Tuesday, May 23, 2017

22 người chết trong vụ nổ ở Manchester


SourceBBCPosted on: 2017-05-22
Developing: Reports of explosion during Ariana Grande concert at Manchester Arena
Ít nhất 19 người thiệt mạng, 50 người bị thương vì vụ nổ tại buổi hòa nhạc của ca sĩ Mỹ Ariana Grande diễn ra tại thành phố Manchester, Anh quốc, tối 22/5.
Cảnh sát Anh nói họ đang đặt giả thiết đây là vụ tấn công khủng bố tại địa điểm Manchester Arena, có sức chứa khoảng 18.000 người.
Nhân viên chống khủng bố đang điều tra nguyên nhân vụ nổ.
Vụ việc xảy ra vào lúc Anh quốc đang ở mức báo động khủng bố "nghiêm trọng", nghĩa là có thể xảy ra tấn công.
Nhân chứng cho biết vụ nổ xảy ra vào lúc đêm nhạc kết thúc và khán giả đang ra về.
Hồi tháng Ba, bốn người cùng kẻ tấn công đã chết trong một vụ tấn công ở trung tâm London, nhắm vào nhà quốc hội.
********
Nổ lớn tại sân vận động Manchester, Anh quốc
SourceVOAPosted on: 2017-05-22


Cập nhật: Cảnh sát Anh cho biết ít nhất 19 người thiệt mạng, 50 người bị thương tại buổi trình diễn của ca sĩ Ariana Grande ở sân vận động Manchester và xem đây là một vụ khủng bố.
---------------------
Một vụ nổ tối ngày 22/5 tại buổi hòa nhạc ở thành phố Manchester, miền Bắc nước Anh, khiến một số người chết và bị thương. Cảnh sát cho hay chưa thống kê được số nạn nhân.
Cảnh sát tới ứng cứu sau khi được tin về vụ việc gây thương vong.
Reuters dẫn nguồn tin từ một nhân chứng, khán giả dự buổi hòa nhạc, cho biết “Chúng tôi đang bước ra về, ngay khi tới cổng thì nghe tiếng nổ lớn, và mọi người gào thét lên.”
Vị khán giả tên Catherine Macfarlane nói “Tiếng nổ rất lớn, cảm thấy đau lòng ngực. Mọi thứ hỗn loạn. Người ta bỏ chạy và la hét, cố tìm cách thoát thân.”
Sân vận động Manchester, sân vận động ngoài trời lớn nhất tại Châu Âu, khai mở từ 1995 có sức chứa 21.000 người. Đây là nơi tổ chức hòa nhạc và các sự kiện thể thao được nhiều người biết tiếng.
Anh đang trong tình trạng báo động ‘nghiêm trọng’, mức báo động cao hàng nhì nghĩa là có khả năng bị các phần tử chủ chiến tấn công.
At Least 20 Killed After Reports of Explosion at Manchester Arena

SỨC MẠNH CỦA NỀN DÂN CHỦ HOA KỲ

Tác giả: Lê PhanPosted on: 2017-05-19
Trước khi bước vào nghiệp báo chí, tôi học chính trị học. Thời tôi đi học chính trị học, vào những năm của thập niên 1960, khi đe dọa của các chế độ độc tài toàn trị, từ Ðức Quốc xã của Hitler đến các chế độ Cộng Sản của Stalin và Mao, đang là một mối lo thật sự.

Lúc đó tôi có một giáo sư rất thú vị. Ông tốt nghiệp trường luật ở Viện Ðại Học Charles ở nơi lúc đó còn là Tiệp Khắc dưới chế độ Cộng Sản. Khi ra trường ông vào làm việc cho văn phòng công tố. Bất mãn trước những việc phải làm, ông đã bỏ trốn khỏi nước chạy sang Pháp. Ở Pháp ông vào học ở trường Sorbonne của Viện Ðại Học Paris, cũng học luật nhưng lần này là luật pháp dân chủ kiểu Pháp. Rồi ông rời Pháp đi sang Hoa Kỳ và vào học chính trị học ở Viện Ðại Học Colombia. Tôi học ông môn Chế Ðộ Toàn Trị và Dân Chủ (Totalitarianism and Democracy). Chính ông thường bảo ông thuộc loại người Âu Châu không nói tiếng nào đúng giọng cả vì cuộc sống lang thang qua quá nhiều quốc gia. Mà quả thật, ông nói tiếng Anh giọng Ðức, và thường bảo với chúng tôi là ông nói tiếng Ðức giọng Áo và tiếng Áo giọng Ðức. Ông cũng có lối diễn tả chính trị rất tưng tửng. Khi tả lại lối bỏ phiếu ở một Quốc Hội Cộng Sản, ông bảo, “Họ đâu có bỏ phiếu. Họ tập thể dục. Một hai ba, giơ tay lên. Một hai ba, bỏ tay xuống.” Lũ học trò chỉ còn biết ôm bụng cười.

Sở dĩ tôi dài dòng về giáo sư của tôi vì tôi nhớ ông trong giai đoạn chính trị hiện tại ở Hoa Kỳ. Ông là một người đặt trọn niềm tin vào nền dân chủ Hoa Kỳ. Vốn mới thoát ra khỏi Âu Châu, một Âu Châu đã chứng kiến nền dân chủ Weimar của Ðức tự tử khi bầu lên Hitler làm thủ tướng, ông thán phục điều mà ông gọi là thiên tài cũng như tinh thần thực tế của các vị cha già dân tộc Hoa Kỳ.

Có một lần ông bàn về một cơ chế mà ông coi rất là quan trọng của nền dân chủ Hoa Kỳ, đó là quyền của Quốc Hội đàn hạch và cách chức tổng thống. Thời thập niên 1960 chưa có Watergate cũng như chưa có Lewinsky, nên chuyện impeachment là một chuyện lý thuyết.

Ông chỉ ra điều mà ông bảo tối quan trọng là mục tiêu của impeachment không phải là trừng phạt mà là ngăn ngừa. Mục tiêu của impeachment không phải là để trả thù. Nó là để bảo vệ công chúng cho những hành động bất cẩn hay vi phạm trong tương lai. Hiến Pháp Hoa Kỳ, ông chỉ ra, áp dụng việc đàn hạch tổng thống cho “phản quốc, hối lộ và những hành vi trọng tội khác và những khinh tội.” (nguyên văn ‘high Crimes and Misdemeanors’) Khinh tội đây là chữ tôi dùng để dịch chữ “misdemeanours” trong Hiến Pháp. “Khinh tội” ở đây không phải là muốn nói đến những tội vặt như trộm cắp, gây rối trật tự, bởi nếu nó có nghĩa như vậy, đàn hạch sẽ có thể dùng cho những việc quá nhỏ mọn, rõ ràng không phải ý định của các vị thảo ra Hiến Pháp.

Như Giáo Sư Greg Weiner, một giáo sư chính trị học ở Assumption College, cũng đã giải thích, tội danh này phải hiểu theo thời đại của nó, khi các cha già dân tộc viết ra Hiến Pháp. Khi George Mason viết lên những tội có thể bị đàn hạch, ông muốn rằng một tổng thống có thể bị đàn hạch không những chỉ cho những trọng tội như phản quốc hay tham nhũng, nhưng còn vì những điều mà ông gọi là “maladministration,” xin tạm dịch là “cai trị dở.” Ông James Madison, vốn cùng là tác giả của Hiến Pháp, đã không đồng ý vì chữ này quá mơ hồ, thành ra ông Mason mới thay thế bằng “trọng tội và khinh tội.” Và muốn hiểu rõ nghĩa của cụm từ đó thì chúng ta phải trở lại nhà luật gia lừng danh của Anh Quốc William Blackstone, vốn là một nhân vật được các vị cha già dân tộc Hoa Kỳ sùng kính. Theo Blackstone, “khinh tội” còn có nghĩa là “cai trị xấu của những kẻ giữ chức vị cao.”

Hiểu như vậy, theo Giáo Sư Weiner, vấn đề để quyết định xem liệu ông Trump có bị đàn hạch hay không ít liên hệ đến chuyện đã xảy ra ở văn phòng bầu dục giữa ông và ông Comey hơn là những diễn biến đó nói gì về chuyện sẽ xảy ra ở những văn phòng tương tự trong tương lai.

