Thursday, November 20, 2014

Chúng ta phải mạnh. We must be strong


Nguyễn Văn Lục

Tôi nhận được từ lâu một bản dịch từ một bài báo của ký giả Nhật Yoshigata Yushi, trong đó viết về Số phận của người Thương phế binh Miền Nam Việt Nam.

Trong bài báo, ký giả Yoshigata Yushi có thuật lại câu chuyện của thương phế binh tên Hùng được 1 tổ chức NGO giúp đỡ cho chiếc xe lăn. Tặng xong, họ yên chí là lần này ông Hùng sẽ thoải mái ngồi trên chiếc xe lăn mới. Không. Tháng sau, lúc quay trở lại, người ta thấy người thương phế binh vẫn lết đi trên đôi nạng. Hỏi lý do, ông Hùng trả lời đơn giản là chính quyền địa phương tịch thâu chiếc xe lăn vì cơ quan cho xe không qua trung gian chính phủ, lại còn bắt đóng tiền phạt. Ông Hùng không có tiền. Tổ chức NGO đành bỏ tiền đóng phạt để ông Hùng có được chiếc xe lăn.
Những điều quá nhỏ như thế tố giác một dã tâm quá lớn: một chế độ phi nhân. Nó sẽ làm cho hàng ngàn, ngàn người đọc thức tỉnh về những điều nhỏ như thế.
Ở Việt Nam, người ta chết đuối trên cạn, chết vì những ổ gà trên xa lộ, những vũng nước bên đường hơn là chết máy bay, chết đuối khi đi biển!!
Chính quyền cộng sản trong nước phải hiểu rằng họ đang đẩy người dân vào thế phải đối đầu với nhà nước, biến họ là những người bạn nay thành kẻ thù.
Trong tương lai, bên cạnh một nhà nước xã hội chủ nghĩa độc tài toàn trị sẽ hình thành một xã hội dân sự có danh xưng là một xã hội bất tuân phục, một xã hội mà đa số người dân trong nước là nạn nhân tạo thành một sức mạnh đề kháng, bất bạo động và bất hợp tác.
Cái tương quan ông chủ và thằng ở mà trước đây là mục tiêu tranh đấu của người cộng sản nay họ lại chính là ông chủ và toàn thể nhân dân miền Nam biến thành người ở. Cộng sản đã dổ bao nhiêu xương máu người dân để đánh đổ phong kiến, áp bức, tư bản bóc lột nay họ trở lại nguyên hình là một nhà nước phong kiến nhất, bóc lột nhất và dã man nhất.
Vì thế, tương quan giữa dân và Đảng nay trở thành một tương quan thù địch.
Nó đang hình thành một cách tự phát trong mọi giai tầng ở xã hội Việt Nam. Nó trở thành một xã hội bất tuân phục sẽ nói không với nhà nước.
Điều quan trọng là thức tỉnh người trong nước hiện nay còn có một số thành phần sống “vô tư” quá, coi những chuyện rất không bình thường thành bình thường theo cái tinh thần sống chết mặc bay.
Xin phép, ai có nhiều hộp khăn giấy, xin phát cho mọi người để biết chùi đi một nỗi đau sót cho VN. Phần tôi, ai có cái ống nhổ cho tôi mượn để tôi nhổ một miếng.
Nghĩ đến thân phận người thương phế binh VN, tôi chợt nghĩ đến đã xem cuốn phim, Kandahar, trong đó vùng đất Afghanistan diện tích đất đai rộng gấp hai lần Việt Nam mà trên đó đầy những bãi mìn.
Không biết bao nhiều con người đã mất hy vọng không bao giờ còn có thể đi trên đôi chân của mình ở vùng đất ấy? Vậy mà hy vọng đã vươn lên.
Các cơ quan từ thiện quốc tế đã phải dủng phương tiện là máy bay thả dù những đôi chân gỗ xuống cho những con người bất hạnh.
Từ trên cao, bao nhiêu cánh dù nở ra với những đôi nạng đem theo niềm hy vọng để con người có thể bước đi trên đôi chân giả của mình. Phía dưới, hằng tốp người nhảy lò cò trên đôi nạng vượt trên những đồi cát, vội vã tiến về phía chân trời để hy vọng lấy được một đôi chân gỗ.
Xem cái cảnh ấy, không còn cái cảnh nào bi kịch hơn nữa. Xem cái cảnh ấy, nghĩ đến Việt Nam. Rất nhiều người Việt Nam đang đi trên những đôi chân gỗ tìm lại cuộc sống an vui thuở nào.
Mặt trời lúc đó đã mọc ở sau mặt trăng... Vâng quả như vậy.
Tôi mường tượng những người đã cụt chân, cụt tay, làm thế nào để họ có thể trèo qua một bức tường. Vậy mà phía trên kia, trời còn cao hơn nữa.
Họ, những người thương phế binh VN, họ phải đi hết con đường của họ đang đi.
Hết kiếp đọa đầy này. Những con đường Thánh Giá với những tiếng thở dài mà trên trời chăng đầy những “mạng nhện” hình ảnh Bác Hồ vẫy tay cười hồn nhiên với anh. Nhìn sang trái, sang phải là những khẩu hiệu như Mừng Xuân, mừng Đảng. Có chỗ nào Mừng Xuân Mừng Nhân dân đâu.
Đất Nước với hơn 90 triệu dân một ngày không xa sẽ xếp hàng bên lề trái. Những đôi chân gỗ sẽ giúp người dân niềm hy vọng xóa tan mây mù cộng sản ở chân trời.
Mặc dầu không có thống kê nào, nhưng tôi nghĩ rằng, không hẹn mà gặp. Tất cả người dân trong nước đều bất đắc dĩ đứng sang lề trái tạo thành một xã hội bất tuân phục.
Tất cả những người tự chọn đứng sang lề trái đều là những nạn nhân cách này cách khác cụt hai chân của chế độ ấy.


Có thể là những người nông dân
Từ khi thành lập nhà nước XHCN đến giờ, người nông dân là kẻ bị thiệt thòi nhiều nhất. Lợi tức tính theo đầu người là thất nhấp nhất so với cả nước. Của cải làm ra như lúa gạo nay đủ nuôi hơn 80 triệu dân và là nước xuất cảng gạo thứ nhì thế giới. Nhưng người nông dân vẫn phải chịu đựng túng đói, không việc làm, nông dân bỏ ruộng đồng lên các thành phố, hoặc xuất cảng lao động, hoặc tệ hại hơn cả xuất cảng lấy chồng ngoại quốc, một thứ làm điếm trá hình.
Chỉ riêng toàn xã Lập Lễ tính trong 7 năm trời, có 523 cô lấy chồng ngoại. Tỉ lệ 30%
Xã Cái Lễ, trong 5 năm, có 400 phụ nữ lấy chồng ngoại, tỉ lệ 70%.
Có đất nước nào như đất nước ấy không? Có thời kỳ nào trong lịch sử VN khốn nạn như hiện nay không?
Đó là hiện trạng tha hóa con người ở trong giới nông dân biến họ trở thành những kẻ thù của chế độ.
Mỗi một phụ nữ xuất khẩu bán dâm là một bản án cho chế độ ấy.
Bản án ấy danh sách mỗi ngày mỗi dài. Con đường dài nhất nhất dẫn tới chế độ tư bản tự do là con đường đi qua XHCN.


