Friday, September 19, 2014

Mau bật lên lửa thiêng đốt giặc

Anh bật lên đóm lửa
Chị bật lên đóm lửa
Em bật lên đóm lửa
Triệu người Việt Nam cùng bật lên đóm lửa
Lửa sẽ thiêu rụi bọn đồ tể hung tàng

Lửa sẽ đốt cháy bọn Hán gian
Lửa táp khét lẹt bon hung tàn phản quốc

Tất cả người Việt Nam hãy nhìn vào sự thật
Hội Nghị Thành Đô (*) là mồ chôn cất nước Nam
Nó còn độc địa, nguy hiểm hơn cả Công Hàm bán nước (**)


Muộn lắm rồi!
Hỡi triệu người bôn ba xuôi ngược
Thêm năm năm, hỏi được gì hơn?
2020 là ngày đánh dấu tủi hờn
Đảng cộng sản Việt Nam đã van lơn kẻ thù xin gia nhập.

Nguyễn Văn Linh, Đỗ 10, Phạm Văn Đồng, Nông Đức Mạnh, Lê Đức Anh...
Bộ chính trị, trung ương đảng là ai?
Xin thưa: Họ là những tên hạ cấp
Đem Việt Nam sáp nhập vô Tàu!

Họ là trâu, là ngựa, là sài lang, chó sói... những con thú hoang thì nào biết niềm đau
Lại càng không có được sự tự hào dân tộc!.

Họ là bọn Thái thú nô Tàu mất gốc
Biến toàn dân thành nô bộc thiên triều
Trước hiểm họa mất nước, mất Tổ Quốc thân yêu
Tất cả hãy hy sinh làm ngọn lửa thiêu quân thù trước khi quá muộn

Lịch sử 4.000 năm, đành mất đi oan uổng?
Bao máu xương, để lũ cuộn đành sao?
Chúng ta là con cháu Rồng Tiên, vốn dĩ tự hào
Triệu triệu người hãy là ngọn lửa để nung cao tinh thần ái quốc
2020, chỉ còn năm năm, hãy ngẩng đầu lên mà đối mặt với sự thật.


Nguyên Thạch


______________________________________

Ghi chú: 

(*) Mật nghị bán nước 1990
(**) Công hàm bán nước 1958

Trận chiến quyết định

Một trận chiến dữ dội sẽ xảy ra ở Việt Nam. Nó sẽ quyết định số phận tương lai của một dân tộc có quá nhiều lầm than nầy. Một tương lai khi mọi người dân Việt sẽ được sống trong tự do, no ấm, với đầy đủ nhân phẩm, nhân quyền, hay một tương lai khi Việt Nam đã trở thành một vùng tự trị của Trung Quốc và mọi người dân phải cúi đầu vâng phục, sống trong sự bất công và tủi nhục như những người dân Tây Tạng hay Tân Cương bây giờ.

Trận chiến ấy có lẽ đã bắt đầu và dường như không cân sức giữa một bên là những người dân không súng đạn và một nhà nước đầy quyền lực với xe tăng, đại bác, công an, quân đội và đầy đủ công cụ đàn áp trong tay. Sự chênh lệch nầy càng thêm to lớn vì người dân không phải chỉ chống lại giặc ngoại xâm mà phải đương đầu với một chính quyền buôn dân, bán nước. Tuy nhiên ý dân là ý trời. Sức mạnh của dân nằm ở ý nguyện toàn dân, và nhất định sự chiến thắng sẽ thuộc về dân tộc.

Để chiến thắng trận chiến quyết định nầy, không gì bằng là người trong cuộc làm đúng theo những lời dạy của tiền nhân. Và một trong những câu châm ngôn rất chính xác, đó là: “Biết Địch Biết Ta, Trăm Trận Trăm Thắng”.

Vậy thì ai là địch, ai là ta trong trận chiến nầy?

Ta đây là dân tộc Việt Nam với cùng chung một tổ quốc và truyền thống, văn hóa do cha ông để lại. Ta cùng đấu tranh cho một mục đích là giữ gìn và phát triển Việt Nam để mọi người dân Việt được sống trong an vui, hạnh phúc và đầy đủ nhân phẩm, nhân quyền.

Địch rõ ràng là Trung Cộng, kẻ luôn tìm mọi cơ hội thôn tính nước ta. Họ đã tấn công nước ta rất nhiều lần bằng quân sự, nhưng có khi chỉ dùng thủ đoạn lũng đoạn chính trị, bao vây hay làm chúng ta hoàn toàn lệ thuộc về kinh tế. Họ quả thật là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên Trung Cộng chỉ có thể lũng đoạn chính trị và bao vây kinh tế nước ta một cách hiệu quả khi mà trong nước Việt Nam có những người lãnh đạo đất nước sẵn sàng làm tay sai cho giặc mà quên đi nguồn gốc của mình. Họ là những người vì quyền lợi của cá nhân mà quên đi tổ quốc. Với một hoàn cảnh như vậy thì người dân có thể nói địch ở đây vừa là Trung Cộng vừa là đảng Cộng Sản và nhà nước Việt Nam đã và đang có những hành vi bán nước và hợp tác với giặc. Và muốn tránh khỏi sự lệ thuộc hay xâm lấn của Trung Cộng thì trước hết chúng ta phải thoát ra khỏi chế độ do đảng Cộng Sản áp đặt ở Việt Nam.

Biết địch, biết ta là biết được cái mạnh và cái yếu của ta và địch và có những phương cách làm cho ta mỗi ngày một mạnh thêm lên và làm cho địch mỗi ngày một suy yếu đi để công cuộc đấu tranh có thể đi đến thắng lợi cuối cùng.

Vậy thì cái mạnh và cái yếu của ta là ở những điểm gì?