Mục đích của Mason là muốn ấn định một “tội chính trị,” một điều mà Alexander Hamilton đã công nhận trong những trang của Federalist Papers, vốn nói là đàn hạch áp dụng cho những tội “có bản chất mà có thể với một cá tính có thể gọi là chính trị, nhưng chúng chính ra chỉ những thiệt hại tạo nên cho chính xã hội.”

Khi các vị cha già dân tộc Hoa Kỳ định nghĩa nạn nhân là “chính xã hội” thì nó cũng định nghĩa tội ác. Ông Hamilton viết, “Ông Madison nghĩ là không thể nào không có một điều khoản được đặt ra để bảo vệ cộng đồng chống lại bất lực, lơ đãng hay bội tín của vị tổng thống.”

Bản chất chính trị của quyền đàn hạch tuy vậy không có nghĩa nó chỉ là một sự tranh quyền. Nó lại càng không thể là lập lại những tranh cãi bầu cử. Thay vì vậy, mục đích của nó là để “bảo vệ cộng đồng” thay vì trừng phạt một cá nhân.

Quyền đàn hạch trên căn bản nhằm ngăn ngừa phạm pháp chứ không phải để trừng phạt, tất nhiên chỉ được sử dụng khi có một vụ phạm pháp. Hành động phạm pháp đó chỉ là một dấu hiệu cho thấy trong tương lai người khác cũng có thể phạm tội đó. Ðàn hạch không có mục đích làm nhục một tổng thống hay cách chức ông ta. Nó nhắm bảo vệ xã hội, không cho các vị tổng thống tương lai phạm tội hay lơ là trong nhiệm vụ.

Và giáo sư của tôi cũng như Giáo Sư Weiner giải thích, theo ý nghĩa này, không cần thiết là liệu Tổng Thống Trump có rõ ràng có ý định cản trở pháp lý khi ông được nói là tìm cách thúc đẩy ông Comey. Ðiều mà Quốc Hội phải quyết định là mức độ tin tưởng liệu ông Trump có thể tin được không vi pham quyền lực một cách tương tự nếu ông tiếp tục cầm quyền. Về mặt khác, không có nghi ngờ gì là ông không phạm tội khi ông tiết lộ bí mật quốc gia cho đại sứ Nga. Nhưng việc đó cũng không phải là câu hỏi mà một vụ đàn hạch đặt ra. Vấn đề là liệu cộng đồng của ông Madison và xã hội của ông Hamilton có cần được bảo vệ chống lại những hành vi như vậy trong tương lai hay không.

Và dĩ nhiên tổng thống có thể thay đổi. Xin đan cử trường hợp của Tổng Thống Ronald Reagan và vụ Iran-contra. Vụ scandal này đã suýt làm tiêu tan sự nghiệp của Tổng Thống Reagan, và có thể dẫn đến ông bị đàn hạch. Nhưng sau khi tiết lộ là nhân viên an ninh quốc gia của tổng thống đã đổi vũ khí để lấy con tin bị giam giữ bởi Iran và chuyển tiền cho các tay du kích contras ở Nicaragua, Tổng Thống Reagan đã dọn dẹp nhà cửa và đồng ý cải tổ sự kiểm soát các chiến dịch mật. Sau đó không những ông không bị đàn hạch mà trở thành một trong những tổng thống đáng kính nể nhất của Hoa Kỳ.

Ðiều đáng nói ở đây, trở lại với vị giáo sư người Mỹ gốc Tiệp của tôi, là các vị cha già dân tộc Hoa Kỳ đã nghĩ rất sâu và rất chín chắn về mọi sự có thể gây hại cho nền Cộng Hòa và cho các công dân của nền Cộng Hòa đó.

Cũng xin thêm, thập niên 1960 vừa qua khỏi cơn ác mộng của Thượng Nghị Sĩ Joe McCarthy và chiến dịch truy nã Cộng Sản vốn trở thành một cuộc săn đuổi không phải những người Cộng Sản mà là chụp mũ cho tất cả những người Mỹ nào không đồng ý với ông là Cộng Sản. Nhưng giáo sư của tôi đã chỉ ra là ngay cả đến ông McCarthy sau cùng cũng đã bị Thượng Viện lên án (censure) và mất quyền.

Nói cho cùng, điều mà tôi tự nhiên được nhắc nhở là sở dĩ nền Cộng Hòa Hoa Kỳ có thể tồn tại đến ngày nay là vì những cha già dân tộc đã tạo cho nó những cơ chế để bảo vệ. Chính vì vậy mà chúng ta mới có việc chỉ định một công tố viên đặc biệt để điều tra về vụ Nga và ban vận động của Tổng Thống Trump.

Ông thầy của tôi có lần bảo, “Cứ thử nghĩ như các vị cha già dân tộc Hoa Kỳ. Khi họ viết ra Hiến Pháp, thế giới chỉ có một hình thức cai trị tức là một ông hay bà vua. Họ đã dựng nên một nhà vua được dân bầu lên. Nhưng cũng vì biết là nhà vua có thể lạm quyền, họ đặt ra những định chế để chế ngự, canh phòng lẫn nhau, cho không ai có thể lạm quyền được.”

Ông giáo sư của tôi chỉ có một điều lo ngại, nhưng không phải lo ngại cho nền Cộng Hòa Hoa Kỳ mà là cho thế giới. Ông bảo khi viết ra Hiến Pháp, Hoa Kỳ lúc đó chưa phải là một cường quốc, nên các vị cha già dân tộc đã để toàn quyền ngoại giao cho tổng thống.