Có thể là những người lao động
Người lao động chính ra phải là những thành phận nòng cốt cho chế độ XHCN. Rất tiếc chính quyền cộng sản khai thác triệt để sức lao động cũng như tiền lương chết đói của họ đồng thời toa rập với giới chủ nhân ngăn cản mọi cuộc biểu tình hay đình công đòi tăng lương.
Các khu chế xuất, các khu kỹ nghệ hình thành chỉ là những ghetto chôn vùi tuổi trẻ và tương lai giới thanh thiếu niên Việt Nam.
Đã có bao nhiêu cảnh đời, bao nhiêu hệ lụy, bao nhiêu chia lìa mất mát, bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ quê hương làng mạc cho guồng máy xuất khẩu để nhận lại một đồng lương chết đói!!! Đã có biết bao nhiêu vụ phụ nữ không chồng mà có con, bao nhiêu vụ phá thai và bao nhiêu những mối tình qua đêm vì không đủ điều kiện tiến tới hôn nhân?
Sự tích lũy giầu có thì thuận chiều với sự gia tăng nghèo đói, bởi vì có bóc lột mới có nghèo đói.
Người ta hy vọng có sự bùng nổ của giới thợ thuyền như đã từng xảy ra ở Ba Lan với công đoàn Đoàn Kết để phá vỡ cái được gọi là “dây chuyền của sự áp bức”.
Đến một lúc nào đó, người công nhân Việt Nam- Nam cũng như Nữ- phải To break the chains of Oppression.
Nhưng bên cạnh sự nghèo đói hiển lộ như một tố cáo chế độ bất nhân này không màng gì đế số phận dân nghèo, bất kể ốm đau, bệnh tật, bất kể thất học, bất kể tệ trang xã hội.
Điều mà bà mẹ Teresa nhận định ở những nơi có bóc lột, ngoài sự nghèo đói về vật chất còn có sự nghèo túng tình thần, sa đọa đến tận cũng về đạo đức. Bà Teresa nói, “Il y a ici une pauvreté plus grande que la pauvreté matérielle. Cette pauvreté de l’esprit est plus destructible que la pauvreté matérielle.”
Có một sự nghèo đói còn lớn hơn cả nghèo đói vật chất. Đó là sự nghèo đói tinh thần mà nó có tác dụng hủy hoại hơn sự nghèo đói về vật chất)
(Trích L’ Église de l’autre Moitié du Monde, Julio de Santa Ana, trang 67).
Người cộng sản, chính quyền cộng sản sẽ không bao giờ hiểu được điều này. Nó sẽ có tác dụng hủy hoại một cách tiệm tiến, vô thức trong xã hội Việt Nam và là một mối hiểm nguy cho bất cứ chính quyền độc tài nào..
Nghèo đói bất công cộng với sự sa đọa về đạo đức là hậu quả của XHCN ở Việt Nam đến như tuyệt vọng.
Tiếng nói cất lên từ giới trẻ
Ngày nay, thành phần xã hội dân sự tiêu biểu nhất, phẩm chất tốt nhất, lý tưởng cao nhất, can đảm hơn cả là giới trẻ.
Chính vì họ chưa có gì mà họ có tất cả những điều tốt đẹp cho cuộc sống tương lai của họ. Họ sẽ làm nên họ.
Có thể nói giới trẻ là thế lực mềm(Soft power) đối đầu trực diện với thế lực cứng ( Hard power) của cộng sản.
Họ là các nhà văn nhà báo, trí thức như kỹ sư, luật sư, bác sĩ, nhất là các Blogger nay là tiếng nói phản kháng duy nhất làm chính quyền cộng sản e ngại.
Họ là tiếng nói lương tâm của xã hội.
Họ là những người lâu đời như Nguyễn Văn Lý đến trẻ hơn như Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Vũ Bình, Lê Công Định, Lê Trần Luật, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Trần Anh Kim, thầy giáo Vũ Hùng, Nguyễn Xuân Nghĩa, Phạm Hồng Sơn hay như những blogger Người Buôn Gió, Như Quỳnh. Và hằng trăm người khác mới xuất hiện. Kể không hết như Huỳnh Thục Vy chẳng hạn.
Mặc dầu một số những người trong bọn họ phải “ bức cung” để thú tội trước khi ra tòa thì đối với tôi họ vẫn là những thanh niên đáng được mọi người kính trọng.
Tất cả bọn họ đều muốn cất lên tiếng nói cho Tự Do và Dân Chủ. Nhưng tôi tự hỏi họ sẽ mặc áo mầu gì để tranh đấu cho tự do, dân chủ ?
Colour of Freedom?
Nếu những người tranh đấu chống lại nạn kỳ thị chủng tộc dùng mầu đen, mầu của dân da đen làm biểu tượng thì người Việt Nam tranh đấu cho Tự Do, Dân Chủ sẽ phải dùng mầu gì? Giới trẻ Hông Kông nay mang mầu gì.
Không có màu gì khác hơn là màu vàng biểu thị cho giống da vàng để chống lại cái màu đỏ của cộng sản vốn vay mượn của Quốc Tế cộng sản.
Tất cả những người trẻ trên đang tranh đấu cho tiến trình Tự Do, Dân Chủ ở Việt Nam không khác gì một Lưu Hiếu Ba bên Trung Quốc.
Trong tương lai, trí tuệ, ngòi bút, tuổi trẻ, tâm hồn Việt Nam sẽ hợp lực dưới ngọn cờ vàng. ( Tôi không có ý muốn ám chỉ đích danh cờ vàng ba sọc đó của ngươi dân tỵ nạn hải ngoại) để tẩy rửa và xóa sạch vết nhơ cộng sản đã làm hoen ố đất nước này.
Và chúng ta dứt khoát không chấp nhận quan điểm của một số trí thức cũ miền Bắc phần đông còn chấp nhận có quan điểm Sống chung. Giống như sống chung với lũ lụt.
Chẳng hạn nhà báo Đào Hiếu viết: Ông Tổng biên tập khổng lồ. Nhà văn Dương Tường cho rằng phải sống chung với kiểm duyệt. Và cứ thế sống chung với tham nhũng và bao hàm sống chung với tội ác?
Những người như Dương Trung Quốc, tiêu biểu cho trí thức miền Bắc mà phần đông bọn họ chỉ là loại trí thức đối lập trung thành.( Loyal dissidents) chẳng có ích gì cho đại cuộc. Họ hết thời rồi!!
Việc trả đũa đích đáng của chúng ta là phải chấm dứt sự sống chung dưới bất cứ hình thức nào vì đó gián tiếp là cách đầu hàng, đồng lõa với tội ác, bất lương.
Vai trò các tôn giáo

Trước đây, phần đông người ta tin tưởng vào các lãnh đạo tôn giáo cả phần đạo lẫn phần đời. Đó là một sự tin tưởng mù quáng và sai lầm. Họ hiện nay không xứng đáng được tin tưởng như thế nữa.
Họ xem ra cũng chưa làm đầy đủ nhiệm vụ của mình trong vai trò xã hộị dân sự.
Họ không học được bài học xưa kia khi cộng đồng ở Giê ru sa lem chia sẻ của cải vật chất với mọi người. Và cũng vậy, ông thánh Phao Lồ kêu gọi giáo hữu thành Corinthiens chia sẻ sự giàu có hay cái gì mà họ có thể có ít nhiều để chia với người dân nghèo ở Giê ru sa lem.
Xin trích dẫn một câu trong lá thư của linh mục R. Voillaume viết ngày 01/12/1951 gửi cho anh em tiểu đệ như sau:
“Sống ở giữa xã hội những nghèo khổ, tôi cảm thấy bao nhiêu cái bất công đè xuống đầu người nghèo, chúng ta đôi khi tự nhiên thấy công phẫn muốn dùng võ lực lật đổ tình trạng ấy, đánh đổ những người chỉ biết hưởng thụ mà không xét đến người khác”.
(Trích Lương Tâm công giáo và Công Bằng Xã hội, tuần lễ Hội Học 1963, trang 60).
Cáo trạng trên phản ảnh toàn diện xã hội Việt Nam bây giờ. Đó là “tình trạng gai mắt” không thể nào để nó tồn tại lâu dài mãi được.
Các lãnh đạo tôn giáo không cảm thức được sự gai mắt chứng tỏ rằng tâm hồn họ đã bị chai đá, tư tưởng cầu an, vụ lợi đã che  mờ lương tri của họ.
Khi mà xã hội rối loạn, khi mà xã hội không còn luật pháp, khi mà dân đói ăn thì thử hỏi Sứ vụ tôn giáo còn có thể tồn tại được không? Giữa sứ mạng tôn giáo và sứ mạng chính trị với tư cách người dân trong một xã hội dân sự đã đến lúc phải nên chọn cái nào là ưu  tiên hàng đầu? Trước một kẻ đang chết đói, kẻ đầu đường xó chợ, một con điếm đang đứng đường kiếm khách mà đưa cuốn buồn nôn ( La Nausée) của J.P Sartre cho đọc là một điều xỉ nhục họ. Mà ngay cả một cuốn thánh kinh cũng vậy thôi.
Các lãnh đạo tôn giáo cỡ Tổng giám mục giáo phận Sải Gòn Bùi Văn Đọc, sống trong tháp ngà chờ Chúa dạy cách ăn nói là một ngụy tín, là một cách thức trốn trách nhiệm, là thể hiên một lối sống an thân, nói đúng ra là một lối sống hèn..(Lạy Chúa chúng con đây còn quá trẻ, chúng con không biết ăn nói- Trích dẫn bài giảng của TGM Bùi Văn Đọc tại đền thờ thánh Phao Lô, tại Roma ngày 23-6-2009).
Những người lãnh đạo tôn giáo chưa thực sự sống đầy đủ trong vai trò trách nhiệm dân sự của một người dân-. Có nghĩa một người dân bình thường- môt bác nông dân- một giáo dân đòi đất- một bà vợ đòi công lý khi có chồng bị tra tấn chết trong đồn công an-.thì thử hỏi các vị lãnh đạo ấy dạy được ai, giảng cho ai? Và ai còn nghe họ.
Phần đời họ không làm nổi thì phần đạo hỏi họ làm được gì! Cùng lắm họ chỉ là những thứ Pha ri siêu thời đại, thứ tiên tri giả. Chúng ta nay ráng tin vào con người có tấm lòng và không cần nghe những lời lẽ bông lông tô hồng đầy nguyên tắc sáo rỗng.
Họ hãy là một công dân tốt, cất lên tiếng nói trước bất công trước khi nhân danh một lãnh đạo tôn giáo. Ngày nay, nếu xếp hạng loại công dân tốt thì cỡ Bùi Văn Đọc tôi cho là đội sổ. Họ thua mọi người dân thấp cổ bé miệng mặc dầu cuộc sống của họ trên mọi người.
Họ có bao giờ dám nhân danh quyền con người để lên tiếng?
Làm thế nào để mọi người được gọi là Người. Để ‘không còn ai là brahman do huyết thống. Mà cũng không ai là paria do huyết thống.” (Trích Sutta-nipata 1)
Và từ đó từ chối một xã hội cộng sản trong đó có 3 triệu người mang hết phần lợi về cho mình.
Trước 1975, không biết bao nhiêu cơ sở xã hội để giúp cho người nghèo. Phần chính phủ này, chẳng những họ đã không giúp gì cho người nghèo mà họ còn tìm cách ngăn cản và từ chối vai trò xã hội của các tôn giáo nữa.
Nếu cần loại bỏ loại trí thức đối lập trung thành thì cũng một lẽ ấy phải loại bỏ thành phần lãnh đạo tôn giáo mà hiện nay chỉ là loại im lặng về hùa. Họ tai hại và là là rào cản cho một tiến trình dân chủ mà chúng ta không lường được.
Họ nhân danh Chúa mà nói, nhưng Chúa của họ thực sự không có tên lả Giê Su Nazaret.
Họ chưa xứng đáng là một người công dân tốt trong một xã hội dân sự thì làm sao họ xứng đáng là một người con của Chúa!! Nếu cần nêu tên họ thì họ là Mẫn, là Đọc, là Khảm, là Hợp, là Nhơn vv và vv..Danh sách dài lắm.
Phải cho họ biết chúng ta là ai?
Hiện nay, đất nước chúng ta có hơn 90 triệu người. Trong đó có già trẻ lớn bé, có thế hệ trước 1975 và sau 1975 và nhất là đa số là những thanh niên, thiếu nữ trẻ. Chúng ta cũng có rất nhiều trí thức chuyên viên như những bác sĩ, kỹ sư đủ loại. Còn lại là những người lao động trong các cơ sở xí nghiệp, nhà máy và những nhà nông, nhà trồng trọt, dân chài.
Bên cạnh đó, chúng ta có những tín đồ của các tôn giáo lâu đời như Phật giáo và Thiên Chúa giáo với hàng vài chục triệu tín đồ. Chúng tôi chỉ nói tới các tín đồ mà không muốn nhắc nhở đến lãnh đạo tín đồ vì đối với tôi phần đông bọn họ là những người thiếu tư cách lãnh đạo trong một xã hội dân sự đấu tranh đòi quyền sống làm người.
Tất cả những con người ấy làm nên đất nước này, tạo ra của cải vật chất và sự giầu mạnh của đất nước như ngày hôm nay.
Cuộc đời ấy là do chúng ta làm nên, đúng hơn do họ làm nên- họ những người dân bị áp bức- mặc dầu như Malraux đã nói, “La vie ne vaut rien, mais rien ne vaut une vie.” (Đời chẳng đáng giá gì cả, nhưng không gì đáng giá bằng cuộc đời).