Cái mạnh căn bản đầu tiên của người dân Việt Nam là một khát vọng được sống tự do với đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một con người trong một nước Việt Nam thật sự có độc lập, tự do và dân chủ. Đó không phải là một ước mơ viển vông nhưng là một hiện thực mà nhiều dân tộc trên thế giới đang được thừa hưởng. Đấu tranh cho cái khát vọng nầy là đấu tranh cho một chính nghĩa đầy đúng đắn. Và sức mạnh của chính nghĩa là một sức mạnh vô địch khó có thế lực nào có thể đè bẹp. Bằng chứng là tất cả sự đàn áp của bạo quyền dù cho hung hăng tàn bạo đến đâu cũng không làm nao lòng những người dân đứng lên đòi quyền sống, quyền được biết, quyền được nói và quyền tham gia bảo vệ đất nước của mình. Vì chính nghĩa mà luật sư Lê Thị Công Nhân không ngần ngại một thân một mình đương đầu với một bộ máy công an sừng sộ. Vì chính nghĩa mà luật sư Nguyễn Văn Đài, luật sư Cù Huy Hà Vũ, thương gia Trần Huỳnh Duy Thức, nhà báo Huỳnh Ngọc Tuấn, nhạc sĩ Việt Khang, nhà báo Điếu Cày Nguyễn Văn Hải và nhiều người khác đã bỏ lại vợ con mà bước vô nhà tù Cộng Sản một cách hiên ngang không sợ hãi. Vì chính nghĩa mà Nguyễn Phương Uyên lấy máu mình mà viết nên câu khẩu hiệu nổi tiếng: “Tàu Khựa cút khỏi biển Đông” và “Đảng Cộng Sản đi chết đi” để bị bắt vô tù khi tuổi còn rất trẻ. Vì chính nghĩa mà biết bao nhà đấu tranh dân chủ vẫn kiên cường tranh đấu và quyết theo đuổi lý tưởng của mình sau khi đã bị đọa đày trong nhà tù Cộng Sản như Đổ Thị Minh Hạnh, bác sĩ Phạm Hồng Sơn, luật sư Lê Công Định, thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung, nhà giáo Vi Đức Hồi, Phạm Thanh Nghiên, Lê Thị Kim Thu, luật sư Nguyễn Bắc Truyển, nhà báo Trương Minh Đức, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, chị Bùi Thị Minh Hằng và nhiều người khác nữa.

Cái mạnh thứ hai là truyền thống đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm của cha ông ta đã và đang truyền lại cho con cháu. Cái truyền thống đó sẽ làm cho dân Việt hội tụ đoàn kết với nhau khi đã nhận rõ kẻ thù và những ai đan tâm bán nước.

Cái mạnh thứ ba là các nhà đấu tranh cho dân chủ đã biết vận dụng những phương tiện truyền thông hiện đại như internet, email, tin nhắn, twitter, facebook để liên lạc, tìm hiểu và vận dụng những bài học đã xảy ra trên thế giới cho công cuộc đấu tranh cho dân tộc mình. Thông tin và kiến thức sẽ đánh tan sự bao bít của các thế lực độc tài toàn trị và làm cho phong trào đấu tranh của nhân dân ngày càng lan rộng và có hiệu quả.

Cái mạnh thứ tư là sự đồng tình ủng hộ của nhân dân các nước trên thế giới và các tổ chức quốc tế cho công cuộc đấu tranh đòi nhân quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam. Một thí dụ điển hình là sự lên tiếng nhiều lần về tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam của nhiều tổ chức tầm cỡ trên thế giới như tổ chức Bảo Vệ Nhân Quyền Thế Giới, tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới, Hội Ân Xá Quốc Tế, và nhiều tổ chức khác. Gần đây nhất là sự lên tiếng của tổ chức Bảo Vệ Nhân Quyền Thế Giới về tình trạng hành hung, tra tấn, gây thương tích, hay làm thiệt hại tính mạng của người dân trong các đồn Công An ngày càng nhiều. Họ đã mạnh mẽ tố cáo với thế giới về tình trạng trên ở Việt Nam sau nhiều ngày tháng điều tra với đầy đủ bằng chứng và đề nghị các nước trên thế giới nên lên tiếng phản đối nhà nước Việt Nam và có những hành động thích đáng như xét lại các chương trình viện trợ hay các hợp tác thương mại có lợi cho Việt Nam. Những việc làm như trên của các tổ chức quốc tế và của các nước văn minh tiến bộ trên thế giới đã và đang đóng góp một cách đáng kể vào tiến trình dân chủ cho Việt Nam.

Cái mạnh thứ năm là sự đồng tình ủng hộ hay nói đúng hơn là tham gia mạnh mẽ của khối người Việt ở hải ngoại cho công cuộc đấu tranh ở quê nhà. Sự kết hợp trong ngoài làm cho kẻ địch không khỏi nao núng trong những vận động tuyên truyền ra thế giới hay trong việc đàn áp những người đấu tranh ở trong nước. Và chính việc nầy càng làm cho phong trào đấu tranh mạnh mẽ lên thêm.

Còn cái yếu của chúng ta là ở những vấn đề gì?

Cái yếu của ta là ở cái thế luôn bị kèm kẹp theo dõi làm cho sự phát triển của phong trào phải đi dần từng bước chậm rải. Các phương tiện truyền thông thì không được tự do và thường xuyên bị phá hoại. Người tham gia đấu tranh thì bị bao vây kinh tế, gây khó khan, bị khủng bố, đánh đập hay bị bắt đi tù vì bất cứ lý do gì. Để vượt qua điểm yếu nầy thì cần có sự liên lạc và nương tựa vào nhau của mọi người dân cùng đứng chung một chiến tuyến và người Việt ở hải ngoại càng làm nhiều hơn nữa để giúp đỡ bảo vệ đồng bào mình đang đấu tranh trong quốc nội. Cần tiếp tục tố cáo với thế giới với những bằng chứng rõ ràng về những hành vi đàn áp và vi phạm nhân quyền trắng trợn của nhà cầm quyền Việt Nam. Và thu nhập cũng như lưu trữ những bằng chứng cũng như tài liệu về từng cá nhân trong hệ thống nhà nước đã có những hành vi khủng bố hay làm hại người dân để có thể truy tố hay xét xử sau này.

Cái yếu của ta là sự thiếu tổ chức vì cái tính cách tự phát một phần, nhưng phần chính là do sự ngăn cấm, bắt bớ hay đe dọa của nhà cầm quyền. Chỉ gần đây các tổ chức dân sự mới bắt đầu ra đời nhưng sự phát triển và hoạt động còn ít ỏi vì cả hai phía còn đang trong tình trạng thăm dò. Phe địch thì luôn đưa mắt dòm ngó còn phe ta thì vẫn dè chừng vì không muốn bị đàn áp khi còn non trẻ. Mặc dầu còn non trẻ nhưng các tổ chức dân sự đã có những chương trình hành động khá ngoạn mục như sự công khai họp mặt hàng tháng, sự lên tiếng chính đáng và kịp thời về những hành động vi phạm nhân quyền hay luật pháp quốc tế mà nhà cầm quyền Việt Nam đã ký kết, hay sự xâm lấn của Trung Cộng đến biển đảo của Việt Nam và sự nhu nhược của nhà nước Việt Nam. Gần đây phong trào “ Tôi muốn biết” do mạng lưới bloggers ở Việt Nam chủ xướng đã được tham gia đông đảo và đang làm cho đảng Cộng Sản Việt Nam lo sợ. Một khi phong trào lan rộng và mọi người dân đều quan tâm tới vận mệnh đất nước thì đảng Cộng Sản không thể nào che đậy hay lặng yên về những hành động bán nước của mình. Tuy nhiên để phát triển các tổ chức dân sự và bảo vệ mọi người tham gia thì cần có sự kết nghĩa, bảo trợ của những tổ chức dân sự trên thế giới hay của những tổ chức của người Việt ở hải ngoại. Ví dụ như mỗi tổ chức dân sự trong nước có thể được sự kết nghĩa của một tổ chức cộng đồng ở hải ngoại. Ngoài những tổ chức dân sự, các tôn giáo cũng cần có thêm những tiếng nói và hành động quyết liệt đến những vấn đề liên hệ đến sự tồn vong của dân tộc, của những bất công, hay tệ nạn xã hội, như những sự lên tiếng của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, của giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, hay của giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy trong thời gian vừa qua.