Tổng Thống Trump có thể bị đàn hạch không?
Tác giả : Ngô Nhân DụngPosted on: 2017-05-20
Hầu như vị tổng thống nào gần đây cũng bị đe dọa đàn hạch.
Năm 2008, ông Donald J. Trump nói với đài CNN rằng ông ngạc nhiên tại sao bà Nancy Pelosi (chủ tịch Hạ Viện khi đó, đảng Dân Chủ chiếm đa số) không làm thủ tục truy tố đưa Tổng Thống George W. Bush về vườn. Phóng viên hỏi: Ðàn hạch? Chắc chắn! Lý do? Chiến tranh! “Ông ta nói dối! Nói dối để kéo chúng ta vào cuộc chiến tranh Iraq. Bush nói Iraq có vũ khí hủy diệt hàng loạt và bao thứ khác, toàn chuyện không có thật!” Ông Obama không tấn công Syria cũng vì sợ bị đàn hạch nếu không hỏi ý kiến Quốc Hội Mỹ trước. Khi ông hỏi, quả nhiên Quốc Hội bác bỏ. Tổng Thống Reagan cũng bị điều tra và đe dọa đàn hạch vì bán vũ khí cho Iran, trong khi Quốc Hội cấm.
Bây giờ đến lượt ông Donald Trump bị nhiều dân biểu, nghị sĩ thuộc cả hai đảng đề nghị đem ông ra đàn hạch. Trong dân chúng Mỹ 48% cũng nghĩ như vậy. Hàng triệu người đã ký ủng hộ một kiến nghị trên mạng. Có 45% người đoán ông Trump sẽ không ngồi đủ 4 năm ở Tòa Bạch Ốc, và 43% nghĩ ngược lại. Nghị sĩ Cộng Hòa lão thành John McCain cũng thấy không khí đàn hạch bao quanh ông tổng thống.
Câu chuyện đàn hạch lên sôi nổi sau mấy vụ ông Trump nói và làm gần đây. Ông đã sa thải Giám Ðốc FBI James Comey trong lúc ông ta đang điều tra về quan hệ giữa các cộng sự viên của ông với Nga. Ông lại tiết lộ một tin tình báo về ISIS cho ngoại trưởng và đại sứ Nga biết.
Hai hành động trên không đủ lý do để đàn hạch. Nhưng ông Trump có thể dính ông Comey tiết lộ rằng tổng thống đã đề nghị FBI hãy bỏ qua không tiếp tục điều tra vụ năm ngoái Tướng Mike Flynn gặp đại sứ Nga; ông ta đã nói những gì mà sau đó phải che giấu.
Một vị tổng thống yêu cầu nhân viên tư pháp ngưng một cuộc điều tra là phạm pháp, một hành động “ngăn cản công lý.” Hai vị tổng thống bị đàn hạch gần đây nhất, Richard Nixon và Bill Clinton đều được nêu ra vì lý do này. Ông Nixon đã từ chức khi thủ tục đàn hạch bắt đầu. Ông Clinton bị Hạ Viện đàn hạch nhưng qua Thượng Viện thì được tha vì không đủ 2 phần 3 số nghị sĩ kết án.
Liệu ông Donald Trump có thể bị đàn hạch hay không?
Cho tới giờ, theo những gì người ta biết,thì chuyện đó khó xảy ra.
Trước hết là chứng cớ “phạm tội.” Ðiều ông Comey tiết lộ được báo chí loan tin do một nhân viên FBI (không biết tên) tiết lộ, vì đã đọc “bản ghi nhớ” của ông Comey thuật lại các chuyện đã bàn khi gặp ông Trump. Nhưng các nhà báo chưa ai thấy bản “memo” đó. Các ủy ban điều tra của Quốc Hội có thể làm trát bắt FBI phải trao các memo của ông Comey để họ coi. Trong tuần tới ông Comey sẽ ra Thượng Viện. Họ có thể đòi ông Comey xác nhận điều ông viết trong memo là có thật.
Nhưng lúc đó vẫn chưa đủ chứng cớ buộc tội. Vì cuộc gặp gỡ giữa ông Comey và ông Trump không có ai làm chứng. Anh nói thế này ả nói khác, tin ai bây giờ? Quốc Hội có thể hỏi Tòa Bạch Ốc có thu băng các cuộc trò chuyện của Tổng Thống Trump hay không. Nếu có, phải cho họ nghe (việc này đã diễn ra thời ông Nixon bị điều tra). Nhưng dù có nghe băng thấy ông Comey nói đúng, ông Trump vẫn có thể chối! Ông sẽ nói rằng ông không hề đòi hỏi hay đề nghị ông Comey bỏ qua cho ông Flynn. Ông chỉ tỏ ý “hy vọng” ông Flynn được bỏ qua thôi. Theo bản memo mà ông Comey ghi, ông Trump dùng chữ “hope,” nói “I hope you can let this go.” Nói “hy vọng” có thể coi là “yêu cầu,” “ra lệnh,” tức là “ngăn cản tiến hành công lý” hay không?
Mai mốt, các ủy ban điều tra của Thượng Viện và Hạ Viện có thể tiến hành chậm hơn, sau khi Bộ Tư Pháp chỉ định ông Robert Mueller làm công tố viên độc lập cho vụ quan hệ Trump-Nga. Cả hai đảng đều hoan nghênh ông Mueller, ông Trump bực mình nhưng bó tay! Ông tổng thống không thể ngăn cản thứ trưởng Bộ Tư Pháp điều tra, chứng tỏ nước Mỹ vẫn giữ được nền nếp dân chủ!
Ví thử các cuộc điều tra đưa tới kết luận rằng Tổng Thống Trump “yêu cầu” muốn ông Comey ngưng theo đuổi vụ ông Flynn và Nga, thì Quốc Hội Mỹ đủ lý do tiến hành thủ tục đàn hạch tổng thống hay chưa?
Ðến chỗ này thì câu chuyện pháp lý sẽ nhường chỗ cho chính trị.
Hãy nghe ông Gerald Ford nói: “Một vụ vi phạm có thể coi là ‘đáng đàn hạch’ khi nào đa số dân biểu trong Hạ Viện nghĩ như thế.” Ông Ford từng làm dân biểu nhiều năm, từng điều khiển Hạ Viện, và sau lên làm tổng thống khi ông Nixon từ chức.
Thủ tục đàn hạch bắt đầu khi Ủy Ban Tư Pháp Hạ Viện mở hồ sơ điều tra. Khi ông Nixon thấy 404 dân biểu bỏ phiếu cho mở hồ sơ, chỉ có 4 người chống, thì ông biết rằng chỉ còn cách từ chức. Trên Thượng Viện cũng không đủ một phần ba nghị sĩ ủng hộ ông.
Theo tình hình hiện nay thì đa số dân biểu Cộng Hòa trong Hạ Viện không muốn đàn hạch Tổng Thống Trump. Nếu mở cuộc đàn hạch, tấn kịch sẽ diễn ra không biết bao giờ mới ngã ngũ. Cuối cùng không chắc ông Trump sẽ bị đàn hạch, nhưng uy tín của ông sẽ sụp đổ, kéo theo uy tín của cả đảng Cộng Hòa. Sang năm, các dân biểu sẽ bị các cử tri chất vấn về vấn đề này, những người ủng hộ cũng như những người chống ông Trump. Tốt nhất, đừng để chuyện đó xảy ra!
Các dân biểu Cộng Hòa sẽ chỉ đồng ý đem ông Trump ra đàn hạch nếu chính ông tổng thống bị các cử tri trong đơn vị của họ chống kịch liệt. Nhưng hiện giờ, hơn 80% cử tri Cộng Hòa vẫn tin tưởng ông Trump, coi ông là một nạn nhân! Ai chống ông, đầu năm 2018 sẽ bị các ứng cử viên Cộng Hòa khác hỏi tội, chưa chắc sẽ được đảng đưa ra ứng cử!
Ðàn hạch một tổng thống Mỹ rất khó. Các nhà lập quốc Mỹ đã bày ra cho nó khó (quý vị độc giả có thể đọc bài của Lê Phan trong cuối tuần này). Khi họ đặt ngưỡng cửa 67 trên 100 nghị sĩ đồng ý mới cất chức được vị tổng thống, họ muốn không một đảng nào, dù chiếm đa số, có thể lật đổ vị tổng thống thuộc đảng khác. Vì vậy ông Bill Clinton đã thoát nạn!
Ðiều số 2, khoản 4 trong Hiến Pháp Mỹ viết: “Tổng thống, phó tổng thống, và các quan chức dân sự trong chính phủ Mỹ có thể bị cách chức vì bị đàn hạch và kết tội vì lý do: phản bội, ăn hối lộ, hoặc các tội lớn, tội nhỏ khác.”
Hạ Viện sẽ làm công việc đàn hạch (Impeachment) rồi đưa lên cho Thượng Viện kết tội. Nếu đảng Dân Chủ muốn bắt đầu thủ tục đàn hạch ông Trump thì sẽ phải lôi cuốn được ít nhất 23 dân biểu Cộng Hòa theo họ. Ở Thượng Viện, muốn có 67 phiếu kết tội, phải chinh phục thêm 14 nghị sĩ Cộng Hòa đồng ý. Chỉ khi nào có bằng chứng hiển nhiên là ông Trump phạm tội tày đình thì số người bỏ chạy chống lại ông mới cao đến thế.
Khi hai vị tổng thống trước đây bị đàn hạch (Bill Clinton), hoặc đe dọa đàn hạch phải từ chức (Richard Nixon), Quốc Hội đều do đảng đối nghịch kiểm soát. Ông Nixon bị cả các dân biểu Cộng Hòa bỏ rơi vì họ thấy các cử tri của đảng đã chán ông ta rồi. Cho tới nay, ông Trump không lâm vào hoàn cảnh đó.
Nhưng ông Trump và đảng Cộng Hòa cũng không thể ngủ ngon, nghĩ rằng giông tố sẽ không bao giờ tới! Riêng cuộc điều tra của ông Mueller cũng sẽ thành đám mây mù che phủ tương lai họ trong thời gian dài, không biết kéo dài đến bao giờ. Sang năm khi dân Mỹ đi bầu không biết câu chuyện đã lãng quên chưa!
Cuộc điều tra này có thể mở màn cho những vụ lôi thôi khác hay không, chưa biết được. Thời 1973, Bộ Tư Pháp chỉ bắt đầu điều tra về một chuyện nhỏ, có thể truy tố người của ông Nixon đặt máy nghe lén đảng Dân Chủ. Ông Nixon phản ứng, câu chuyện xé thành to! Ông Bill Clinton cũng chỉ bị điều tra về một vụ đầu tư khi ông còn làm thống đốc. Bỗng dưng cô Monica xuất hiện, dẫn tới chuyện ông tổng thống bị kết tội khai man với cơ quan tư pháp!
Ông Donald Trump tánh nóng nảy và nói nhiều hơn cả hai vị tiền nhiệm trên! Không ai tiên đoán được ông Trump sẽ còn nói gì, làm gì nữa!

