là Bắc Hàn. Đảng CSVN tăng giá xăng, điện, nước để kiếm tiền nuôi công an và "đảng" khiến giá thành sản phẩm cao và đưa đến yếu thế cạnh tranh với các nước láng giềng. Ngoài biển thì bị TQ cướp hải sản và ngư dân thất nghiệp cộng thêm tham nhũng tràn lan sẽ đánh sập kinh tế VN. 

Tất cả những thứ đó đang xảy ra và kinh tế sẽ sập trong tương lai gần. Việc trước mắt là cần ngưng trả lương cho các "đảng ủy", các ĐBQH vô tích sự và cắt giảm chi phí dành cho công an để giảm bớt gánh nặng. Tăng kinh phí bảo vệ ngư dân để ngành xuất cảng hải sản tiếp tục tạo công ăn việc làm. Đảng CSVN luôn tuyên bố cần ổn định để phát triển kinh tế. Ổn định thế nào khi ngư dân không dám ra Hoàng Sa và Trường Sa đánh bắt hải sản? Trong đất liền thì công an cướp tài sản, giết dân? Tất cả những thay đổi vừa kể chỉ có thể thực hiện khi chúng ta thay thế tất cả ê kíp lãnh đạo hiện tại bằng phương pháp tự do ứng cử và tự do bầu cử. Chỉ như thế thì người có thực tài sẽ được dân chọn ra lãnh đạo đất nước. Việt cộng bầu cho Việt cộng thì muôn đời vẫn là Việt cộng.

24/11/2014


Những nhà đấu tranh cho Dân Chủ là những tấm gương cao cả

Hãy lao đầu vào cuộc sống của xã hội Việt Nam hôm nay thì mới thấy được rằng những người dám đứng lên đấu tranh là những gương cao cả.

Thật vậy, trong tận cùng của sự suy đồi về đạo lý, kết quả một chuỗi dài thời gian sắp sỉ 80 năm dưới sự mụ mị gian trá của một chủ nghĩa lọc lừa hung bạo theo năm tháng, nó đã từng bước biến chuyển con người theo một quỹ đạo của sự sa đọa, dần dà ngày càng mất đi nhân phẩn, hay nói một cách dân dã hơn là mất dần tính người để chuyển hóa thành con.

Một cách chung chung, nếu chỉ mục kích xã hội Việt Nam hôm nay dưới nhãn quang như một kẻ cỡi ngựa xem hoa thôi thì cũng đã thấy chóng mặt, hơn thế nữa, nếu trực tiếp lao thân vào sinh hoạt của xã hội ấy thì sẽ càng thấy nhức đầu hơn, cái nhức đầu từ ngạc nhiên đến kinh khủng mà người ta không thể tin được rằng xã hội dưới một cơ chế cộng sản nó xuống cấp thối tha tàn mạt đến như vậy.
Thực thể của xã hội Việt Nam hôm nay, không cần phải viết ra thật nhiều bởi lẽ hình ảnh xã hội ấy rất phổ thông mà ai ai cũng có thể nhìn thấy được. Tuy nhiên người viết cũng phải đưa ra một vài thí dụ để dẫn chứng như sau.

- Đảng phái chính trị: Đảng CSVN là một tập hợp của những thành viên lấy căn bản của lý thuyết bần cố nông vô sản làm nền tảng cho tư duy lãnh đạo quốc gia và công chúng, với những lý thuyết hoang đàng và phản khoa học như vậy thì kết quả ắt phải xảy ra như chúng ta đã thấy.

Bên cạnh, đảng phái chính trị này đã tạo nắn ra một cơ chế toàn trị, hoàn toàn độc tài một cách độc hại, tự cho phép đảng là trên hết, trên đầu người dân và trên cả pháp luật. Ngay trong cả lĩnh vực tài chánh, đảng cũng đã hoàn toàn có quyền chi dụng tiền thuế của nhân dân để xây dựng lâu đài cơ sở của đảng ủy ở các cấp từ trung ương cho đến địa phương một cách hoành tráng thay vì các thành viên của đảng tự đóng đảng phí và trích ra để sử dụng cho việc chi phí trên. Đây chỉ là một ví dụ đơn thuần, những khía cạnh khác, khỏi bàn ở đây vì bạn đọc cũng đã hiểu quá nhiều.

- Guồng máy cầm quyền: Họ là những ai? Và do ai dựng nên? Những người lãnh đạo của guồng máy này có trình độ, có đạo đức và nhân phẩm hay không? Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Uông Chung Lưu, Đinh Thế Huynh, Tô Huy Rứa, Phùng Quang Thanh, Trần Đại Quang, Lê Hồng Anh, Lê Đức Anh, Đỗ 10, Nguyễn Văn Linh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng... họ đã làm được gì cho đất nước và cuối cùng quan trọng hơn hết là Hồ Chí Minh (hay Hồ Tập Chương) nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến sự thảm bại và qui hàng Tàu cộng hôm nay và cả chuỗi dài của ngày mai.