Cái yếu của ta là chưa phá được toàn bộ bức tường sợ hãi mà địch đã bao vây dân tộc trong mấy chục năm qua. Bức tường ấy đã có nhiều lỗ hổng to lớn nhờ công lao của những dũng sĩ đi đầu như bác sĩ Nguyễn Đan Quế, nhà báo Nguyễn Khắc Toàn, bác sĩ Phạm Hồng Sơn, luật sư Lê Thị Công Nhân, luật sư Nguyễn Văn Đài, Huỳnh Thục Vy, Phạm Thanh Nghiên, và đặc biệt là Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha, Đổ Thị Minh Hạnh, và Bùi Thị Minh Hằng. Nhưng nó vẫn còn là một cản trở to lớn cho phong trào đấu tranh của dân tộc Việt. Chừng nào bức tường đó ngả sụp hoàn toàn như sự sụp đổ của bức tường Bá Linh thì khi ấy cuộc cách mạng sẽ nhanh chóng thành công. Bức tường sợ hãi sẽ không còn đứng vững với thời gian khi mà càng ngày càng có nhiều người can đảm lên tiếng. Sự lên tiếng của người dân có thể bắt nguồn từ nhiều lý do, những lý do đơn giản và tự nhiên như sự bất công trong công ăn việc làm, sự vô trách nhiệm trong các vấn đề y tế, giáo dục của những người có chức có quyền, sự bất lực của chính quyền trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm hay an ninh xã hội, cho đến những vấn đề lớn lao hơn như sự im hơi lặng tiếng của các lãnh đạo nhà nước Việt Nam trước việc Trung Quốc lấn áp xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, tệ nạn tham nhũng trầm trọng ở Việt Nam, chính sách dường như bán nước của đảng Cộng Sản Việt Nam trong lá thư của thủ tướng Phạm Văn Đồng nằm 1958 hay các hiệp ước biên giới với Trung Quốc và cái gọi là “Hội Nghị Thành Đô” nằm 1990, những sự vi phạm nhân quyền trầm trọng, sự đàn áp tôn giáo, cướp đất của dân oan và nhiều vấn đề khác nữa.

Vậy thì cái mạnh và cái yếu của địch là gì?

Cái mạnh của địch là ở công an, quân đội, và mọi công cụ đàn áp trong tay. Tuy nhiên những sự đàn áp của họ đối với những nhà đấu tranh cho dân chủ đã và đang bị thế giới lên án. Không những vậy họ còn bị những vị sĩ quan cao cấp trong quân đội hay công an trước đây lên tiếng phản đối. Một điều cần lưu ý ở đây là mặc dù quân đội là do đảng Cộng Sản nắm giữ, nhưng những người lính lại đến từ nhân dân. Cho nên khi thời cơ chín mùi cho một cuộc cách mạng thì hiện tượng quân đội quay súng lại với Đảng là chuyện có thể xảy ra. Nhất là trong bối cảnh đất nước đang bị ngoại xâm mà chính Đảng Cộng Sản là kẻ có trách nhiệm trong việc làm mất đất mất biển và tạo điều kiện cho giặc xâm lấn nước nhà.

Cái mạnh của địch là ở sự độc quyền cai trị đất nước dựa trên điều 4 hiến pháp do chính họ đặt ra. Họ nắm tất cả các ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp và tất cả các phương tiện truyền thông báo chí cho nên người dân nói chung là không có tiếng nói và một quyền hạn gì ở đất nước nầy. Tuy nhiên xu hướng của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới ngày nay là được sống trong một thể chế dân chủ, đa nguyên đa đảng, và người dân có quyền tham gia và lựa chọn những người lãnh đạo cho đất nước mình. Cho nên cái mạnh của một chế độ độc tài toàn trị bỗng nhiên trở nên cái yếu của một chế độ lạc hậu và phản lại trào lưu tiến hóa của nhân loại và sẽ bị loại bỏ không sớm thì chầy.

Cái mạnh của địch là một đảng duy nhất với ba triệu đảng viên và các tổ chức ngoại vi nắm giữ mọi chức vụ quan trọng của chính quyền. Họ từng tự hào là đánh bại các cường quốc như Pháp và Mỹ để dành độc lập cho quốc gia. Sự thật đảng Cộng Sản chỉ làm theo lệnh của quan thầy là Liên Xô, Trung Cộng để bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản, và bây giờ đã lộ nguyên hình là một đảng của những nhóm lợi ích cấu kết với nhau và những cá nhân bất tài nhưng tham quyền cố vị. Cũng vì quyền lợi cá nhân mà đảng Cộng Sản bây giờ đã chia năm xẻ bảy tranh giành nhau đến tận trung ương như trường hợp đồng chí X năm vừa rồi, hay thượng tướng Phạm Quý Ngọ mấy tháng trước. Vì hoàn cảnh lịch sử của đất nước, cũng có những cá nhân lầm lẫn đi theo đảng Cộng Sản vì tưởng họ thật tình yêu nước, bây giờ hiểu ra, những vị ấy đã mạnh dạn lên tiếng kêu gọi thay đổi. Những thỉnh nguyện thư, những lời kêu gọi, những tuyên bố của các đảng viên lâu năm, của các tướng tá đã có những tác động đáng kể cho cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam cho một thể chế dân chủ, cho nhân quyền và cho một nền độc lập thật sự cho nước nhà. Tác động đầu tiên là soi sáng thêm con đường từ bỏ chủ nghĩa Cộng Sản, chủ nghĩa xã hội mà nhiều người trong Đảng chưa nhận ra hay còn đắn đo suy nghĩ. Tác động khác là làm lung lay thêm cái chân đã một phần mục nát do chính các đảng viên tham ô gây ra. Nó đã tạo thêm mâu thuẫn và sự nghi ngờ lẫn nhau trong nội bộ Đảng, và làm mất lòng tin của các đảng viên lên cấp lãnh đạo của họ. Tác động lớn nhất có lẽ là sự cổ võ to lớn cho phong trào đấu tranh đang ngày lớn mạnh của nhân dân. Nó đã xác minh cho sự đấu tranh đúng đắn và chính nghĩa của phong trào và chắc chắn sẽ làm cho nhiều người yêu nước mạnh dạn tham gia.