MÌNH VỚI TA TUY 3 MÀ 1, TA VỚI MÌNH TUY MỘT MÀ 3


Tác  giả: Đèo NgangPosted on: 2017-05-22

Theo tin tr
ên Net, đảng Xã hội PS của Pháp sẽ đổi tên thành đảng Cộng Hoà En Marche REM (République En Marche).

 />

Không biết tính sao

Lo quá các bạn ơi ! Mình không biết tính sao, vì cái thẻ thông hành Visa của minh mấy chục năm qua chưa hề 1 lần có con dấu màu máu đỏ nồn què ịn vào, nay đọc tin này, phân vân quá ! Quát mo đờ phắc

Trần Hoài Thư, người ngồi vá lại những linh hồn

Đỗ Trường (Danlambao) - Cuối tuần, có bác nhà thơ già đến thăm, ghé mắt vào bài đang viết về nhà văn Trần Hoài Thư của tôi, rồi gật gật, lắc lắc, bảo: Cái tựa, Người ngồi vá lại những linh hồn, thấy rờn rợn thế nào ấy. Vâng! Khi chưa đọc, chưa nghiên cứu Trần Hoài Thư, bác có cảm giác vậy thôi. Đọc rồi, bác sẽ thấy, một Trần Hoài Thư không chỉ đang ngồi vá lại linh hồn mình, đồng đội mình, mà còn đang nhặt nhạnh những linh hồn văn hóa Việt rách nát, vương vãi đâu đó, rồi cặm cụi khâu lại nữa kìa.

Nghe tôi trả lời, bác nhà thơ già gật gù, gật gù lẩm bẩm: Được, tôi sẽ tìm đọc, xem có thật vậy không?

Phải nói thẳng, Trần Hoài Thư không phải là một nhà văn, nhà thơ lớn, lừng lững tên tuổi trên văn đàn của Văn học miền Nam trước 1975, cũng như ở hải ngoại hiện nay. Nhưng ông là một trong những nhà văn tôi yêu mến nhất của nền văn học Việt Nam từ trước đến nay. Bởi, ngoài tài năng, thì nhân cách lòng quả cảm, dám hy sinh, đi đến tận cùng của sự đam mê, cũng đầy trách nhiệm với văn hóa, văn chương nước nhà như ông, không phải ai cũng làm được. Và có lẽ, nhiều người đọc, nghiên cứu ông đồng cảm với tôi về điều này (?).

Nhà văn Trần Hoài Thư tên thật là Trần Qúi Sách, sinh năm 1942 tại Đà Lạt. Dường như, cái tên Qúi Sách này, đã vận thẳng vào cái nghiệp viết, và nâng niu gìn giữ từng trang sách, hồn thơ Việt của ông chăng? Truyện ngắn "Nước Mắt Tuổi Thơ" in trên tạp chí Bách Khoa Sài Gòn vào năm 1964 là chiếc thẻ thông hành đã đưa Trần Hoài Thư đến với làng văn. Sau khi tốt nghiệp ngành toán học, trường Đại học Sài Gòn, ông về giảng dạy trung học tại Tam Kỳ. Năm 1966 Trần Hoài Thư nhập ngũ khóa 24 Trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Và gần mười năm trong quân ngũ, lúc là lính thám kích, khi là phóng viên chiến trường, dường như không lúc nào ông ngừng viết. Nhật ký chiến trường, hoặc những truyện ngắn, tản văn thời kỳ ấy, không chỉ có khói súng, mùi đạn bom quyện với máu thịt ông, đồng đội ông, mà còn thấm đẫm nước mắt của tình yêu, tình người. Sau 30-4-1975, Trần Hoài Thư bị tù cải tạo. Ra tù, năm 1980 ông vượt biển, hiện đang viết và làm chủ cơ sở xuất bản Thư Ấn Quán, cũng như Thư Quán Bản Thảo, một tạp chí văn học tại New Jersey Hoa Kỳ.

Có thể nói, thơ văn cũng như thân phận người lính Trần Hoài Thư gắn chặt với những biến cố thăng trầm của đất nước. Do vậy, cũng như những nhà văn cùng thời, cái sự nghiệt ngã ấy, đã ngắt thơ văn ông thành từng giai đoạn thật rõ ràng.

Tuy bước chân vào làng văn bằng văn xuôi, nhưng thơ đã đóng góp không nhỏ tạo nên một chân dung vạm vỡ Trần Hoài Thư. Với 14 tập truyện, cùng 8 tập thơ (?) đã xuất bản, minh chứng Trần Hoài Thư có sức viết dẻo dai, và khá cân đối. Với tôi Truyện Từ Văn và Truyện Trần Hoài Thư (rút từ các tập san) viết trước 1975, được in lại trong mấy năm gần đây, cùng với thơ, và tập truyện Ra Biển Gọi Thầm, Hành Trình Của Một Cổ Trắng là những tác phẩm tiêu biểu cho bút pháp trong từng giai đoạn sáng tác của ông.

Khi đi sâu vào nghiên cứu, tôi nhận ra, ngoài tính chân thực, thì nghệ thuật miêu tả (diễn biến) nội tâm nhân vật là đặc điểm nổi bật nhất trong truyện của Trần Hoài Thư. Nghệ thuật này là một tài năng, tìm tòi liên tưởng chứ dứt khoát không phải do ông xuất thân từ nhà giáo, đã kinh qua những giáo trình tâm lý học. Bởi, cũng có nhiều nhà văn xuất thân từ nhà giáo, nhưng không có đặc điểm này.

Chiến tranh, dưới cái nhìn và ngòi bút nhân bản của nhà văn.

Nếu phải đưa ra một câu trả lời, với tôi Trần Hoài Thư, Phan Nhật Nam, Thế Uyên là những nhà văn hàng đầu viết về người lính của văn chương miền Nam ở thời điểm nóng bỏng nhất của cuộc chiến. Và cùng với Cao Xuân Huy và Phạm Tín An Ninh ở giai đoạn sau 1975 cho đến nay, nơi hải ngoại.

Có một điều đặc biệt, Trần Hoài Thư là một người lính chiến thực thụ và viết ngay nơi chiến trường. Hơn thế nữa, nhiều nhà phê bình đánh giá, nhận định ông là nhà văn quân đội. Nhưng đọc ông, cho tôi cảm giác, dường như có những lúc linh hồn ông đã tách ra khỏi cuộc chiến, rời bỏ chiếc áo nhà binh. Bởi, ngoài những người lính, còn có không ít truyện viết về tình yêu, về cái thuở học trò với những cuộc sống thường nhật, hay về cả những khi phản kháng đào ngũ, bỏ đơn vị nó hằn đậm trên trang viết của ông ở cái thời binh đao khói lửa ấy.

Có lẽ, ngay từ buổi ban đầu, Trần Hoài Thư chưa có ý thức rõ ràng về chiến tranh, với những lý tưởng cao đẹp nào đó. Cho nên, bước chân vào quân trường là nghĩa vụ bắt buộc đối với ông. Sự chán chường ấy, ta đã bắt gặp rất nhiều trên những trang viết của Trần Hoài Thư. Giai đoạn đó với ông, dù có đứng ở bên nào, góc độ nào thì cuộc chiến này cũng đều vô nghĩa. Do vậy, không chỉ ở truyện ngắn văn xuôi, mà ngay trong thơ ta thấy tương lai mịt mù với những lời thán ca đau đến nhức nhối lòng người:

"Thế hệ chúng tôi mang đầy vết sẹo
Vết sẹo ngoài thân và vết sẹo trong hồn
Không phạm tội mà ra tòa chung thẩm
Treo án tử hình ở tuổi thanh xuân

Thế hệ chúng tôi loài ngựa thồ bị xích
Hai mắt buồn che bởi tấm da trâu
Quá khứ tương lai, tháng ngày mất tích
Đàn ngựa rũ bờm, không biết về đâu" (Thế hệ chiến tranh)

Với cái nhãn quan như vậy, cho nên người lính Trần Hoài Thư luôn ước nguyện, hy vọng trở về quê hương, nơi có cuộc sống bình dị, và cũng thật yên bình: “…Anh nghĩ rồi đây chiến tranh sẽ chấm dứt. Miền Nam và miền Bắc sẽ sum họp. Mọi người sẽ ngồi lại và tha thứ lẫn nhau. Rồi em về Nha Trang. Anh cũng trở lại cùng Nha Trang. Anh sẽ xin dạy trở lại. Rồi anh sẽ xin cưới em…” (Nha Trang).