Vậy mà cuộc đời của họ được gì? Nhân dân ta vẫn đói khổ, người lao động làm không đủ ăn, người nông dân vẫn đầu tắt mặt tối bỏ ruộng đồng đi về thành phố. Trai làm điếm, gái làm đĩ. Đó là những nghề không vốn, không khói.
Cả nước lao đao khốn đốn để cho 3 triệu đảng viên từ cấp làng xã đến Trung ương ngồi trên hưởng lợi.
Tưởng rằng đất nước được giải thoát khỏi tình cảnh nô lệ. Vậy mà tình cảnh người bóc lột người vẫn xảy ra ngang nhiên mỗi ngày.
Công khai và vô tư.
Đảng nhờ quyền lực và quyền lực trở thành vũ khí đàn áp dân lành. Tự bản chất, quyền lực có xu hướng tha hóa chính kẻ xử dụng quyền lực một cách hầu như vô thức.
Và khi quyền lực trở thành tuyệt đối thì sự tha hóa cũng thành tuyệt đối.
Thời xưa các vua chúa lúc chưa nắm quyền có thể là người anh hùng, nhưng khi có quyền lực trong tay, họ dễ trở thành những bạo chúa, những “vua ngọa triều”.
Như Pascal đã mỉa mai, “Pour le bien des hommes, il faut souvent les piper.” Vì quyền lợi của nhân loại, thường phải lừa bịp nhân loại.
Nhà nước này đang tựa lưng vào quyền lực đã bị tha hóa đang trở thành những kẻ lừa bịp và là nỗi đe dọa cho mọi người.
Người dân sợ họ. Đồng ý.
Nhưng nỗi sợ hãi bao giờ cũng hai chiều.

Cho nên kẻ làm cho thiên hạ sợ thì mặt khác họ cũng lại sợ thiên hạ. Có nhà độc tài nào mà không lo sợ bị ám sát, bị đầu độc. Đi đâu cũng có người canh gác lớp trong lớp ngoài, ăn uống sợ bị đầu độc phải có người nếm trước. Thằng ở sợ ông chủ mà ngược lại ông ông chủ cũng sợ thằng ở.
Và nếu toàn dân biết được cái lý lẽ biện chứng ấy trong mối tương quan với nhà nước cộng sản thì sẽ ra sao?
Phải biết rằng họ đang sợ chúng ta.
Họ sợ Bát Nhã, đang sợ Thái Hà, đang sợ Nguyễn Tiến Trung, sợ Tổng Kiệt, sợ những Bloggers và sợ bất cứ cái gì dù nhỏ nhoi, dù không đáng sợ. Vậy mà họ sợ . Một bài viết, một lời lên tiếng đủ làm họ sợ và truy chụp là âm mưu lật đổ chính quyền, âm mưu diễn biến hòa bình.
Dần dần họ sẽ sợ cả tiếng khóc một đứa trẻ, tiếng than của người vợ có chồng bị tù tội và tiếng chó sủa vu vơ ban đêm của nhà Trần Khải Thanh Thủy.
Ban đêm, giấc ngủ của họ biến thành những con ác mộng.
Vấn đề là phải biến nỗi sợ của chúng ta thành niềm hy vọng, thành lòng can đảm.
Và biến nỗi sợ của họ thành những kẻ đào tẩu như lũ trộm vào nhà trộm xong phải chạy trốn.
Và nếu trăm người, ngàn người như một đều đốt lên một ngọn nến hy vọng và lòng can đảm, đừng hèn thì đâu còn cần đến mặt trời nữa.
Giả dụ hàng ngàn, hằng trăm ngàn thanh niên trong nước tổ chức một đêm không ngủ, mỗi người đốt lên một ngọn nến đòi dân chủ, doài quyền được lên tiếng thì cần gì đến sự can thiệp của các tổ chức nước ngoài. Chúng ta quá quen với sự chờ đợi người ngoại quốc làm thay cho chúng ta những việc mà chính chúng ta phải làm.
Và lúc đó sẽ có một thứ mặt trời trong ta đốt cháy bạo lực, phá tan xiềng xích trói buộc con người.
Đi vào thực tế, ta cần nhận thức rằng 3 triệu đảng viên ấy không nhất thiết đều là những kẻ trung kiên với đảng đâu. Vì thế cần phân biệt nhiều loại đảng viên trong đám đảng viên cộng sản. Có kẻ ăn nhiều, kẻ ăn ít, kẻ đầu cơ chính trị, kẻ đón gió với đủ loại như sau:

Có loại đảng viên chỉ “bên đảng” mà bao giờ cũng có thể ở ngoài đảng.
● Có loại đảng viên chỉ “gần đảng” mà không bao giờ ở trong đảng
● Có loại chỉ “ăn có” đảng. Đây là những loại “đầu cơ chủ nghiã” nhiều vô số kể.
● Có loại đảng viên chính thức “ở trong” đảng, hưởng mọi quyền lợi chiếm khoảng 20% đảng viên ở trên.