Cái mạnh của địch là có sự hậu thuẫn của đảng Cộng Sản Trung Quốc đàng sau. Tuy nhiên đó cũng là cái yếu của đảng Cộng Sản và nhà nước mà họ đang nắm quyền vì một sự lệ thuộc ngoại bang, Trung Cộng, một cách quá rõ ràng cũng đồng nghĩa với sự phản bội lại tổ quốc của mình. Họ kết nghĩa anh em với kẻ thù truyền kiếp của dân tộc. Họ đã nhượng đất nhượng biển và sẵn sàng đàn áp nhân dân để làm vui lòng kẻ thù. Họ đã ký kết những hiệp định bán nước mà chỉ được tiết lộ bởi kẻ thù. Họ đã không còn lừa bịp được ai vì ngay chính đảng viên lâu năm của họ cũng đã mất niềm tin. Không sớm thì muộn mọi người dân Việt sẽ coi đảng Cộng Sản là kẻ thù nguy hiểm nhất của dân tộc. Họ tin rằng Trung Cộng sẽ giúp họ giữ vững ngai vàng để kéo dài sự thống trị ở Việt Nam như những thái thú ngày xưa, nhưng họ đã quyên rằng Trung Quốc cũng đang đối đầu với nhiều vấn nạn trầm kha như mầm mống nội loạn, sự ô nhiểm môi trường, bất ổn xã hội, đạo đức xuống dốc, tham nhũng tràn lan, dân tình bất mãn, hàng hóa bị nhiều người tẩy chay vì thiếu chất lượng hay gây tai hại cho sức khỏe. Nội bộ đảng Cộng Sản Trung Quốc thì không còn đóng cửa dạy nhau, mà cũng công khai thanh trừng, đấu đá nhau quyết liệt. Họ không tin nhau, thì làm sao họ có thể tin vào những viên chức nhà nước hay đảng Cộng Sản Việt Nam. Chẳng qua chỉ là hai bên lợi dụng lẫn nhau để giữ lấy chiếc ghế quyền lực của mình. Cũng vì vậy mà nhiều người không lấy làm lạ khi một người gọi là phe thân Trung Quốc như ông Nguyễn Bá Thanh lại đi Mỹ chửa bịnh thay vì đi Trung Quốc. Có lẽ ông không tin vào tấm lòng lương y như từ mẫu của các bác sĩ Trung Quốc hay không tin lắm ở khả năng y khoa sao chép của các bịnh viện ở nước nầy, hay không tin vào cả cái chế độ mà luôn dùng thủ đoạn để thống trị người dân và cạnh tranh với quốc tế.

Cái yếu của đảng Cộng Sản là một sự bất tài, thất đức của các tầng lớp lãnh đạo và một hệ thống độc quyền thiếu sự cạnh tranh và kiểm soát. Nó đã dẫn đưa đất nước đến một tình trạng suy yếu về mọi mặt từ kinh tế, giáo dục, y tế, chính trị, quốc phòng. Nó đã sản sinh ra một thể chế tham nhũng nhất nhì thế giới làm cho đất nước kiệt quệ và dân tình điêu linh.

Cái yếu của đảng Cộng Sản là sự cô đơn vô cùng tận khi cả thế giới đang từ bỏ chế độ Cộng Sản thì họ lại kiên quyết đi theo con đường Cộng Sản. Các nước Đông Âu khi từ bỏ chế độ Cộng Sản thì đời sống của người dân các nước đó không ngừng được nâng cao về mọi mặt. Lấy thí dụ của Ba Lan, năm 1990 mức thu nhập trung bình của mỗi người dân chỉ vào khoảng 1.300 Dollars, nhưng đến năm 2013 họ đã có mức thu nhập tăng lên gấp 10 lần là vào khoảng 13.000 Dollars. Không những như vậy, đất nước Ba Lan còn mở rộng quan hệ với quốc tế và họ đã trở thành thành viên của khối Nato, không còn lo sợ bị Nga Sô hay bất kỳ nước nào xâm chiếm. Trong khi Việt Nam, dưới sự cai trị của đảng Cộng Sản thì mức thu nhập đầu người cũng không qua con số 2000 Dollars cho năm 2013, và luôn ở trong nguy cơ sẽ bị thôn tính bởi anh láng giềng tham lam, Trung Cộng. Người dân Việt Nam đã và đang thấy rõ con đường mà mình muốn đi, họ sẽ không để cho một thiểu số tham lam và thiếu hiểu biết dẫn dắt mình đi mãi trên con đường u tối.

Qua những phân tích trên đây, mặc dù không thể đầy đủ trong một bài báo ngắn gọn, chúng ta cũng có thể thấy rằng trận chiến quyết định của dân tộc đã bắt đầu với những khó khăn và thuận lợi mang tính đặc thù của Việt Nam. Khó khăn thì nhiều, nhưng thuận lợi thì cũng không ít. Điều quan trọng là nhân dân Việt Nam đang có chính nghĩa. Chính nghĩa là yếu tố quyết định cho sự thắng bại cho trận chiến nầy. Chính nghĩa sẽ dẫn đến sự cân bằng lực lượng và hơn thế nữa sẽ làm cho địch ngày thêm phân chia, rối loạn và làm cho ta mỗi lúc một đoàn kết, kiên cường thêm. Và như thế, dân tộc ta sẽ có một chiến công ngoạn mục để sau này còn có hai chữ Việt Nam.


Vạch trần trò bịp bợm của Tầu cộng về vụ giàn HD-981 phát hiện mỏ khí lớn trên Biển Đông

Tân Hoa xã đăng tải ảnh Hải Dương-981 khoan thử khí đốt ở mỏ mới được phát hiện Lingshui 17-2


Trung Quốc phát hiện mỏ khí siêu nước sâu?

Ngày 15/9/2014 vừa qua, đúng 2 tháng sau ngày rút giàn HD-981 khỏi vùng biển Đà Nẵng trên thềm lục địa và khu đặc quyền kinh tế EZZ của Việt Nam, Tầu cộng tuyên bố HD-981 phát hiện mỏ khí lớn ở lô Lingshui 17-2 cách đảo Hải Nam 150 kms về phía Nam, ở độ sâu trên 1500m...


Báo chí Việt cộng đồng thanh nhao nhao lên “phân tích”, “mổ xẻ” về sự kiện này như là chúc mừng vậy, nào là “Trung Quốc mở cánh cửa ra toàn bộ Biển Đông”, nào là “minh chứng lớn trước những ai còn nghi ngờ về khả năng tìm khí đốt tự nhiên ở những vùng nước sâu của CNOOC”, nào là “phát hiện mỏ khí mới này sẽ mở ra cánh cửa khai thác trên toàn bộ Biển Đông”...

Hay: “Khai thác dầu khí nước sâu giúp Trung Quốc vừa chứng tỏ nước này kiểm soát được các vùng nước này tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, trong khi cho phép phát hiện những nguồn năng lượng mà Trung Quốc đang rất khát.” v.v... và v.v...