Và cái suy nghĩ đơn giản, vô tư ấy, ông đã trả giá bằng chính những năm tháng ngục tù, rồi buộc phải cùng với con thuyền lá tre kia lao ra biển cả.

Có thể nói, tính nhân đạo là đặc trưng nổi bật nhất, xuyên suốt sự nghiệp sáng tạo của Trần Hoài Thư. Cái tình người, và sự cảm thông ấy không chỉ nằm trong tình đồng đội, tình đồng bào, mà nó còn là hơi ấm cho cả những người lính ở bên kia của chiến tuyến. Cái đặc tính này, gần đây dường như nó được tiếp nối một cách rất sâu sắc trong trang văn, truyện ngắn của đồng đội ông, nhà văn Phạm Tín An Ninh.

Ngày Thanh Xuân, một truyện ngắn điển hình như vậy, được Trần Hoài Thư viết vào mùa xuân 1972. Chúng ta hãy đọc lại lời thoại của hai đoạn trích dưới đây giữa một tù binh bị thương miền Bắc với người lính miền Nam, khi ở ngoài chiến trường, cũng như lúc ở quân y viện. Để thấy rõ tài năng miêu tả diễn biến nội tâm nhân vật, cũng như sự nhân đạo và sự cảm thông ngút trời ấy của Trần Hoài Thư: 

“Mong anh hiểu trách nhiệm và bổn phận của chúng tôi, những người lính khác trận tuyến với các anh. Anh hãy để chúng tôi săn sóc. Hy vọng một ngày hòa bình, anh sẽ trở về quê hương và tôi được dịp đáp tàu ra Bắc, như niềm mơ ước của tôi. Mời anh một điếu thuốc thơm, anh vui lòng chứ? Anh uống cà phê nhé. Cà phê tôi mang theo trong bi-đông…

Nếu tôi còn ở miền Bắc, có lẽ bây giờ tôi là đồng chí của anh. Chúng ta đều bị bắt buộc cầm súng. Chúng ta bị chủ nghĩa, ngoại bang, các thế lực quốc tế xô đẩy chúng ta vào hố thẳm của hận thù. Anh đồng ý với ý kiến của tôi không? - Phải, tôi đồng ý – Y thầm thì – Tôi đã hiểu rằng những người tuổi trẻ của Việt Nam là những đứa con tội nghiệp. Chúng ta lỡ sinh vào một thế kỷ bất hạnh nhất. Chúng ta được giao truyền lại một gia tài bi đát nhất…”

Không chỉ đối với những người còn sống, hay người tù binh tàn tật, mà lòng nhân đạo, và tình thương ấy đến với cả người lính đối phương vừa chết trận của Trần Hoài Thư. Và nếu văn là những lời sẻ chia, cảm thông, thì thơ ông như một tiếng ru cho linh hồn của đồng loại đã nằm xuống trong trận chiến này. Tôi đã đọc khá nhiều thơ của những người lính, thuộc cả hai chiến tuyến viết cho đồng đội nằm xuống. Từ đó có thể nói, Khi Chưa Có Mùa Thu là một trong những bài thơ hay nhất của người lính phía Bắc Trần Mạnh Hảo. Và vắt cơm nhòa nước suối, hay nhòa nước mắt để viếng (cúng) đồng đội của Trần Mạnh Hảo làm cho người đọc phải rưng rưng, xúc động: ”Vắt cơm nhòa nước suối/ Viếng bạn mình không ăn”. Nhưng đặc biệt, cao cả hơn thế nữa, người lính phương Nam Trần Hoài Thư đã tiễn đưa hồn người lính Bắc bằng những ly rượu nồng với những câu thơ đẹp và vô cùng lãng mạn, đọc lên ai cũng bùi ngùi, xót xa. Và tôi tin lúc đó, Trần Hoài Thư đã dứt bỏ hoàn toàn mọi áp lực xung quanh, mà chỉ còn trái tim đa cảm, bao dung đang rung lên của người nghệ sĩ, để viết nên bài thơ này. Tôi không dám nghĩ, đây là bài thơ độc nhất vô nhị, dù được viết trong lúc chiến tranh đang diễn ra ác liệt. Nhưng có lẽ, nó là bài thơ lạ lùng nhất đến nay tôi được đọc. Vâng! Và chính nó, bài thơ Một Ngày Không Hành Quân của Trần Hoài Thư đã làm cho những giọt nước mắt của tôi rơi ngay trên bàn phím này:

“…Tôi rót mời một người lính Bắc
Hắn nằm banh thây dưới hầm bí mật
Trên người vẫn còn sót lại bài thơ
Trên đồi cao mây vẫn xanh lơ
Có con bướm vàng dịu dàng dưới nắng
Tôi với hắn đâu có gì thống hận
Bài thơ nào cũng viết để yêu em”

Hoàn toàn không có ý so sánh, nhưng như có một sợi dây liên cảm, bởi khi đọc truyện ngắn Chiến Tranh của Trần Hoài Thư, làm cho tôi nghĩ đến những người lính gian khổ chống phát xít trong tiểu thuyết, tập truyện: Họ Đã Chiến Đấu Vì Tổ Quốc, hay Số Phận Con Người… của nhà văn Nga Mikhail Sholokhov. Trong cái không khí mịt mù khói lửa ấy, sự nguy hiểm, gian nan càng tăng lên, thì tình chiến hữu đồng đội của họ càng hòa quyện chặt vào nhau hơn. Và đứng trước thất bại cũng như cái chết, dường như đã cho Trần Hoài Thư nghị lực vượt qua tất cả để sống, để viết trả nợ đồng đội. Lời văn tự sự nhanh và mãnh liệt, với ngôn ngữ, câu thoại mang đậm tính điện ảnh, gần tâm lý độc giả Âu- Mỹ, Trần Hoài Thư đã cho ta thấy rõ điều đó:

“- Mày hãy nghe tao nói. Mày là nhà văn. Tao là độc giả của mày. Mày phải sống. Mày nghe rõ chưa. Mày phải sống để mà viết lại...

Rồi hắn gào lớn:

- Phải viết lại cảnh này. Thằng Trí, thằng Luông đang nằm cạnh tao đây cũng cần mày. Thằng Trí cõng tao, rồi chết vì tao... Mày hãy nói cho mọi người biết về những cái chết chó má như thế này. Chết mà không được bắn một viên đạn như thế này...

- Tư. Tao xin nghe mày. Tôi đau đớn nói.

- Tao dẫu sống cũng vô ích. Hai chân tao, ngực tao, ruột tao... Chỉ còn cái đầu tao là không trúng đạn... Rồi hắn la. Không, hắn mắng tôi.