Cả bốn loại này đều tùy theo chỗ đứng mà hưởng phần lợi nhuận “vô sản”. Trời đất ơi, chưa bao giờ tôi thấy cuộc cách mạng “vô sản” của người cộng sản lại mang nhiều ”ý nghĩa dương tính “đến như thế! !
Vô sản dương tính. Và nếu Marx còn sống có hô khẩu hiệu, Vô sản toàn thế giới hãy đứng dậy!
Tôi tin chắc sẽ không có một người cộng sản nào ở Việt Nam có thể đứng dậy. Bởì vì họ đứng không nổi do túi vô sản của bọn họ đều nặng.
Vì thế, tôi có thể dùng chính câu nói của Marx để nói về chế độ cộng sản hiện nay ở Việt Nam như một kết quả bi thảm.
Đó là sự thua thiệt hoàn toàn của con người.”
Có nghĩa là con người nói chung mất cơ may làm người trong chế độ ấy. Đảng viên cộng sản thì “vong thân” trong việc chiếm hữu tiền bạc, đất đai, nhà cửa. Còn người dân thường thì “vong thân” trong việc bị trấn lột trần truồng không đất, không nhà, không cửa.
Đảng vong thân trong cái có, “cái Avoir”, cái có tất cả. Và Dân vong thân trong cái không có, “cái Être” trần trụi.
Kẻ vong thân trong cái có trở thành bọn bất nhân, tàn độc, vô đạo đức. Kẻ vong thân trong cái không có trở thành hèn mạt, nô lệ, lũ người không có xương sống hoặc trở thành đĩ điếm, ma cô.
Xã hội VN bây giờ mất đạo đức cả từ hai phía: Kẻ cầm quyền lãnh đạo và người dân tất cả không trừ.
Ngay cả những người lãnh đạo tu hành. Tôi lại phải nhấn mạnh như thế vì tình trạng nhiễm độc như dịch hạch không miễn trừ một người nào. Bệnh dịch đang lan tràn khắp nơi chốn ở Việt Nam.
Phần chúng ta, những kẻ mất cơ may làm người đã đến lúc phải tự mình chứng tỏ: đứng lên, cất tiếng nói, tự bày tỏ để cho họ biết chúng ta là ai?
Tôi nhớ lại nhật ký của ông Mandela viết rằng: Tại sao 20 triệu dân da đen lại cúi đầu khuất phục trước 4 triệu người da trắng ?
Và tôi hỏi mọi người Việt Nam, tại sao 90 triệu dân lại cúi đầu khuất phục trước thiểu số 3 triệu người cộng sản?
Chúng ta sẽ không nói thì thầm trong xó nhà, trong buồng ngủ vợ chồng. Không nói cái loại ngôn ngữ hai mặt của những kẻ không còn xương sống!! Không nói lén trong chỗ đông người, không vừa khen năm chửi một, không chửi thề vô tội vạ trong lúc say sưa chè chén.
Đừng mượn chén rượu để làm cách mạng bằng mồm. Hiện nay nhậu nhẹt ở Việt Nam là một lối thoát được nhiều người ưa chuộng.
Hãy viết lên trên giấy bằng giấy trắng mực đen. Hãy rao truyền khắp nơi trên mái nhà, trên đồng ruộng, ra biên giới, ra hải ngoại bằng lời nói “ Không” với đảng.
There is a way to be strong again! Chúng ta đông gấp bội lần họ, là đa số còn họ là thiểu số.
Chúng ta vất vả lao động làm ra của cải vật chất, còn họ ngồi hưởng lợi và bóc lột.
Chúng ta là những người công dân tử tế, còn họ là bọn làm chính trị ma đầu, dối trá lường gạt dân chúng.
Sức mạnh của chúng ta là phải biết họ là ai và cho họ biết chúng ta là ai? Sau đó phải biết cất lên tiếng nói. Nói thì sống, không nói thì chết./.

Thư số 37b gởi: Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

Thư số 37b gởi:


Người Lính Quân Đội Nhân


Dân Việt Nam


Phạm Bá Hoa

Tôi chào đời năm 1930, vào quân đội Việt Nam Cộng Hòa năm 1954, chống lại cuộc chiến tranh do nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gây ra. Trong bang giao quốc tế, quốc gia này đánh chiếm quốc gia kia, không có tên gọi nào khác ngoài hai chữ “xâm lăng”. Sau ngày 30/4/1975, lãnh đạo cộng sản Việt Nam với lòng thù hận đã đày đọa chúng tôi trong hơn 200 trại tập trung mà họ gọi là trại cải tạo, hằng trăm Bạn tôi đến 17 năm, riêng tôi là 12 năm 3 tháng. Tuy tên Quốc Gia và Quân Lực mà tôi phục vụ không còn nữa, nhưng linh hồn trong quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ vẫn nguyên vẹn trong tôi. Tôi không hận thù lãnh đạo Các Anh, nhưng tôi không bao giờ quên quá khứ đau thương tàn bạo mà họ gây ra cho Tổ Quốc, Dân Tộc!  Vì vậy mà tôi chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ về Việt Nam cho đến khi quê hương tôi có một chế độ dân chủ tự do thật sự.
Các Anh là Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Xin gọi Người Lính Quân Đội Nhân Dân ngắn gọn là “Các Anh” để tiện trình bày. Chữ “Các Anh” viết hoa  mà tôi sử dụng ở đây, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lãnh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng. Là Người Lính trong quân đội “Nhân Dân”, Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, vì Tổ Quốc với Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản hay bất cứ đảng nào cầm quyền cũng chỉ một giai đoạn của lịch sử, và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó.
Nội dung thư này, với những bản tin tổng hợp, tôi cùng Các Anh đến Đà Nẳng quan sát khu vực dự án “Khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế Lăng Cô” đối diện với căn cứ Hải Quân Nhân Dân, sau đó lướt qua Hội Nghị thượng đỉnh ASEAN, và tìm hiểu ý nghĩa bên trong lời lẽ của Thủ Tướng Trung Cộng Lý Khắc Cường tuyên bố liên quan đến Biển Đông, thoạt nghe “rất ôn hòa”.....
Thứ nhất. Những vị trí chiến lược của Việt Nam vào tay Trung Cộng .
Bô-xít Nhân Cơ tỉnh Đắc Nông và Tân Rai tỉnh Lâm Đồng.
Tôi nghĩ, Các Anh vẫn nhớ là hồi tháng 11/2007, Thủ Tướng Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết Định số 167/2007, về thăm dò khai thác quặng Bauxite trên Cao Nguyên Miền Trung trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2015, xét đến năm 2025, và giao cho Tập Đoàn Than& Khoáng Sản quốc doanh thực hiện. Tập đoàn này dành một hợp đồng cho Công ty Chalieco của Trung Cộng khai thác tại Nhân Cơ tình Đắc Nông, và Tân Rai tỉnh Lâm Đồng (vòng tròn đỏ trên bản đồ). Ngày 27/3/2009, (báo Tuổi Trẻ tại Hà Nội) Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, Giám Đốc Công Ty Năng Lượng Sông Hồng thuộc Tập Đoàn Khai Thác Than & Khoáng Sản, được mời đến văn phòng trung ương đảng dự buổi tọa đàm. Sau đó, trong thư gởi Bộ Chính Trị, ông Sơn viết: “Lựa chọn nhà thầu Trung quốc là một sai lầm... Tôi có thể khẳng định, nếu đấu thầu một cách minh bạch, đúng luật, thì không một nhà thầu Trung Quốc nào có thể thắng thầu trong bất cứ dự án Bauxite nào”. Ngày 3/4/2009 ối thoại online), Thiếu Tướng Công An Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến Lược & Khoa Học Bộ Công An, phân tách về địa thế của Tây Nguyên như sau: “Trung Quốc vào Tây Nguyên là họ đã có điều kiện khống chế đối với cả ba nước Việt Nam, Lào và Cam Bốt. Hiện nay Trung Quốc đã thuê một vùng đất rộng lớn ở tỉnh Munbunkiri, sát biên giới tỉnh Dak Nông với thời gian 99 năm, và họ cũng đã làm chủ các dự án kinh tế lớn ở tỉnh A-tô-pơ, tỉnh cực Nam của Lào, giáp với Việt Nam và Cam Bốt (tại ngã ba Đông Dương). Đây là hậu họa khôn lường đối với an ninh quốc gia”.
Khu kinh tế Vũng Áng tỉnh Hà Tĩnh.
Sau khu vực bô-xít Tây Nguyên, đến khu vực chiến lược Hà Tĩnh dưới tên gọi “khu kinh tế Vũng Áng” tỉnh Hà Tĩnh.  Vũng Áng khu kinh tế trong khu đô thị Vũng Áng, khu kinh tế Bắc Quảng Bình - Nam Hà Tĩnh. Thành lập từ tháng 4/2006, với diện tích 227 cây số vuông sát chân dãy Hoành Sơn, gồm 9 thuộc huyện Kỳ Anh. Toàn bộ khu kinh tế Vũng Áng bao bọc hai bên quốc lộ 1, chiếm hai phần ba chiều dài quốc lộ 1 đoạn từ Đèo Ngang đến ranh huyện Cẩm Xuyên. Tổng số công nhân lên đến 30.400 người mà trong số đó theo bà Nguyễn Thị Hải Vân, Cục Trưởng Cục Việc Làm/Bộ Lao Động & Thương Binh Xã Hội, thì số công nhân Trung Cộng tại đây là 10.000 người.
Điều mà dư luận từ người dân đến các tổ chức xã hội dân sự  quan tâm hơn hết, là vấn đề an ninh. Khu kinh tế Vũng Áng, là một trong những vị trí chiến lược về mặt  quân sự, vì lãnh thổ Việt Nam với dạng hình cong chữ S theo chiều bắc nam khoảng 1.500 cây số tính theo đường chim bay, hai đầu phình ra và eo thắt ở giữa. Bề ngang lãnh thổ theo chiều Đông Tây: Nơi rộng nhất của Miền Bắc khoảng 600 cây số, từ A-pa-chài đến Móng Cái. Miền Nam rộng nhất khoảng 370 cây số,  từ Hàm Tân đến Hà Tiên. Nơi eo thắt ở Miền Trung là Đồng Hới, từ bờ biển vào đến biên giới Việt-Lào chỉ có 37 cây số. Đã eo thắt, lại là vùng núi non hiểm trở, nên người dân chỉ sinh sống trên dãi đất hẹp dọc theo bờ biển.
Tại đây còn có hải cảng Sơn Dương phía nam Vũng Áng, vị trí này cùng vĩ tuyến 18 với cảng Tam Á phần cuối đảo Hải Nam, nơi có hạm đội nguyên tử của Trung Cộng. Vị trí cảng Sơn Dương cũng nằm ngay phía bắc đèo Ngang nơi có quốc lộ 1A với đường đèo và hầm qua núi. Độ sâu cảng Sơn Dương trên 16m, và sau khi xây đoạn đê dài 3.000m từ Mũi Ròn đến Hòn Sơn Dương để chắn gió, thì hải cảng này có giá trị về quân sự lẫn kinh tế. Vì vậy, cảng Sơn Dương là vị trí chiến lược trên đất liền lẫn đường hàng hải ra vào vịnh Bắc Việt, kiểm soát đường biển và đường bộ từ Miền Nam và Miền Trung tiếp tế cho miền Bắc Việt Nam.
Bô-xít Tây Nguyên và khu kinh tế Vũng Áng là hai vị trí chiến lược quân sự trên dãi đất quê hương mà lãnh đạo Việt Cộng đã chánh thức giao cho Trung Cộng dưới dạng hợp đồng kinh doanh, và họ đang khai thác từng phần. Bây giờ lại thêm một vị trí chiến lược quân sự nữa mà lãnh đạo Việt Cộng cũng chánh thức giao cho Trung Cộng từ tháng 10/2013, để hình thành “khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế Lăng Cô”.
Các Anh thử nhìn lên bản đồ Đà Nẳng, sẽ thấy Vịnh Đà Nẳng giống như hai cái càng cua chưa khép lại. Mõm phía nam là Tiên Sa, nơi có căn cứ của Hải Quân Nhân Dân Việt Nam, mõm phía bắc là một nhánh của dãy Trường Sơn trên đèo Hải Vân nhô ra Mũi Cửa Khẽm, nếu nhìn tiếp ra khơi là Hòn Sơn Chà. Dưới nét nhìn quân sự, rõ ràng và chắc chăn là từ Khu Lăng Cô do Trung Cộng quản trị, sẽ kiểm soát các tàu chiến của Hai Quân Việt Nam ra vào Vịnh Đà Nẳng. Thậm chí, Trung Cộng có thể sử dụng máy móc tối tân theo dõi  hầu hết hoạt động của căn cứ quan trọng này. “Khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế Lăng Cô” cùng vĩ tuyến 16 với quần đảo Hoàng Sa ngoài khơi Đà Nẳng, nơi mà Trung Cộng vừa hoàn thành một phi trường dài 2.000m trên đảo Phú Lâm. Cũng trên đảo này, đã có những cơ sở hành chánh, quân đội, tiếp liệu, bến cảng, kho tàng, ..v..v… Nhìn chung, quần đảo Hoàng sa vừa là căn cứ quân sự, https://2.bp.blogspot.com/-HRb4_kzILNI/VGLFnxIm_rI/AAAAAAAAj1M/LHpdWxFOjqY/s320/image004.jpgvừa là cơ sở hành chánh và kinh tế.