Theo tôi, “phát hiện mỏ khí nước siêu sâu” đó chỉ là một sự bịp bợm vội vàng của Tàu cộng mà thôi. Và Việt cộng thì cũng không vô tình tung hứng cho sự bịp bợm đó của quan thầy...

Tại sao nói “phát hiện” đó là sự bịp bợm của Tàu cộng?

Tôi chỉ xin nêu ra mấy lý do kỹ thuật để chỉ ra đó là sự bịp bợm không hơn không kém. Còn lý do chính trị hay kinh tế để Tàu cộng phải có “phát hiện mở khí lớn siêu sâu” đó chắc là vô số kể...

Thứ nhất, về thời gian, ngày 15/7 giàn HD-981 còn ở trên biển Đà Nẵng Việt Nam và bắt đầu chậm chạp di dời khỏi biển Việt Nam, lúc đầu nó di dời về phía Đông Bắc từ vị trí cắm trên biển Việt Nam, tức phía Đông Nam đảo Hải Nam và ở đó ít ngày đến 1-2 tuần, sau mới dời đến vị trí lô Linh Thủy 17-2... như là nó đi vô định rồi cắm tạm ở đó, khoảng một tháng rưỡi nay thôi. Như vậy, nếu triển khai khoan ở Linh Thủy, giàn HD-981 chỉ có khoảng tròm trèm 1 tháng để khoan một mũi khoan có “phát hiện khí lớn” (sâu khoảng 3,500-4,000m vào đáy biển) ở mực nước sâu 1,500m! Đó là việc không thể về thời gian: một tháng! Không một ai có hiểu biết sơ sơ về kỹ thuật khoan biển tin điều đó.

Để so sánh, một mũi khoan 3,000-4,000m ở mực nước sâu 50m như ở biển Đà Nẵng thì giàn HD-981 cũng phải cần ít nhất 3 tháng! Chính vì thế, ngay cả khi xâm phạm biển Việt Nam suốt 2,5 tháng vừa qua (từ 1/5 đến 15/7/2014) giới quan sát (cả Việt Nam và thế giới) đều cho rằng Tàu cộng đã chả khoan “thăm dò” được mũi nào cả, ngoài việc thăm dò phản ứng của Việt Nam và thế giới...

Ở mực nước biển sâu đến trên 1,500m như ở Linh Thủy (sâu gấp 30 lần biển Đà Nẵng!), Biển Đông lại bắt đầu vào mùa biển động và giông bão, thì việc định vị giàn để khoan cũng mất hàng tuần và khó giữ được định vị đó để khoan, dù HD-981 chắc chắn định vị bằng vệ tinh và tự động thế hệ 3 cao nhất-DP3 (Dynamic Positioning 3), thì vẫn chắc chắn không ai có thể khoan 3,000-4,000m sâu đến thủng tầng đá móng để có khí trong... khoảng 1 tháng!

Như vậy, thời gian quá ngắn để HD-981 có thể thực hiện được mũi khoan có kết quả trong điều kiện nước sâu và biển động như thế... Mũi khoan có kết quả là mũi khoan người ta phải liên tục đứng lại để kiểm tra tín hiệu về nồng độ dầu/khí qua mẫu khoan, và phải hết sức cẩn thận chuẩn bị thiết bị chống phun trào cháy nổ (BOP – Blow Out Prevention) trên giàn và trên miệng giếng (tức ở mực nước sâu 1,500m!) vì lý do an toàn cháy nổ... (nếu không muốn bị nổ tung như giàn khoan của BP trên biển Mexico mấy năm trước...).

Lý do thứ hai là từ bức ảnh giả mạo dòng khí phun lên và bị đốt trên giàn HD-981 mà Tàu cộng đã trưng ra... Cái gì là giả trong bức tranh đó? Đó chính là dòng khí phun ra và bị đốt cháy trên cần đuốc (flare) của giàn. Có hai yếu tố không bình thường ở đây.

Yếu tố thứ nhất, chất lượng khí bị đốt cháy trên đuốc của HD-981, quá tốt và quá đồng đều, làm ngọn lửa cháy quá sáng trắng trong và đồng đều. Chúng ta đều biết khí thiên nhiên có chất lượng không đồng đều, từ khí hydrocarbon nhẹ (khí khô) đến khí nặng (cấu tạo chuỗi CH dài, khí ướt) nên khi cháy nó tạo ngọn lửa không đồng đều, từ sáng trắng đến vàng, đỏ tối và khói đen... Điều đó chứng tỏ khí được đốt trên đầu flare của HD-981 trong ảnh mà Tàu cộng công bố khắp thế giới đó không phải khí tự nhiên từ dưới mỏ lên! Đó là khí sạch và nhẹ dạng LNG hay CNG được xả áp ra, còn tốt hơn khí LPG mà chúng ta đốt trong bếp mỗi nhà dân ở Việt Nam hiện nay (vốn là khí ướt).

Yếu tố thứ hai trong ảnh trên “không ổn” là ngọn lửa khí đang bị đốt vẫn nằm ngang – horizontal hoàn toàn! Điều đó nói lên rằng áp lực khí phun ra từ miệng đuốc cực cao, nên dù bị cháy nó vẫn di chuyển ngang tạo lên ngọn lửa nằm ngang có độ dài tương đương độ dài của cần đuốc tức khoảng 35-40m! Điều này chứng tỏ dòng khí phun ra phải có áp suất rất cao khoảng vài trăm bars, tức đó chỉ có thể là khí CNG có áp lực khoảng 300 bars (còn khí tự nhiên thường chỉ có áp phun lên khoảng vài chục bars, nên khi ra khỏi cần đuốc nó bị cháy thì bốc ngay lên cao...)

Như vậy, có thể thấy, Tàu cộng đã đốt khí CNG trên đuốc cho “phát hiện mỏ khí tự nhiên siêu lớn siêu sâu” của chúng!

Tại sao Tàu công phải vội vã bịp bợm cả thế giới như thế?

Như trên tôi đã nói, có vô số lý do chính trị để chúng làm thế. Nhưng tại sao phải vội vã làm thế? Chả lẽ không ai biết phải cần bao nhiêu thời gian để khoan một giếng thăm dò có kết quả kiểm định được ở điều kiện biển sâu và thời tiết như thế?

Tại sao biết nếu có khí ở mỏ sâu 1.500m nước thì vẫn phải ít nhất 4-5 năm nữa họ mới khai thác được khí đó, mà họ phải công bố “phát hiện khí” ngay bây giờ, mà không để kiểm tra, tính toán thêm cho kỹ ở mùa biển yên năm sau?

Có thể, là vì chúng phải có lý do để ra biển Đông ngay từ năm nay, từ bây giờ, nên chúng phải có phát hiện ngay. Nếu để vài tháng nữa mới công bố “phát hiện khí” thì không ai tin phát hiện giữa mùa giông bão cả...