- Sao lại không chịu chạy. Mày hèn à. Diều hâu mà hèn à…”

Chập chờn ký ức hiện về, cùng những tình tiết hiện thực đan xen, tạo nên hình ảnh so sánh ẩn dụ làm cho người đọc phải ám ảnh rờn rợn, xuyên suốt những tác phẩm của Trần Hoài Thư. Với thủ pháp nghệ thuật này, đã góp phần không nhỏ tạo nên thành công, cũng như tên tuổi tác phẩm, tác giả Trần Hoài Thư. Nhiều thế hệ các nhà văn trẻ sau ông sử dụng khá thành công thủ pháp nghệ thuật này, đặc biệt cuốn Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh. Và Mắt Đêm là một truyện ngắn điển hình như vậy của Trần Hoài Thư. Tuy khoác áo lính, bước vào cuộc chiến là nghĩa vụ bắt buộc, nhưng Trần Hoài Thư luôn giữ vững quân kỷ của người trung đội trưởng, và trách nhiệm bảo vệ dân chúng, đồng bào được ông đặt lên hàng đầu. Đọc nó, không chỉ thấy được cái tình của người lính Việt Nam Cộng Hòa đối với người dân nơi chiến trường (dù biết họ có thể là nằm vùng, hay có quan hệ, che chở cho những người lính Bắc) mà Trần Hoài Thư còn đưa ta ngược về ký ức với hình ảnh tuổi thơ xa vời vợi của ông. Có thể nói, đây là một trong những truyện ngắn hay nhất của Trần Hoài Thư được viết trong thời kỳ này:

“Thằng Trung cầm trái M.26, sắp bỏ vào miệng rút chốt. Tôi gọi giựt: Khoan đã. Muốn chết hả? Trung nói: Thiếu úy, em nghe tiếng động trong hầm, bọn nó núp trong hầm, thiếu úy. Tôi nạt: Mà tưởng bắt bọn nó dễ dàng như vậy sao? Trung cầm trái lựu đạn, phân bua: Thì ở đây là bọn nó rồi còn gì. Tôi nói: Lỡ dưới hầm toàn dân không thì? Tôi chỉ tay vào trái lựu đạn cay, sao mày không dùng thứ này?...

Tôi không thể chịu nổi những gương mặt thảm thê, những đôi mắt ngơ ngác sợ sệt đó. Mụ đàn bà nhìn tôi van lơn. Hai ông già tiếp tục nhìn ra cánh đồng chói nắng… Tôi muốn nhắm mắt lại, ngủ một giấc, một giấc thôi. Mẹ tôi ở đó, những đêm ôm chặt tôi trốn dưới gầm giường. Đạn réo ngoài sân, ngoài ngõ, ngoài hiên. Đạn réo trên đầu, trên mùng, Mẹ tôi ở đó, trên sân nắng, hai tay để lên đầu, khóc lóc nhìn bọn lính Tây tra hỏi. Vẫn những giọt nước mắt, vẫn những tiếng khóc lóc, như một âm vang từ xa xôi vọng lại, từ một quê hương, một xóm làng đìu hiu.”

Vẫn những đêm ngủ rừng, hay trên gò mả giữa cánh đồng trắng trơn, hoặc xông vào những trận đánh kinh hồn, nhưng dường như giấc mơ, nỗi nhớ vẫn không thể thiếu trên mỗi chặng đường hành quân của Trần Hoài Thư. Tình yêu và cái thuở ban đầu ấy, như những cơn mưa đầu mùa tưới mát cho tâm hồn chai sạn của người lính chiến. Với tôi, trong các nhà văn quân đội VNCH (trực tiếp cầm súng) nơi chiến trường ác liệt, viết nhiều và hay nhất về tình yêu, và cái thuở học trò, chắc chắn phải là Trần Hoài Thư. Thật vậy, đọc truyện Nụ Hoa Vàng Của Ngày Si Tình của ông, cho tôi cảm giác như đang đọc một bài thơ. Một bài thơ tự sự đầy hình tượng về sự tiếc nuối một mối tình đầu của thuở hoa niên. Tuy nhiên ông bạn nhà thơ già của tôi, ghé mắt đọc, không cho là như vậy. Vì thế, khi ngồi viết những dòng chữ này, tôi chưa biết để Nụ Hoa Vàng Của Ngày Si Tình ở mục truyện ngắn, tùy bút, hay một trang thư…Nếu đây là một lá thư, thì có lẽ, đây lá thư tình hay nhất mà tôi đã được đọc. Và đọc nó, khẳng định thêm một lần nữa tài năng miêu tả tâm lý, nội tâm nhân vật của nhà văn Trần Hoài Thư:

“…Trên mái ngói đỏ của ngôi trường nữ trung học, có đôi chim bồ câu âu yếm tỉa lông cho nhau. Nhưng, riêng anh, cả lòng như một bến ga quạnh quẽ. Đứng bơ vơ, mà nghe trong gió có một cung đàn kỷ niệm. Cung đàn ấy, vọng từ một cõi nào xa xôi lắm, có vỉa hè Đồng Khánh, có cả rừng bướm trắng dập dìu, và có một kẻ tình si đang trồng chân như cây phượng vĩ già nua, nhìn theo một cánh bướm, qua sông vĩnh biệt…”

Trong văn học sử miền Nam có hai ông nhà văn vừa cầm súng vừa viết Phan Nhật Nam và Trần Hoài Thư, cùng chung cảnh cải tạo tù tội sau 1975, nhưng lại có văn phong khác hẳn nhau. Nếu văn Phan Nhật Nam sinh động, sắc sảo, thì văn Trần Hoài Thư trầm lắng, hình tượng. Phan Nhật Nam động thì Trần Hoài Thư tĩnh. Âu đó cũng là sự may mắn làm phong phú thêm cho nền văn học Việt Nam.

Và Viễn Thám là một truyên ngắn hay, có lời văn đẹp, tĩnh lặng như vậy của Trần Hoài Thư. Đây là truyện ngắn làm cho người đọc ngạc nhiên, bất ngờ và gây ra nhiều tranh cãi. Nó mở ra tư tưởng cũng như nhân sinh quan của ông. Có lẽ, không riêng tôi, mà còn nhiều người đánh giá cao giá trị nội dung cũng như quan niệm, thay đối tượng thẩm mỹ trong chiến tranh của tác giả trong truyện ngắn này. Hơn thế nữa, nó không chỉ đẹp trong từ ngữ lời văn, mà trong cả tâm hồn và trong cái tình của người lính thám báo, nhà văn Trần Hoài Thư. Và nó khác hẳn hình ảnh người thám kích dã man, tàn bạo trong truyện của Bảo Ninh và Dương Thu Hương. Tôi nghĩ, Bảo Ninh, Dương Thu Hương viết Nỗi Buồn Chiến Tranh và Vô Đề vào những năm cuối thập kỷ tám mươi của thế kỷ trước, khi chưa bốc (hết) được ngôi mộ với con ma xó tuyên truyền bấy lâu ra khỏi linh hồn mình. Nếu những cuốn sách ấy được ra đời vào thời điểm ngày nay, có lẽ sẽ khác đi chăng? Đọc truyện này, có lẽ nhiều người phản bác, cho rằng Trần Hoài Thư hành động bằng cảm tính. Và bằng chứng dường như có những đoạn văn của ông bị xét duyệt cắt bỏ khi in ấn vào thời điểm ấy chăng? Ơ hay! Trần Hoài Thư mang trái tim nghệ sỹ vào chiến tranh cơ mà. Và trong chiến tranh dường như, những người nghệ sỹ cầm súng luôn có tâm hồn, suy nghĩ như vậy. Nhưng dám hành động, và viết thành lời như ông không phải ai cũng đủ dũng khí. Chúng ta đọc lại một đoạn trích trong Viễn Thám (tuy nhiên, có đoạn khi duyệt đã cắt bỏ?) để thấy rõ điều đó:

“Trung đội thám kích đang săn tin về một đơn vị Bắc quân mới xâm nhập vùng Trường sơn, đã không ngờ gặp một cặp bộ đội đang hát bên bờ suối. Quân thù đó nhưng người lính đã không bắn. "Tôi không thể chơi cái trò dã man như vậy. Tôi muốn người thanh niên kia, ít ra, có một giờ phút vĩnh cửu (…) Tiếng hát như nói lên những điều câm nín từ những con tim của tuổi trẻ Việt Nam…. Tiếng hát như dậy khỏi mồ, bạt cả gió, khiến rừng như thể im phăng phắc lá như thể thôi lay động trên cành. Và ít ra, tôi vẫn còn hiểu rằng, mỗi người đều có trái tim. Và trái tim thì lúc nào cũng sống vĩnh cửu"

Có thể nói, chất liệu trong văn thơ Trần Hoài Thư có được từ thực tế bản thân và đồng đội. Ông đã trải nó lên trang văn dưới nhãn quan của riêng mình. Tuy có cái nhìn bi quan về cuộc chiến, nhưng nó lại bật lên tính nhân đạo ngút trời trong từng trang viết của ông. 