Theo hợp đồng giữa tỉnh Thừa Thiên/Huế với công ty Thế Diệu của Trung Cộng ký hồi tháng 10/2013, công ty này chiếm một diện tích rộng đến 200 mẫu tây trong thời hạn 50 năm. Dự án của công ty Thế Diệu sẽ xây dựng trong "Khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế Lăng Cô”, gồm: (1) Khu nghỉ mát với 450 phòng theo tiêu chuẩn 5 sao. (2) Trung Tâm Hội Nghị Quốc Tế với 2.000 chỗ ngồi. (3) Khu nhà nghỉ dưỡng cao năm tầng với 220 gian nhà cao cấp. (4)  Xây dựng 350 căn biệt thự, khu dịch vụ, nhà hàng, bãi tắm, ..v..v... Tổng số vốn đầu tư khoảng 250 triệu mỹ kim. Dự án này thực hiện trong ba giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2023. Trong đó, riêng giai đoạn 1 kéo dài đến cuối năm 2017, vì phải xây dựng các khu biệt thự và khách sạn tiêu chuẩn 5 sao.
Theo Đại Tá Thái Thanh Hùng, Chủ Ttịch Hội Cựu Chiến Binh Đà Nẵng, nguyên Chỉ Huy Phó Bộ Chỉ Huy Quân Sự tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, kế tiếp là Chỉ Huy Phó bộ chỉ huy quân sự Đà Nẵng, đã xác nhận với báo chí ngày 10/11/2014: “Nắm vị trí đó là nắm cả vùng trời, vùng núi, vùng biển khu vực phòng thủ Đà Nẵng”. Vẫn theo ông Hùng: “Đây là vị trí chiến lược trọng yếu của toàn bộ vùng rừng núi và đèo Hải Vân, là khu vực phòng thủ của Đà Nẵng... Nếu để cho người ngoại quốc -chưa nói là Trung Cộng- vào xây dựng  ngay vị trí trọng yếu đó, sẽ không bảo đảm được khu vực phòng thủ cho cả nước nói chung, đặc biệt là phòng thủ Đà Nẵng…"
Ngày 17/11/2014, Trung Tướng Lê Chiêm, Tư Lệnh Quân Khu 5 khẳng định: “Đèo Hải Vân là khu vực mà chánh phủ qui định là trọng điểm quân sự cấp 1. Đất tại khu vực này muốn  làm bất cứ việc gì phải báo cáo và được sự đồng ý của Bộ Quốc Phòng để xin ý kiến  Thủ Tướng. Thừa Thiên - Huế tự động cho doanh nghiệp nước ngoài vào xây dựng khu nghỉ dưỡng là “dứt khoát không được”.
Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Đại Sứ Việt Nam tại Trung Cộng, đã phản ứng mạnh mẽ về nguy cơ mất nước: “Những chỗ tốt đẹp có vị trí chiến lược lại cứ bán cứ cho Trung Quốc làm dự án trong khi mình có thể làm được, như thế là các anh ấy không suy nghĩ và chỉ thấy có tiền thôi. Tôi cho là chỉ thấy có tiền, nhiều tỉnh cũng thế thôi, nghĩa là chỉ thấy có tiền mà không thấy cái nguy hiểm cho đất nước
Ông Nguyễn Thương, Phó Giám đốc Sở Nội Vụ Đà Nẵng nhận định: “Bè cá ngoài đảo Sơn Trà và khu du lịch trên núi Hải Vân là một tập đoàn, lại chiếm vị trí yết hầu cùa Đà Nẳng, cho nên . Mọi người đều là nhiều doanh nghiệp Trung Cộng ngoài  làm kinh tế, còn có những động cơ khác nữa, vì không tự nhiên mà họ đi mua móng chân trâu, móng chân bò. Đặc biệt là họ tìm những khu vực trọng vấn đế không đơn giản chỉ hoạt động kinh tế, mà thực chất là họ muốn nắm mọi hoạt động của ta. Không tự nhiên mà họ đi nuôi cá ngay trong khu vực cảng Cam Ranh và Đà Nẵng”.
Nhiều viên chức và dư luận người dân địa phương, cũng biểu lộ quan tâm và cho rằng: "Đây là chuyện chủ quyền đất nước. Phải khẳng định đây là một đội quân thứ 5 của Trung Cộng…. Vậy mà tỉnh Thừa Thiên/Huế lại để cho chúng vào đầu tư tại đây, coi thường an ninh quốc gia. Trong xây dựng đất nước và bảo vệ đất nước đều quan trọng, nhưng quan trọng hơn vẫn là bảo vệ đất nước. Nếu không cảnh giác trước bọn bành trướng Trung Cộng nham hiểm, luôn luôn có ý tưởng rình mò xâm chiếm đất nước Việt Nam bằng bất cứ cách nào miễn là họ thực hiện được. Người dân đặt nghi vấn, có phải tại chính phủ trung ương yếu kém nên xảy ra tình trạng cát cứ địa phương đang lộng hành, hay vì các quan chức chính quyền, cơ quan ban nghành các cấp tham nhũng có hệ thống, làm ngơ bao che cho tham quan địa phương thao túng buôn bán đất đai tổ tiên miễn là có nhiều tiền là được. Đà Nẳng đã “kiến nghịNgười ta chờ xem ở trên giải quyết ra sao kiến nghị của Đà Nẵng về sự kiện này”.
Tiến Sĩ Nguyễn Quang A, nguyên Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Phát Triển IDS cho rằng: “Dù Thủ tướng chịu trách nhiệm vì đã phê duyệt qui hoạch, thì nay cũng là lúc phải thu hồi ngay lập tức giấy chứng nhận đầu tư cấp cho doanh nghiệp Trung Quốc, trao quyền cho họ thực hiện dự án nghỉ dưỡng nằm ở vị trí chiến lược, có thể khống chế vịnh Đà Nẵng và chia cắt đất nước. Chắc chắn phải như vậy nếu ông ấy đã ký thì phải có trách nhiệm, về việc không nhìn ra thì có thể có nhiều lý do, một lý do là do sơ xuất vì sơ xuất là chuyện con người. Nếu mà là sơ xuất thì có thể bỏ qua mà chỉ có thể đánh giá là năng lực hơi kém. Còn nếu không phải là sơ xuất mà biết mà vẫn làm như thế thì trách nhiệm càng nặng hơn.”
Từ đầu tháng 11/2014, Đà Nẵng đã kiến nghị Thủ Tướng rút giấy phép đầu tư mà Thừa Thiên-Huế cấp cho công ty Thế Diệu của Trung Quốc từ năm 2013. Hai lý do Đà Nẵng đưa ra, là vị trí chiến lược ảnh hưởng an ninh quốc phòng, và dự án nằm trên vùng tranh chấp địa giới giữa hai địa phương.
Ngày 14/11/2014, ông Nguyễn Văn Cao, Chủ Tịch tỉnh Thừa Thiên-Huế khẳng định với VnExpress rằng: “Thừa Thiên-Huế làm đúng qui định của Nhà nước, vì nằm trong qui hoạch chung về xây dựng khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô thuộc tỉnh Thừa Thiên/Huế, đã được Thủ Tướng phê duyệt tại quyết định số 1771 ngày 5/12/2008”.
Cựu Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân huyện đảo Hoàng Sa Đặng Công Ngữ nói: "Đây là chuyện chủ quyền, bởi Hải Vân là vị trí quốc phòng của quốc gia, không chỉ những người làm trong lãnh vực quân sự mà những người dân bình thường đều nhìn nhận được. Tàu quân sự các nước khi đến Việt Nam lại chọn Đà Nẵng không phải là điều ngẫu nhiên. Muốn quản lý vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam bằng công nghệ đất liền thì chỉ cần đặt trên núi Hải Vân”.
Hẳn là Các Anh vẫn nhớ ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Diễn Đàn Đối Thoại trong khách sạn Sangri-La (Singapore) năm 2013. Trong phiên họp ngày 31/5/2013, ông Dũng được đọc diễn văn khai mạc, ông nói đến chủ đềXây dựng lòng tin chiến lược vì hòa bình, hợp tác, thịnh vượng của châu Á – Thái Bình Dương…”, tôi muốn nhấn mạnh ở điểm là ông ta nói đến lòng tin chiến lược với quốc tế, nhưng với trách nhiệm chiến lược của ông Thủ Tướng đối với an ninh quốc phòng Việt Nam trước sự kiện: Thứ nhất.  Giao cho Trung Cộng “khai thác bô-xít Tây Nguyên” trên mái nhà của tổ quốc, giáp với Cam Bốt và gần biên giới Lào, với hằng chục ngàn công nhân của họ tại đây. Thứ hai. Giao cho Trung Cộng xây dựng “khu kinh tế Vũng Áng” với hơn chục ngàn công nhân của họ. Vũng Áng là nơi eo thắt trên dãi đất quê hương như đang chia cắt hai miền Nam Bắc Việt Nam, và cùng vĩ tuyến với đảo Hải Nam của họ. Cũng hơn chục ngàn công nhân của họ. Thứ ba. Giao cho Trung Cộng xây dựng và khai thác “khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế Lăng Cô”, từ vị trí này họ có thể kiểm soát mọi sinh hoạt trong vịnh Đà Nẳng, bao gồm các loại chiến hạm của Hải Quân Nhân Dân Việt Nam ra vào cửa vịnh. Hãy nhớ, đây là vị trí chiến lược trên đất liền và  trên Biển Đông, vì cùng vĩ tuyến 16 với quần đảo Hoàng Sa do Trung Cộng chiếm giữ.
Chẳng lẽ ông Thủ Tướng mà không biết những vị trí đó quan trọng như thế nào trong trách nhiệm phòng thủ quốc gia? Nếu không biết, điều này nghe không ổn chút nào, vì cho dẫu kiến thức của ông Thủ Tướng không có được một quan niệm chiến lược về phòng thủ quốc gia, thì qua hằng trăm nhà trí thức cũng như nhiều viên chức từng trình kiến nghị, xin ngưng lại các dự án nói trên với những dẫn chứng về sự nguy hại đến an ninh quốc gia, thì nhất thiết ông Thủ Tướng phải biết chớ. Biết mà vẫn giao những vị trí hiểm yếu đó cho Trung Cộng đưa công nhân của họ tràn ngập các công trường xây dựng và khai thác, trong khi an ninh địa phương không hề biết họ làm gì bên trong những vùng cấm địa đó! Tại sao?  Phải chăng, ông Thủ Tướng cùng các lãnh đạo có thẩm quyền liên quan, chỉ tính toán đến quyền lợi riêng tư, vì những dự án ở đó từ nhiều trăm triệu đến hằng tỷ mỹ kim, nên khoản “hoa hồng” không phải nhỏ? Hoặc bị Trung Cộng ép phải thực hiện theo từng bước mà thỏa ước Thành Đô năm 1990 do  ông Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh đã ký? Hoặc cả hai?