Dù sao câu hỏi này tôi xin để ngỏ cho các nhà chính trị, và nó cũng không phải mục tiêu của bài viết, vốn là: 

Theo tôi, không có phát hiện mỏ khí ở Linh Thủy bằng giàn HD-981 gì cả! Tất cả chỉ là trò bịp bợm của Tàu cộng vì các lý do chính trị trên Biển Đông mà thôi!

PS: Tôi rất mong được các chuyên gia dầu khí phản biện ý kiến của tôi!


Đại gia Trung Quốc mơ thiên đường tư bản

mediaNhân dân tệ và đô laReuters – Thụy My
Phụ trang kinh tế của Le Monde hôm nay 17/09/2014 nhấn mạnh « Những người Trung Quốc giàu nhất mơ rời khỏi đất nước ». Theo một cuộc thăm dò của Barclays, phân nửa số nhà giàu Trung Quốc muốn ra nước ngoài định cư trong năm năm tới. Giáo dục, y tế, an ninh : đó là những lý do khiến họ muốn rời bỏ Hoa lục.
Thông tín viên Le Monde tại Thượng Hải nhận định, sự thành công đối với những người Trung Quốc giàu có nhất chính là việc có thể xách vali ra khỏi tổ quốc. Theo thăm dò công bố hôm 15/9 của Barclays, có đến 47% người giàu nhất Trung Quốc muốn ra nước ngoài định cư trong 5 năm tới. Để so sánh, chỉ có 20% người Anh, 6% người Mỹ và 5% người Ấn giàu có nhất nghĩ đến việc ra đi.
Ngân hàng Anh đã đặt câu hỏi với 2.000 người ở 23 nước có tài khoản trên 1,5 triệu đô la, và trong số đó có 200 người sở hữu trên 15 triệu đô la. Hướng đến ưa chuộng nhất đối với nhà giàu Trung Quốc là Hồng Kông, với 30% muốn sang đặc khu này sinh sống. Được trao trả cho Trung Quốc năm 1997, cựu thuộc địa Anh được hưởng các quy chế đặc biệt ; chất lượng giáo dục và y tế cũng như Nhà nước pháp quyền tại đây khiến hàng tỉ người dân Hoa lục phải mơ ước.
Trong thứ tự tiếp theo là các quốc gia dễ dàng cho nhập tịch như Canada, với 23% người giàu Trung Quốc cho biết muốn sang định cư. Tuy vậy Ottawa trong những tháng gần đây đã giảm số hồ sơ xử lý vì bị tràn ngập trước vô số đơn xin của công dân Trung Quốc.
Trong số động cơ để ra nước ngoài sinh sống, giáo dục và cơ hội việc làm cho con cái được đặt lên hàng đầu, chiếm 78%. Tiếp theo là bối cảnh kinh tế và an ninh (73%), chất lượng y tế và dịch vụ công. Le Monde nhận xét, tuy bảng xếp hạng của OCDE về trình độ học môn toán, khoa học và sức đọc của các thiếu niên 15 tuổi đặt Thượng Hải đứng hàng đầu thế giới, nhưng bản thân người dân Trung Quốc lại không tin tưởng vào bảng xếp hạng này. Họ chỉ trích cách dạy từ chương, làm hại cho óc sáng tạo ở Hoa lục.
Trong bối cảnh đó, ai có khả năng đều phải tìm cách kiếm một chỗ cho con cái đi du học ở ngoại quốc. Tập Minh Trạch (Xi Mingze), con gái của đương kim Tổng bí thư Tập Cận Bình cũng đang học ở Havard. Điều này không ngăn trở cha cô kêu gọi củng cố ý thức hệ của đảng cộng sản tại các trường đại học Trung Quốc.
Để có được một chỗ cho con trong các trường đại học ngoại quốc sáng giá, các đại gia Trung Quốc tỏ ra hào phóng. Nhà sáng lập đế chế bất động sản Soho ở Trung Quốc, hai vợ chồng tỉ phú Phan Thạch Ngật (Zhang Xin) và Trương Hân (Pan Shiyi) đã tặng đại học 15 triệu đô la hồi mùa hè này. Tuy một số cư dân mạng chỉ trích, nhưng nhiều người nhìn nhận nếu ở vào vị trí các đại gia này, thì họ cũng sẽ làm y như thế.
Vấn đề an ninh cũng là mối lo hàng đầu của các nhà giàu Trung Quốc. Tuy có được cơ hội làm giàu, nhưng sự thiếu vắng bảo đảm về luật pháp khiến họ không thể ngủ yên, nhất là tại Trung Quốc đặc biệt khó khăn khi muốn làm ăn mà không dính dáng đến tham nhũng.
Tình hình này làm gia tăng hiện tượng « lõa quan », các quan chức đã gởi vợ con ra nước ngoài và bản thân sẵn sàng phóng ra sân bay nếu biết sắp bị « sờ gáy ». Đảng nay đang nhắm đến các « lõa quan » này : trong tháng Bảy, chỉ riêng tỉnh Quảng Đông nhận dạng được 2.190 vị, trong đó có 866 quan chức bị sa thải ngay.
Đối với Andrew Lin, phụ trách châu Á của Access the USA, một tổ chức đề nghị các dự án đầu tư vào Mỹ cho những người muốn định cư, « chính là cuộc tìm kiếm một cuộc sống bảo đảm đã thúc đẩy người Trung Quốc ra đi ». Môi trường xuống cấp, các xì-căng-đan thực phẩm bẩn cũng là những nhân tố khiến họ không còn muốn sinh sống ở Hoa lục. Tuy vậy nhà phân tích Liam Bailey của Knight Frank ở Luân Đôn cho rằng do hiện đang kiếm tiền khá dễ tại Trung Quốc, nên các đại gia vừa tìm kiếm tấm hộ chiếu nước ngoài nhưng vẫn tiếp tục kinh doanh tại Trung Quốc.
Đạt La Lạt Ma đầu thai : Bắc Kinh lo sợ
Cũng về Trung Quốc, thông tín viên của Le Monde tại Bắc Kinh nhận xét : « Bắc Kinh lo ngại về việc đầu thai của Đạt Lai Lạt Ma ». Khi trả lời Welt am Sonntag, bản ra ngày Chủ nhật của tờ báo Đức Die Welt hôm 7/9, ngài đã nói : « Chúng tôi có một Đạt Lai Lạt Ma từ gần năm thế kỷ. Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 ngày nay rất nổi tiếng, như vậy cần kết thúc ở đây. Một Đạt Lai Lạt Ma yếu kém sẽ là một sự thất sủng cho định chế ».
Ngay lập tức, Hoa Xuân Oánh, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã tuyên bố, Trung Quốc giữ quyền quyết định về « đức tin và tôn giáo », kể cả « việc tôn trọng và bảo vệ các nghi thức chuyển tiếp trong Phật giáo Tây Tạng ». Có nghĩa là Đạt Lai Lạt Ma không thể tự mình quyết định người kế nghiệp.
Theo tờ báo, cuộc xung đột này không hề mới mẻ. Một Trung Quốc cộng sản luôn tự cho là người giám sát cát thủ tục tái sinh tại Tây Tạng để kiểm soát. Trong cuốn « Dragon in the land of snow, A history of modern Tibet since 1947 » xuất bản năm 1999, nhà sử học lớn của Tây Tạng Tsering Shakya thuật lại rất cụ thể các mưu mẹo của Bắc Kinh trong việc chỉ định Ban Thiền Lạt Ma khác có lợi cho mình. Nhờ thủ đoạn này, năm 1995 một cậu bé đã được đưa lên ngôi vị này, mà cho đến nay vẫn bị người Tây Tạng coi là giả mạo. Trong khi đó, vị Ban Thiền được chọn lựa trong bí mật ở tu viện Tashilhunpo đã bị bắt cóc.
Phản ứng về bài trả lời trên báo Đức, Chimme Rinzin Choekyapa, thư ký của Đạt Lai Lạt Ma tuyên bố hãy còn quá sớm để nói về sự đầu thai của ngài, vì sức khỏe của Đạt Lai Lạt Ma hiện rất tốt. Rinzin nhắc lại rằng năm 2011 ngài cũng đã loan báo là quan tâm đến việc tái sinh vào khoảng năm 90 tuổi. Thế mà Đạt Lai Lạt Ma hiện vừa tròn 79 tuổi mà thôi.