Tính bi hài và những nỗi đau.

Có lẽ không ai nghĩ, một thư sinh với sức trói gà Trần Hoài Thư có sức phản kháng mãnh liệt đến vậy. Sự phản kháng ấy, không chỉ có trên trang văn, mà còn mãnh liệt hơn trước những bất công ở ngoài đời. Trần Hoài Thư tự động rời bỏ quân ngũ trước phi lý của số phận đã chứng minh cho điều đó. Và từ đó, cho ta thấy được tính khí khái trong con người ông. Chứ thành thật mà nói, một nhà văn dù có sống ở chế độ nào cũng vậy, cứ cúi mặt xuống viết dưới cái bóng của các đấng ngồi trên, thì không bao giờ có được những tác phẩm ra tấm ra miếng.

Ngay ngày đầu, Trần Hoài Thư đã nhận ra cái bất công và số phận hẩm hưu của những người lính nơi tiền đồn. Do vậy, những cay đắng, khắc khoải đó như nén chặt trong lòng văn nhân. Và rồi, một lúc nào đó, nó sẽ chảy ộc ra bằng văn, bằng thơ, trải dài trên trang giấy, đọc lên ai cũng phải xót xa:

“Khi ra trận ta là thằng chết trước
Tổ quốc ghi ơn, lãnh tụ đẹp lòng
Khi tìm vợ, ta là thằng chạy chót
Nên khó lòng ấp vợ đẹp trong chăn…” (Lính tiền phương)

Vâng! Và người lính ấy chưa chết hẳn, nhưng trở về với đôi nạng gỗ trên tay. Đọc truyện Bệnh Xá Mùa Xuân, ta không chỉ thấy được sự lên án, mỉa mai, mà còn thấy được sự tàn nhẫn của chiến tranh. Và hình ảnh người lính cụt chân ấy, cứ tưởng mình còn nguyên vẹn, nhảy phắt xuống giường, bị ngã úp mặt xuống đất, dường như đẩy tính bi hài, và nỗi đau lên gấp bội. Phải nói thẳng, miền Nam có nhiều nhà văn lớn và tài hoa, nhưng tài năng đưa hình ảnh, hình tượng vào trong văn nhiều và hay như Trần Hoài Thư quả thực không nhiều:

“Nửa đêm, cả lòng đêm bỗng dưng bị dội lên bởi những quả đạn rơi rất gần khu bệnh xá. Những tiếng la thất thanh. Pháo kích! Pháo kích! Tiếp sau là những bóng người vụt chạy ra hầm núp ngoài sân. Tên thương binh cụt chân, trong cơn bấn loạn tột độ ngỡ mình vẫn còn lành lặn như xưa, đã ào nhảy xuống giường. Sau đó, hắn mới biết được sự thật. Hắn ôm khúc đùi rên rỉ và nằm ngay dưới nền. Hắn không còn nhận ra cặp nạng nữa…”

Đọc và nghiên cứu tôi thấy rất có lý, khi nhà phê bình Nguyễn Vy Khanh nhắc đến cái chất giản dị trong văn của Trần Hoài Thư. Thật vậy, ngoài cái giản dị trong sáng, văn thơ Trần Hoài Thư không hề đao to búa lớn. Chính những đặc điểm ấy, đã giúp tôi đọc hết tất cả những gì ông viết, khi bắt gặp, hoặc tìm thấy, dù bất kể đề tài, thể loại nào. Qủa thật, tôi rất sợ đọc những bài viết lên gân quá mức cần thiết khi viết về người lính Việt Nam Cộng Hòa của một số tác giả gần đây. Thường những bài này, tôi bỏ nửa chừng. Là người, kể cả người lính dù có lý tưởng gì gì đi chăng nữa, trước cái chết ai mà chẳng sợ. “Cái chết nhẹ tựa lông hồng” không phải ai, và hoàn cảnh nào cũng có thể dùng được. Ta đọc lại những câu thoại giữa hai người lính (là thày, trò cũ của nhau) cùng bị thương dưới đây,trong truyện Bệnh Xá Mùa Xuân, để thấy cái day dứt, bi hài đi thẳng vào lòng người, tuy từ ngữ rất mộc mạc: 

“- Trời ơi, một người mang cặp kính nặng như thế mà họ vẫn không chịu buông tha sao thầy?

Minh cười:

- Họ nói là điếc thì không sợ súng, còn mang hai cặp mắt mới dễ bắn VC hơn.

- May mà em cụt một chân, nếu mù một con mắt họ vẫn bắt em đi ra đánh giặc trở lại.

- Thầy không buồn đâu. Bởi vì dù sao thầy là sĩ quan, là thiếu úy, thầy vẫn còn sướng hơn những người lính khác. Trung đội thầy có thằng mang đại liên, tên là Nga, Võ hồng Nga, to đen như Mỹ đen, nhưng bị cận thị nặng. Đi hành quân, nó không thấy đường, cứ nhằm chỗ VC mà tiến. Cuối cùng nó chết.

- Thầy biết không, bởi vì nó không cổ cánh….”

Chết hoặc trở thành tàn phế chưa phải là điều đáng sợ của người lính, mà cái đáng sợ nhất nhận lệnh, buộc phải thi hành của những người lãnh đạo quan liêu, và dốt nát. Đọc truyện Thế Hệ Chiến Tranh dường như cho ta một cảm giác, đây là một bản cáo trạng của nhà văn thì đúng hơn:

“Suốt cả một buổi trưa hai thằng chúng tôi mắc nạn không thể bò xuống đồi. Tư bị đạn trúng bã vai và chân. Còn tôi thì bị lựu đạn làm bể cả bắp đùi. Lúc này mạnh ai nấy thoát. Bởi ai cũng biết rằng nếu ở lại thì chết bởi những họng súng đang săn mồi từ cao điểm. Rõ ràng đây là một cuộc thí quân. Họ ra lệnh chúng tôi phải chiếm đồi với M16, và lựu đạn, trong khi địch ẩn núp trong những hang kiên cố, với lợi thế là thấy rõ chúng tôi, còn chúng tôi thì như những kẻ đui mù…”

Không dừng lại nơi chiến sự, Trần Hoài Thư tiếp tục chọc thẳng vào cái ung nhọt thượng tầng của xã hội. Khi ông đã nhận ra, sự hy sinh cả một thế hệ để phục vụ cho những kẻ lãnh đạo không lương thiện, thiếu tài năng này. Nếu gần đây, ta đã đọc bút ký Sau Cơn Binh Lửa của Trung tá, nhà văn Song Vũ, thì thấy được, những con sâu ở giới lãnh đạo thượng tầng này, góp phần không nhỏ dẫn đến sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Có thể nói, tuy miền Nam được tự do viết lách, nhưng ở vào thời điểm đó, Trần Hoài Thư viết thẳng tưng như thế này, quả thật cần lắm một sự dũng cảm. Và đoạn trích dưới đây, chứng minh cho ta thấy sự thối nát cũng như sự can trường của nhà văn:

“Trong khi bạn bè thầy, bạn bè em cứ tiếp tục bị chết, thì ở Sài Gòn người ta vẫn ăn chơi phè phỡn, đô la thuốc phiện và tran giành quyền lực bằng những thủ đoạn chính trị bẩn thỉu. Ngay tại nơi này, những đồn điền mênh mông, những khu rừng cấm mà bọn mình đem xương máu bảo vệ là tài sản của các tướng tá hay các lãnh tụ ở Sài Gòn. Chúng ta cứ chết, mặc nước mắt của người mẹ, người em, để những mệnh phụ phu nhân, những bà lớn nắm quyền mua quan bán chức. Họ đục khoét tiền viện trợ Mỹ, con cái họ được chạy đi du học để trốn tránh trách nhiệm.”