Những thế hệ hiện nay và mai sau -trong đó có Các Anh và gia đình Các Anh- sẽ bị xiềng xích của Trung Cộng khi Việt Nam trở thành một quận của tỉnh Quảng Đông, đó là trách nhiệm của Các Anh và thế hệ hiện nay, đừng mong gì từ nhóm lãnh đạo Việt Cộng!  Các Anh hãy nhớ, lãnh đạo Việt Cộng “thà mất nước chớ không để mất đảng”.  Ngày 29/4/2011, bản tin của đài RFA online có nhắc lại lời tuyên bố của ông Lê Duẫn lúc đương thời: “Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc..” Ngày 30/8/1990, Bộ Chính Trị họp bàn về việc gặp lãnh đạo Trung Cộng trong hội nghị sắp họp tại Thành Đô, Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh phát biểu: “Chúng ta cần hợp tác với Trung Cộng để bảo vệ Chủ Nghĩa Xã Hội và chống đế quốc”.
Thứ hai. Hội nghị thượng đỉnh ASEAN.
Ngày 9/8/2014, bản tin Tân Hoa Xã của Trung Cộng cho biết, ông Vương Nghị -Ngoại Trưởng của Trung Cộng- đã có cuộc gặp với các Ngoại Trưởng trong khối ASEAN bên lề hội nghị đang diễn ra tại thủ đô Nay Pyi Taw, Miến Điện. Trong cuộc gặp riêng Ngoại Trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh, bản tin dẫn lời của ông Vương Nghị, rằng: “Việt Nam và Trung Quốc là láng giềng thân thiết, đang phải đối mặt với nhiều thách thức và vấn đề phức tạp ở trong và ngoài nước, trong giai đoạn cải cách và phát triển quan trọng... Hai phía cần coi trọng lợi ích chung và nỗ lực giải quyết các vấn đề liên quan thông qua đối thoại song phương.... Trung Quốc sẽ áp dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ chủ quyền quốc gia cũng như các quyền và lợi ích trên biển".
Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu: “Tình hình Biển Đông vẫn tiếp tục phức tạp, trong đó có việc bồi đắp quy mô lớn, làm thay đổi căn bản cấu trúc của nhiều đảo đá, bãi ngầm (không dám nói đích danh Trung Cộng. PB Hoa)…. Hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, là lợi ích chung của các nước trong và ngoài khu vực… Các bên liên quan cần nghiêm túc tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982. Giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực”.
Tổng thống Philippines Benigno Aquino khẳng định: “Philippines tiếp tục tìm kiếm một giải pháp hòa bình và hợp pháp. Chúng tôi đang theo đuổi việc xin quốc tế làm trọng tài, thúc đẩy việc thực hiện đầy đủ và hiệu quả bản Tuyên Bố về ứng xử tại Biển Đông DOC, và thúc đẩy việc đúc kết luận bộ Quy tắc ứng xử COC trong thời gian sớm nhất”. Ngay trước mặt Thủ Ttướng Trung Cộng Lý Khắc Cường, Tổng thống Philippines thách thức: “Trung Quốc hãy có hành động cụ thể tại Biển Đông sao cho tương ứng với những tuyên bố hòa dịu mà Bắc Kinh đưa ra…”.
Thủ Tướng Nhật Bản Shinzo Abe phát biểu: “Nhật Bản mong đợi các nước tranh chấp tại Biển Đông biết tự kiềm chế, tránh những hành động gây nguy hại cho hòa bình và ổn định ở trong vùng Biển Đông. Ông Abe nhắc lại lập trường ba điểm của Tokyo trong vấn đề giải quyết tranh chấp chủ quyền: (1) Đòi hỏi chủ quyền trên cơ sở luật pháp quốc tế. (2) Không sử dụng vũ lực hoặc biện pháp cưỡng ép trong để áp đặt yêu sách của mình. (3) Tìm cách giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình”.
Tổng Thống Mỹ Barack Obama: “Các bên tranh chấp Brunei, Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Đài Loan, và Việt Nam, phải làm giảm sự căng thẳng, tự kiềm chế một cách tối đa và giải quyết tranh chấp dựa trên luật pháp quốc tế.
Về phía Trung  Cộng, dĩ nhiên không hài lòng trước những lời tuyên bố của lãnh đạo Hoa Kỳ và Nhật Bản. Thủ Tướng Trung Cộng Lý Khắc Cường khẳng định rằng: ”Trung Quốc sẵn sàng trở thành đối tác đối thoại đầu tiên ký với ASEAN một hiệp ước hữu nghị và hợp tác... Bắc Kinh cũng sẵn sàng để ký thêm các văn kiện mang tính chất pháp lý với nhiều quốc gia trong khu vực trên vấn đề hữu nghị và láng giềng tốt”. Cùng lúc, Thủ Tướng Lý Khắc Cường đã khẳng định rằng: “Bắc Kinh kiên quyết bảo vệ quyền lợi của mình. Tranh chấp Biển Đông phải được giải quyết trực tiếp giữa các nước có liên can, mà không phải đa phương hay trọng tài quốc tế.
Kết luận.
Các Anh hãy đọc lại hai ý trong lời phát biểu Thủ Tướng Trung Cộng Lý Khắc Cường, là: “Trung Quốc sẵn sàng trở thành đối tác đối thoại đầu tiên ký với ASEAN một hiệp ước hữu nghị và hợp tác..” và Bắc Kinh kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của mình...”
Đọc lại xong, Các Anh có nhận ra điều gì bên trong câu nói của ông ta không? Tôi thì thấy thế này. Ông ta nói sẳn sàng là quốc gia đầu tiên trong đối thoại với ASEAN và ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác, tôi nghĩ là ông ta nói thật theo quan điểm của họ. Vì Các Anh chưa quên là tháng 5/2009, Trung Cộng đã tự ý đưa ra “đường lưỡi bò 9 đoạn” trên Biển Đông để giành chủ quyền khoảng 80% diện tích biển này, bất chấp thế giới có chấp nhận hay không. Trên thực tế, 80% đó bao gồm vùng đặt quyền kinh tế của một số quốc gia trong khu vực, nhất là Việt Nam. Đầu năm 2010, Trung Cộng lên tiếng với thế giới và đặc biệt là Hoa Kỳ, Biển Đông thuộc lợi ích cốt lõi của họ, và họ kiên quyết bảo vệ quyền lợi của họ. Bây giờ Thủ Tướng Trung Cộng vẫn tuyên bố Bắc Kinh kiên quyết bảo vệ quyền lợi của mình trên Biển Đông. Được hiểu là họ hành động để bảo vệ quyền lợi của họ, thì hành động đó đã xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, Phi Luật Tân, và các quốc gia liên quan rồi. Vậy, nếu khối ASEAN tin vào tuyên bố của Thủ Tướng Trung Cộng mà ký thỏa ước theo ý nghĩa đó, thì ASEAN trúng kế họ.
Các Anh hãy nhớ: “Cộng sản không thể nào sửa chửa, mà cần phải đào thải nó”. Tổng Thống Nga Boris Yeltsin đã nói như vậy.
Các Anh đừng quên: Trên thế giới, chưa bao giờ có sự kiện người dân từ các nước Dân Chủ Tự Do chạy sang các nước cộng sản độc tài xin tị nạn chính trị, chỉ có người dân từ các nước cộng sản độc tài ào ạt chạy sang các nước Dân Chủ Tự Do xin tị nạn chính trị. Riêng tại Việt Nam: Thứ nhất. Trong vòng 300 ngày từ sau Hiệp Định Đình Chiến 20/7/1954 có hiệu lực, đã có 868.672 người từ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chạy vào nước Việt Nam Cộng Hòa dân chủ tự do tị nạn. Trong các năm 1954-1956, có thêm 102.861 người trốn khỏi phần đất cộng sản vào phần đất tự do chúng tôi tị nạn. Cộng chung là 971.533 người. Đó là cuộc bỏ phiếu bằng chân lần 1 “bầu chọn Dân Chủ Tự Do”. Thứ hai. Trong vòng 20 năm kể từ ngày 30/4/1975, đã có 839.200 người vượt biên vượt biển đến tị nạn chính trị tại 91 quốc gia tự do, và Liên Hiệp Quốc ước lượng khoảng 400.000 đến 500.000 người đã chết mất xác trên biển và trong rừng, trên đường chạy trốn cộng sản! Lại cuộc bỏ phiếu bằng chân lần 2 “bầu Tự Do”. chọn Dân Chủ.
Và Các Anh cũng đừng quên rằng: “Tự do, không phải là điều đáng sợ, mà là nền tảng cho sự thịnh vượng của đất nước. Không có dân chủ, không thể có sự trỗi dậy và phát triển bền vững. Và chính chúng ta phải tranh đấu, vì Dân Chủ Tự Do không phải là quà tặng.
Texas, tháng 11 năm 2014