Trung Quốc thẳng tay với những tiếng nói ôn hòa Duy Ngô Nhĩ
Cũng về Trung Quốc, Le Figaro chú ý đến « Tohti, tiếng nói ôn hòa của người Duy Ngô Nhĩ bị đưa ra tòa ». Nhà trí thức lỗi lạc này bị kết tội ly khai và có nguy cơ bị lãnh án khổ sai chung thân. Bắc Kinh ngày càng cứng rắn hơn trong chính sách đối với các dân tộc thiểu số.
Bị bắt hồi tháng Giêng, Ilham Tohti bị xét xử hôm nay tại Urumqi, thủ phủ Tân Cương. Ông bị kết tội « phản loạn », và dưới mắt Bắc Kinh thì rõ ràng là ông có tội, vấn đề là bản án nặng đến mức nào mà thôi. Theo Le Figaro, tuy Ilham Tohti sẽ thoát án tử, nhưng ông có thể bị kết án từ 10 năm tù giam cho đến chung thân khổ sai.
Luật sư của ông, Li Fangping cho biết : « Ilham không ảo tưởng về phiên tòa. Các tội trạng bị gán cho ông không hề có cơ sở. Ông đã thành lập một trang web để bày tỏ quan điểm về các vấn đề của Tân Cương, đây không hề là một hành động hay yêu sách ly khai ».
Là người sáng lập trang web uighurbiz.net, một trang mạng thông tin bằng tiếng Hoa và tiếng Duy Ngô Nhĩ, Tohti thường xuyên bị giám sát , đặc biệt là những lúc ông đến Tân Cương. Bị mặc nhiên cấm rời Hoa lục, ông đã bị nằm trong tầm ngắm của chính quyền từ nhiều năm qua.
Sau khi ông bị bắt, bộ máy khủng khiếp nhằm nghiền nát tù nhân của chính quyền Trung Quốc bắt đầu khởi động. Bị quản giáo cấm theo chế độ ăn kiêng halal của người Hồi giáo, ông tuyệt thực và được cấp cho vài cái bánh, sau đó không được cho ăn trong vòng 10 ngày. Tohti sụt mất 17 kí lô. Bị hoại thư ở chân vì bị cùm ngày cũng như đêm, ông di chuyển rất khó khăn. Luật sư cho biết : « Chúng tôi đã yêu cầu nhiều lần đòi gỡ cùm sắt, nhưng luôn đụng phải một bức tường. Hôm thứ Hai ông Ilham bị cúm, chúng tôi đã gởi quần áo mùa đông cho quản giáo, nhưng họ không đưa cho ông dù trong nhà tù đang lạnh khủng khiếp ».
Là nhà kinh tế giảng dạy tại trường đại học Bắc Kinh danh tiếng, nhà đấu tranh không mệt mỏi cho quyền của người Duy Ngô Nhĩ, Ilham Tohti là tiếng nói duy nhất từ bên trong Hoa lục. Tuy luôn thận trọng không đòi độc lập cũng như tự trị cho Tân Cương, nhưng ông tố cáo việc đàn áp người Duy Ngô Nhĩ.
Tohti được nhiều trí thức và nhà tranh đấu cho cải cách ủng hộ. Nhưng tiếng nói của ông đã bị rơi vào im lặng bởi các vụ tấn công của những người Duy Ngô Nhĩ cực đoan tại Tân Cương và Trung Quốc trong một năm qua. Thay vì đối thoại với những người ôn hòa, Bắc Kinh đã chọn lựa đàn áp thô bạo Tân Cương. Nicholas Bequelin, phụ trách Human Rights Watch ở Hồng Kông nhận định : « Việc kết tội nổi loạn cho Tohti là dấu hiệu cho thấy Bắc Kinh cứng rắn hơn về vấn đề Duy Ngô Nhĩ. Điều này có nghĩa Trung Quốc đã đốt tất cả các nhịp cầu nối với các tiếng nói ôn hòa trong chính sách người thiểu số ».
Le Figaro kết luận, khi dập tắt phe ôn hòa, Bắc Kinh đã trao tặng chiến thắng cho « phe khủng bố Hồi giáo » mà họ đang phải chiến đấu.
Khi đàn ông Nhật vào bếp
Cũng tại châu Á trên lãnh vực xã hội, phụ trang kinh tế của Le Monde trong bài « Tại Tokyo, nam giới vào bếp » cho biết các cơ sở dạy gia chánh cho đàn ông đã nở rộ trong thời gian gần đây và đều làm ăn khấm khá, chứng tỏ đã có một sự mềm dẻo đối với vị trí của nam và nữ trong xã hội Nhật.
Khai trương từ ngày 1/9, Shoku-G (đọc là shokuji tức bữa ăn trong tiếng Nhật, mở cách buổi dạy gia chánh riêng cho phái nam, nhắm vào những người về hưu muốn phụ vợ và con cháu một tay, hay những nhân viên muốn tự nấu để ăn uống đầy đủ. Trong khi từ trước đến nay, các khóa học gia chánh chỉ dành cho các thiếu nữ sắp lấy chồng. Shoku-G còn đề nghị gentlemen’s cooking cho các ông để biết cách phối hợp giữa các món ăn và rượu.
Một công ty hàng đầu về cooking studio là ABC có 124 chi nhánh nay cũng nhắm vào khách hàng nam từ ngày 1/4, và đã có trên 6.000 người đăng ký học. Các lớp gia chánh còn biến thể thành các gokon, những bữa tiệc tối để tạo điều kiện gặp gỡ giữa năm người nam và năm phụ nữ.
Tuy chi phí khá đắt, nhưng các công thức trên đây rất thành công. Điều này cho thấy đã có một sự linh hoạt giữa quan hệ nam giới và nữ giới trong xã hội Nhật Bản bảo thủ. Thủ tướng Shinzo Abe coi việc đấu tranh cho bình đẳng giới là một phần quan trọng trong chính sách của ông. Ngày đầu tiên trong Đại hội thế giới vì phụ nữ hôm 12/9 ở Tokyo, ông Abe cho biết trong kỳ nghỉ mát, khi vợ ông nấu ăn thì ông rửa chén.
Tàu ngầm : Một cuộc chiến mới
Nhìn ra thế giới, đặc phái viên Le Monde trong phần hai « Cuộc chiến tàu ngầm mới » của bài phóng sự « Một tháng dưới đáy biển », nhà báo nữ đầu tiên hiện diện trong một chiếc tàu ngầm nguyên tử đang làm nhiệm vụ nhận xét, dưới đáy biển sâu, không có bạn hữu cũng không có kẻ thù, nhưng mỗi giây phút đều luôn phải cảnh giác.
Một sĩ quan hải quân của tàu ngầm nguyên tử Perle (Trân Châu) của Pháp nhận định, trong lúc các phương tiện chiến tranh điện tử ngày nay nằm trong tầm tay của nhiều nhân tố khác nhau, tàu ngầm là phương tiện duy nhất để có thể đi đến một nơi nào đó mà không bị phát hiện. Ngày nay, hành tinh chúng ta chằng chịt đầy những vệ tinh và máy bay không người lái, tuy vậy những người lính trong tiềm thủy đĩnh có được đặc quyền ưu tiên là sống trong bí mật tuyệt đối.
Trang nhất báo Pháp : Khó khăn của chính phủ cánh tả
Thời sự trong nước chiếm lĩnh trang nhất các báo Paris hôm nay. Nếu Le Monde cho rằng « Các đề nghị quá đáng của Medef (hiệp hội giới chủ Pháp) gây trở ngại cho chiến lược của Thủ tướng Manuel Valls », thì Le Figaro chạy tựa « Valls : Mức tín nhiệm co rút lại như tấm da lừa ». Tờ báo kinh tế Les Echos cảnh báo « Sau cuộc bỏ phiếu tín nhiệm, ông Valls đối diện với bức tường nợ ». Nhật báo cộng sản L’Humanité cho rằng quan điểm của Thủ tướng Pháp « vừa thiểu số trong Quốc hội, vừa là thiểu số trong cả nước ».
Trên lãnh vực xã hội, nhật báo Libération nói về « Nước Pháp ngoại vi », một cuốn sách của nhà địa lý học Christophe Guilluy, chỉ trích đảng xã hội đã để cho giới bình dân sống ở vùng ngoại ô xa trung tâm đô thị ngày càng xa rời cánh tả để quay sang với phe cực hữu.