Nỗi đau, sự trớ trêu trên những trang viết Trần Hoài Thư không dừng lại một gia đình, một tỉnh thành, mà cho toàn dân tộc Việt. Có thể nói, từ ngày lập quốc đến nay chưa có trận chiến nào tang thương, thù hận bằng cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn vừa qua. Trần Hoài Thư chứng kiến những hiện thực bi hài trớ trêu ấy, và tái hiện vào những trang sách, nên đôi lúc tôi cứ nghĩ, ông không dừng lại ở nhà văn, mà còn như một nhà sử học vậy. Nếu truyện Người Anh Hàng Xóm, cuộc đối đầu nhau trên chiến trường giữa hai cha con đều là trung đoàn trưởng ở hai phía, thì truyện Về Làng là nỗi đau của một người lính Việt Nam Cộng Hòa trước người chú và chị ruột theo CS, bị chính đồng đội của mình bắn chết… Đây là hai câu chuyện điển hình nhất trong nỗi bất hạnh của dân tộc trên trang viết của ông. Và nó cứ ám ảnh đeo vào lòng người một sự day dứt, không thể dứt bỏ. 

Có một điều đặc biệt nữa, truyện nào của ông cũng mang một nỗi u hoài của sự chia ly, chết chóc với những cái kết bất ngờ bỏ ngỏ, buộc người đọc phải suy nghĩ. Nói Trần Hoài Thư là nhà văn của những nỗi đau, thì quả thật không ngoa tẹo nào.

Khi các nhà văn cùng thời thường khai thác đề tài ít va chạm với quyền lực, xã hội, hoặc viết về những trận đánh, chiến công oai hùng của người lính, thì Trần Hoài Thư đi vào bới móc cái bóng đen của chiến tranh, cũng như xã hội con người. Một đề tài khó nhằn, khó nuốt.

Nói cho cùng, xã hội, quân đội nào cũng vậy, đằng sau cái hào nhoáng đó, nó còn ẩn nấp bao thứ tồi tệ và bệnh hoạn khác. Và rất cần những nhà văn như Trần Hoài Thư bóc trần, rồi cắt bỏ.

Ba mươi tháng tư, và linh hồn rách nát.

Vậy là chiến tranh đã kết thúc, người lính thám kích Trần Hoài Thư không thể về Nha Trang cưới em, và trở về nghề dạy học của mình, như ước nguyện. Nam- Bắc thống nhất, nhưng không thể tha thứ cho nhau, và người lính thua trận ấy bước vào vòng lao lý. Bốn năm lưu đày ấy như bốn ngọn roi quất vào tâm hồn văn nhân. Cặp bộ đội đứng hát bên bờ suối năm xưa, nay đã thành người quản giáo. Tiếng hát ngày nào đổi thành lời rao giảng, để hành hạ nhau. Đói và rét làm cho người người lính, văn nhân mất đi cả lý trí. Mình là ai? Sinh vật hay con người? Có lẽ chỉ có trời mới biết. Sự phản ứng vô ý thức ấy của văn nhân buộc tôi tự hỏi: Nếu bây giờ trở lại hoàn cảnh năm xưa, người thám kích Trần Hoài Thư có bắn cặp bộ đội đang hát bên suối hay vẫn tha? Và trái tim văn nhân có còn sống vĩnh cửu? (như ở truyện Viễn Thám). Ta đọc lại đoạn trích trong truyện ngắn Ra Biển Gọi Thầm, để so sánh tư tưởng, ý thức, hành động trước và sau 30-4-1974 của nhà văn Trần Hoài Thư:

"Nó cũng thâm độc hơn bất cứ một sinh vật nào. Nó đái lên những con cá lóc cá trê nó câu được trước khi nạp phần cho cán bộ quản giáo. Nó thầm lén phạt đứt cọng mạ non thay vì làm cỏ. Nó chửi thề khi hắn ngồi nghe chính trị viên lên lớp. Nhưng nó lại chịu thua trước thiên nhiên. Bởi nước thì quá sâu, và chảy quá mạnh. Bởi bó tràm thì quá ngỗ nghịch, cứng đầu. Nó ngoi ngóp. Nó vùng vẫỵ Hai chân vừa đạp, hai tay vừa kéo. Mưa lạnh làm châu thân nó run như lên cơn sốt rét. Hàm răng nó đánh cầm cập. Nó lại đóị Cái đói ghê gớm. Cái đói tàn bạo quật ngã nó khiến nó cứ thở dốc, thở rống từng hồi từ lồng ngực ngỡ khô cạn. Nó lảo đảo. Nó đang ở bên trời. Nó hay là tôi. Và tôi hay là nó. Tôi cũng chẳng cần biết nữa…"

Với tôi, Ra Biển Gọi Thầm là truyện ngắn hay và cảm động nhất trong tập truyện cùng tên. Truyện này, Trần Hoài Thư viết khi ông đã vượt thoát sang Hoa Kỳ. Vẫn thủ pháp nghệ thuật hồi tưởng, chập chờn của ký ức, ông đã đưa người đọc trở về với những ngày tù tội, nơi có mối tình cao thượng tuyệt đẹp, nhưng cũng tuyệt vọng của mình. Tôi đã đọc khá nhiều truyện, ký của các tù nhân, cải tạo, nhưng đây là lần thứ hai đọc truyện viết về tình yêu trong thời gian tù của họ. Và trước đó, là truyện Nghỉ Hè Ở Mallorca của nhà văn Phạm Tín An Ninh.

Dường như càng lớn tuổi, nhất là từ sau 1975 càng gian nan Trần Hoài Thư kiệm lời hơn, nên đi vào sự cô đọng, sâu lắng của thơ. Hơn bốn năm tù, với một linh hồn rách nát, đủ để cho ông nhìn lại. Dù nhận được lời mời vào hội văn thơ, nhưng ra đi là con đường duy nhất của ông. Và con thuyền lá tre chòng chành giữa biển khơi mênh mông bão tố ấy, chở ông đi tìm tự do, hay tìm về cõi chết? Đọc bài thơ Đêm Ra Biển của Trần Hoài Thư làm cho tôi phải rợn tóc gáy:

"…Đêm nước mặn mà ngọt ngào nỗi chết
Đêm quá dài mà ngắn chớp tử sinh
Đêm ơi đêm, một cõi u minh
Đêm bật khóc nhìn chúng tôi tự sát…"

Vậy là Trần Hoài Thư đã vượt qua được những chớp tử sinh. Đến được bến bờ tự do, nhưng ông cảm thấy mình bất hạnh hơn. Mâu thuẫn trong tư tưởng, tình cảm luôn giằng xé văn nhân. Và từ đây, ông như con thuyền không lái, chòng chành hơn, bởi đã mất quê hương:

"Là lúc biết mình như thoát nạn
Sáng chân trời, hồng rực vầng dương
Là lúc, thấy mình như bất hạnh
Sắp làm người không có quê hương" (Đêm tiễn biệt Việt Nam)

Có thể nói, sau 1975 và từ khi định cư ở Hoa Kỳ, Trần Hoài Thư viết nhiều hơn. Ông viết cho mình, viết cho đồng đội, cho quê hương. Mỗi trang sách, bài thơ của ông như những đường kim sợi chỉ, vá lại linh hồn cho bao người đã bị rách nát trong chiến tranh, và trong những ngày trốn chạy lưu vong.

Tuy chưa phải là nhà văn lớn, nhưng Trần Hoài Thư là một trong những nhà văn điển hình nhất trong hai mươi năm nội chiến của nền Văn học Việt Nam.

Viết bài này, khi tài liệu thơ văn của Trần Hoài Thư, tôi có không nhiều, chủ yếu tìm đọc trên Internet, (và cũng chưa một lần gặp gỡ ông). Do vậy, không có hệ thống, có thể còn sai sót và chưa lột tả, đi hết cái tận cùng con người, cũng như thế giới mênh mông văn thơ Trần Hoài Thư. Nhưng đây như một lời tạ ơn của kẻ hậu bối, đến một nhà văn suốt đời hy sinh, tận tụy cho văn chương nước nhà.

Và hình ảnh Trần Hoài Thư, ngồi vá lại những linh hồn in đậm trong lòng, đã thôi thúc cho tôi viết bài này.

Leipzig ngày 22- 5-2017

Powered By Blogger