- Kinh tế, Xã hội, Quốc phòng, Trị an, Dân trí, Công nghệ, Phát minh, Quân đội, Công an: Kinh tế èo uột, tụt hậu, nơ công ngập mũi. Xã hội xuống cấp, nghèo khổ, dân oan khắp nơi. Quốc phòng lỏng lẻo, yếu kém, thiếu thốn, lạc hậu. Trị an bất ổn, trộm cướp khắp nơi cả đêm lẫn ngày. Dân trí thấp kém do bưng bít thông tin, che mắt bịt miệng, chất xám thì chảy máu ra nước ngoài. Công nghệ thì chẳng có gì và cũng chẳng cạnh tranh được với ai. Phát minh? Chỉ chế tạo được đinh vít, thua cả Kampuchea và Lào. Quân đội bị chỉ huy bởi những tên tướng lãnh hèn hạ cúi đầu nịnh bợ. Côn an chỉ biết tham nhũng, mánh mung bao che... đàn áp nhân dân, tiêu biểu đáng để nguyền rủa nhất là côn an hải quan, côn an kinh tế, côn an các nhà tù và các quan đứng đường csgt.

Những ai am hiểu về lịch sử cận đại thì đã biết rất rõ những người dám hy sinh bản thân và cả gia đình để đứng lên đấu tranh từ ngay những tháng ngày đầu của cái gọi là "Cách mạng mùa thu", của cái gọi là "Xét lại chống đảng" cho đến bây giờ là những ai. Tôi chỉ nêu ra những tên tuổi tiêu biểu: Trần Dần, Hữu Loan, Phùng Quán, Hoàng Minh Chính, Hồng Hà, Trần Độ, Nguyễn Trọng Vĩnh, Nguyễn Văn Lý, Thích Quảng Độ, Nguyễn Đan Quế, Nguyễn Ngọc Huy, Thân Văn Trường, Lê Quang Liêm, Trần Huỳnh Duy Thức, Tạ Phong Tần, Trần Anh kim, Bùi Thị Minh Hằng, Vi Đức Hồi, Nguyễn Vũ Bình, lê Chí Quang, Phạm Hồng sơn, Lê Công Định, Đỗ Nam Hải, Đinh Đăng Định, Ngô Hào, Phương Uyên, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Phạm Thanh Nghiên, Huỳnh Thục Vy, Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày...


Những người đứng lên vì Dân tộc, vì sự Độc lập và nền Dân chủ, họ tuy có nhiều điểm cao cả hơn người bình thường và tất nhiên họ không phải là thần hay thánh, nghĩa là họ cũng chỉ là người, mà "nhân vô thập toàn" thì làm gì tránh được một số khuyết điểm và sai sót. 

Chúng ta không thể lấy những lý do vu vơ rằng ông là một vị tu hành phải vì đạo pháp mà không được đấu tranh, một nhà giáo phải hoành thành nhiệm vụ giáo dục không được đứng lên tranh đấu hoặc giả các anh thuộc giới kinh doanh, phải lo kiếm tiền thật nhiều để làm giàu chớ nên yêu sách đòi hỏi, hay quá khứ anh là một chiến binh cộng sản thì việc đấu tranh của anh là bịp bợm và không mang tính chính nghĩa như trường hợp khá ồn ào mới đây của cá nhân anh Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, hoặc giả sau này là nhà đấu tranh cho dân chủ nhân quyền Tạ Phong Tần, có lẽ cũng sẽ bị bươi móc để dè biểu như tình trạng của anh Điếu Cày.

Chả lẽ chỉ có quân cán chính VNCH mới có quyền chống cộng hay sao?. Một thiểu số đấu tranh quá khích và hẹp hòi, lấy danh nghĩa VNCH làm trướng núp để đưa ra những phương cách cực đoan, điều này đã ít nhiều gây ảnh hưởng và làm vơi đi tính chính nghĩa vốn dĩ rất cao đẹp của chế độ VNCH đầy chính nghĩa, đầy tự do và nhân bản.

Tiếc thay, loài người lại có một số luôn hẹp hòi, thiển cận và nông cạn, số người này vì sự hẹp hòi, nông cạn... họ đã sẵn sàng quên đi 9 điểm tốt của những người đấu tranh mà chỉ cố nhớ đến 1 khuyết điểm, quyết lôi ra cho bằng được để dèm pha chỉ trích. Sự bất công bằng này được xem như là những hạng người cố bới lông tìm vết nhằm phục vụ cho mục đích bêu rêu để hạ bệ những người đấu tranh. Đi tìm hiểu nguyên nhân vì sao những người này lại làm như thế, thì câu trả lời là có thể họ vì cái tâm hèn trí hẹp vốn dĩ hoặc cũng có thể họ vì những tác động có chủ đích khác.

Với tôi và cũng có lẽ với rất nhiều người, những gì mà chúng ta chưa thể làm được, chưa dám hy sinh thời gian, tiền bạc, của cải và bản thân chịu đựng tù ải thì những người đã và đang lãnh nhận sự đọa đày ấy là những anh thư, anh hùng hào kiệt. Tôi mến mộ và công nhận những gương hy sinh này là những nhân tố vô cùng cần thiết cho cao trào cổ vũ cho mỗi người dân là một chiến sĩ vùng lên để làm một cuộc cách mạng đạp đổ tà quyền CSVN hèn hạ và thối nát hiện nay để cứu nguy Tổ Quốc và dân tộc trước sự tụt hậu thê thảm của đất nước cũng như trước hiểm họa xâm lăng của giặc Tàu phương Bắc.


Powered By Blogger