Phạm Bá Hoa

TÔI BÊNH ĐIẾU CẦY

Lời dẩn của tác giả Từ ngày tôi viết bài "Tôi khen điếu Cầy" tôi bị bọn bưng bô Cộng Sản đánh tơi bời vì chúng nghĩ tôi đã tranh phần ăn của chúng. Nhưng không hiểu tai sao sau khi bài thứ hai của tôi là "Tôi khen Điếu Cầy" được post lên thì chúng lại im phăng phắc?
Tôi xin post lại và có thêm một đoạn ở cuối bài.  LDS
TÔI BÊNH ĐIẾU CẦY
Lê Duy San
Cứ mỗi lần có một người phản tỉnh hay bất đồng chính kiến từ trong nước vượt thoát được ra ngoại quốc, dù bằng cách nào, người Việt hải ngoại tỵ nạn cộng sản cũng chia làm hai phe: phe hoan hô, phe chống đối. Điều này làm cho ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam rất mừng vì đây chính là điều mong muốn của chúng. Hầu hết các bài viết của cả hai phe  điều viết theo cảm tính hoặc theo thành kiến đã có sẵn trong đầu. Blogger Điếu Cầy Nguyễn Văn Hải cũng không thoát khỏi cuộc chiến này. Vừa bước chân đến Phi Trường Los Angless, vừa mới được đoàn người Việt tỵ nạn Cộng Sản đón tiếp như một vị anh hung, anh đã được nghe, hai bên chống nhau kịch liệt. Người đả kích anh cũng nhiều, nhưng kẻ bênh anh cũng lắm.
Anh Điếu Cầy là ai?
Anh sang Mỹ với mục đích gì?
Tại sao anh lại không nhận Cờ Vàng? Taị sao anh không muốn đứng chung với người Việt tỵ nạn Cộng Sản để cùng nhau chống lại bọn Cộng Sản độc tài, dã man Hà Nội?
1/ Điếu Cầy là ai ?
Điếu Cầy là bút hiệu của anh Nguyễn Văn Hải. Anh là bộ đội phục viên, sanh năm 1952. Anh viết các bài báo của mình qua một blog cá nhân của anh nên anh được gọi là Blogger Điếu cày. Anh là một trong những thành viên sáng lập “Câu lạc bộ Nhà báo Tự do” vào tháng 9 năm 2007. Năm 2008, anh tham gia vào các cuộc biểu tình của người Việt Nam trong nước chống lại Thế vận hội Mùa hè 2008 được tổ chức ở Bắc Kinh vì Trung Cộng xâm lấn lãnh hảiViệt Nam. Anh đã bị chính phủ Việt Nam truy tố tội trốn thuế và tội “phổ biến thông tin cùng các tài liệu chống nhà nước”.
Ngày 20 tháng 4 năm 2008, anh Nguyễn Văn Hải bị bắt tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 10 tháng 9 năm 2008, anh bị tòa án truy tố tội “trốn thuế” và bị xử phạt 30 tháng tù giam. Đáng lẽ anh được phóng thích vào ngày 20 tháng 10 năm 2010. Nhưng vào ngày đó thì bản án của anh bị gia hạn “để điều tra thêm”. Tháng 4 năm 2012, anh bị tòa án xét xử thêm về tội “tuyên truyền chống nhà nước theo điều 88 Bộ Luật Hình sự cùng với các blogger Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải. Trong phiên toà này, Nguyễn Văn Hải đã không nhận là mình có tội. Anh còn bị buộc tội là đã cùng Phan Thanh Hải tham dự một cuộc huấn luyện do đảng Việt Tân ở hải ngoại tài trợ.
Anh Điếu Cầy đã nhận được nhiều giải thưởng như giải thưởng Nhân Quyền do Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam trao tặng vào năm 2008 sau khi ông vào tù, giải Hellman/Hammett do Tổ Chức “Theo Dõi Nhân Quyền” trao tặng vào năm 2009, giải Tự Do Báo Chí do Uỷ ban Bảo vệ Nhà báo trao tặng và giải “One Humnanity” do Văn bút Canada trao giải vào năm 2013. Tháng 4 năm 2012, tổ chức Những Người Bảo Vệ Quyền Công Dân (Civil Rights Defenders) đã tặng ông Hải danh hiệu “Người bảo vệ quyền Công dân”.
Ngày 6.3.2012, cựu dân biểu Hạ viện Hoa Kỳ Cao Quang Ánh đã tổ chức một cuộc vận động ngoài hành lang cho Nguyễn Văn Hải, linh mục Nguyễn Văn Lý, bác sĩ Nguyễn Đan Quế, cùng nhiều tù nhân chính trị Việt Nam khác và kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ của tổng thống Barack Obama cũng như Quốc hội Hoa Kỳ phải lên tiếng bênh vực họ mạnh mẽ hơn. Ngày 17.4.2012 một phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã kêu gọi chính phủ Cộng Sản Việt Nam thả ông Hải cùng các blogger khác vì họ “đã không làm gì khác hơn là thực thi quyền tự do ngôn luận của họ mà cả thế giới đã  công nhận”.
Tháng 5 năm 2012 tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã phát biểu là “chúng ta không thể quên những nhà báo như blogger Điếu Cày, người bị bắt năm 2008 trong vụ đàn áp lớn lao việc làm báo của công dân ở Việt Nam”
Tháng 9 năm 2012, trong phiên tòa chỉ kéo dài 1 ngày xử 3 nhà bất đồng chính kiến Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tầnvà Phan Thanh Hải. Anh Nguyễn Văn Hải đã bị tuyên án nặng nề nhất là 12 năm tù giam vì anh không nhận tội. Các công tố viên nói rằng 3 người này đã “xuyên tạc sự thật về Nhà Nước và Đảng, tạo ra sự hiểu lầm trong dân chúng, và ủng hộ các âm mưu nhằm lật đổ chính quyền”.
Vào ngày 21 tháng 10 năm 2014, anh Nguyễn Văn Hải bất ngờ được chính quyền Cộng Sản Việt Nam tuyên bố ngưng thi hành án và trả tự do cho anh nhưng đưa anh ra sân bay Nội Bài đi sang Hoa Kỳ.
2/ Điếu Cầy sang Mỹ với mục đích gì?
Nói rằng anh Điếu Cầy bị tống xuất sang Hoa Kỳ là không đúng. Việt Cộng có quyền tống xuất anh đi bất cứ nơi nào ở trong nước nhưng chúng không có quyền tống xuất anh sang bất cứ một nước nào nếu không có sự đồng ý của nước đó cho anh nhập cảnh. Thứ đến, phải có sự đồng ý của người bị trục xuất tức của anh. Hoa Kỳ là nước tôn trong quyền tự do cá nhân nhất thế giới, Hoa Kỳ không bao gìơ chấp nhận cho Điếu Cầy nhập cảnh nếu anh không đồng ý. Điều này đài VOA cũng cho biết tại một cuộc họp báo, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, bà Marie Harf nói: “Chúng tôi hoan nghênh quyết định của giới hữu trách Việt Nam, trả tự do cho tù nhân lương tâm này. Ông đã quyết định lên đường sang Hoa Kỳ sau khi được phóng thích khỏi nhà tù, và sẽ tới Hoa Kỳ vào ngày hôm nay, thứ Ba 21 tháng 10. Chính ông đã quyết định sang Hoa Kỳ”.
Vậy anh sang Mỹ với mục đích gì? Theo anh Điếu Cầy thì anh sang Hoa Kỳ với 2 mục đích sau:
* Để kết nối truyền thông trong và ngoài nước để đẩy mạnh làn thông tin trao đổi giữa hai bên.
* Để kiện chính quyền Hà Nội ra tòa quốc tế vì đã tống giam trái phép anh và các thành viên của Câu lạc bộ Nhà báo tự do (VOA 27/10/2014).
Có lẽ anh tin rằng, đối với anh, mục đích “Để kết nối truyền thông trong và ngoài nước để đẩy mạnh làn thông tin trao đổi giữa hai bên” không khó. Bởi vì, ở trong nước dưới sự kìm kẹp của ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam, anh còn kết nối được thì sang tới Hoa Kỳ, việc làm ấy, đối với anh không khó. Có khó chăng là những người Việt tỵ nạn Cộng Sản ở hải ngoại có tin anh hay không, chắc anh đã thấy.
Đối với những người còn ở trong nước, khi anh còn ở trong nước, anh kết hợp được họ dễ dàng. Nay anh ra được ngoại quốc, liệu họ có còn tin anh nữa không? Chắc chắn sẽ có những người đặt câu hỏi: “Những người như Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải, tội còn nhẹ hơn anh, lại biết ăn năn, nhận tội, tại sao không được thả, không được đi Mỹ? Còn anh, tội nặng hơn, lại ngoan cố, nhất định không nhận tội, lại được trả tự do sớm và lại còn được sang Hoa Kỳ?
Muốn thuyết phục được người Việt hải ngoại cũng như người trong nước, trước hết, anh phải kiện chính quyền Hà Nội ra trước tòa quốc tế vì đã tống giam trái phép anh và các thành viên của Câu lạc bộ Nhà báo tự do và anh phải thắng vụ kiện này. Liệu anh có thắng được không?
Trong phạm vi bài này, chúng ta chỉ xét riêng trường hợp của anh.
Muốn kiện nguỵ quyền Cộng Sản Việt Nam, anh Điếu Cầy phải có tố quyền. Muốn có tố quyền, anh phải có quyền lợi. Quyền lợi của anh là thể xác anh đã bị giam giữ, khiến anh bị thiệt hại về vật chất (tài chánh) vì không làm ăn gì được. Về tinh thần, anh cũng bị mất vì phải ở trong tù. Điều này đã rõ ràng, anh không cần chứng minh và nguỵ quyền Cộng Sản Viết Nam cũng không  thể chối cãi. Bản án tuyên phạt anh 12 năm tù và anh đã ở tù được 6 năm 6 tháng (20/4/2008 – 20/10/2014).
Tuy nhiên, muốn thắng, anh phải chứng minh là anh không có tội. Việc anh nhất định không nhận tội “Tuyên truyền chống phá nhà nước và ủng hộ  các âm mưu nhằm lật đổ chính quyền” trước toà án không đủ nếu nguỵ quyền Cộng Sản Việt Nam chứng minh được là anh có tội. Bởi vậy, mỗi cử chỉ, mỗi hành động, mỗi lời nói của anh, anh đều phải cân nhắc kỹ càng.
Ở trong nước, bọn nguỵ quyền Cộng Sản Việt Nam chỉ cần suy đoán, cũng có thể kết tội anh. Nhưng ở trước toà án quốc tế, chúng không thể làm thế được. Ít nhất chúng cũng phải có một bằng chứng nào đó rõ ràng, mới có thể suy đoán được. Chúng không thể nói Điếu Cầy chống Trung Cộng là chống chúng, là âm mưu nhằm lật đổ chúng vì chúng tuân phục Trung Cộng, Trung Cộng là ông cố nội của chúng. Chúng không thể nói Điếu Cầy đã đòi hỏi tự do, nhân quyền là tuyên truyền chống phá chúng vì chúng đã ký công nhận bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền khi chúng gia nhập Liên Hiệp Quốc . Nhưng nếu chúng trưng được bằng cớ rõ ràng Điếu Cầy cầm Cờ Vàng như những hình ảnh anh Đặng Chí Hùng khoác Cờ Vàng trên vai, cầm Cờ Vàng trên tay và tuyên bố rõ ràng anh “sẽ cùng đồng bảo hải ngoại tranh đấu để lật đổ chế độ Cộng Sản Việt Nam thì Điếu Cầy thua là cái chắc. Đó là lý do tại sao anh không cầm Cờ Vàng, anh không tuyên bố sẽ cũng đồng bào hải ngoại tranh đấu để lật đổ chế độ Cộng Sản Việt Nam như anh Đặng Chí Hùng khi vưà bước chân tới phi trường Toranto, Canada.
Nếu anh Điếu Cầy thắng được vụ kiện này thì chắc chắn phong trào đòi hỏi tự do, dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam sẽ dâng cao và Việt Cộng sẽ phải nhượng bộ Mỹ trong vấn đề nhân quyền và tình hình Việt Nam sẽ thay đổi.
Chính vì vậy mà chúng ta không nên kết luận vội là Điếu Cầy có chống Cộng hay không, có âm mưu nhằm lật đổ chế độ Cộng Sản Việt Nam hay không hay chỉ là một tên chống Cộng cò mồi được Mỹ và Việt Cộng toa rập với nhau để chuẩn bị cho một tình thế mới cho VIệt Nam.
Lê Duy San
Powered By Blogger