Vì sao ĐCS cần thanh kiếm và lá chắn của công an?

Chân Như, phóng viên RFA Phần âm thanh Tải xuống âm thanh
000_Hkg9826196.jpg
Công an trấn áp các ngả đường gần Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội hôm 18/4/20214 nhắm ngăn chặn một cuộc biểu tình chống Trung Quốc.
Vừa qua trong cuộc gặp mặt nhân kỷ niệm ngày truyền thống công an nhân dân, Thủ tướng Việt Nam, ông Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu lực lượng công an nhân dân phải bảo đảm phá tan mọi âm mưu chống đối phá hoại đất nước. Ông nhấn mạnh không thể để tội phạm tràn lan, không thể để băng nhóm tội phạm xuất hiện và hoạt động ngang nhiên. Đây là đề tài cho diễn đàn bạn trẻ kỳ này cùng với sự tham dự của Blogger Mẹ Nấm và Phạm Thanh Nghiên, những người dấn thân đấu tranh để cho nước VN  thật sự có được tự do dân chủ.
Bật đèn xanh cho công an?
Chân Như: Thật ra thì ai nghe qua lời phát biểu của ông Dũng cũng đều biết là ông đang nói đến các nhà dân chủ, những người có quan điểm ngược lại với chính quyền. Theo các bạn thì phải chăng đây là dấu hiệu cho thấy chính quyền cộng sản Việt Nam đang bắt đầu lo sợ các hoạt động đấu tranh dân chủ của người dân?
Blogger Mẹ Nấm: Theo đánh giá cá nhân của tôi thì tôi không nghĩ rằng ông Dũng lo sợ các phong trào hoạt động dân chủ. Các phong trào hoạt động dân chủ đang rất phát triển và tuyên bố của ông Dũng sẽ là cái cớ rất tốt để bắt đầu một đợt trấn áp mới và đang dọn dư luận. Tôi không nghĩ rằng vì sợ mà nói như thế mà đây là động thái cho thấy sẽ có những đợt trấn áp mạnh mẽ đã được bật đèn xanh từ phía người đứng đầu chính phủ Việt Nam.
Phạm Thanh Nghiên: Tôi cũng đồng ý với ý kiến của blogger Mẹ Nấm và cũng xin bày tỏ thêm một chút quan điểm cá nhân.  Hằng năm,thường cứ đến ngày kỷ niệm thành lập một lực lượng vũ trang nhân dân, ví dụ như công an hay quân đội thì các lãnh đạo cộng sản Việt Nam sẽ có những bài phát biểu để biểu dương một trong những thành tích- thành tích trấn áp  những tiếng nói đối kháng đòi dân chủ trong nước.  Cá nhân tôi, tôi thấy không lạ bởi vì  những lời  phát biểu của ông Dũng và những người lãnh đạo cộng sản cấp cao khác, những năm trước họ cũng đã phát biểu tương tự như thế rồi.
Tôi không nghĩ rằng vì sợ mà nói như thế mà đây là động thái cho thấy sẽ có những đợt trấn áp mạnh mẽ đã được bật đèn xanh từ phía người đứng đầu chính phủ Việt Nam.
- Blogger Mẹ Nấm
Chân Như có hỏi đây là sự bắt đầu tỏ ra sợ hãi hay lo lắng thì tôi nghĩ rằng là không phải bây giờ đâu mà từ lâu rồi, đặc biệt là trong một vài năm trở lại đây thì đây chính là sự sợ hãi không phải riêng của ông thủ tướng mà đây chính là sự lo lắng sợ hãi của cả thể chế độc tài, trước làn sóng đòi dân chủ. Đặc biệt, đó chính là yêu cầu cấp bách của xã hội Việt Nam bây giờ.
Blogger Mẹ Nấm: Lúc nãy tôi có nói rằng là sợ, ở đây đang nói về sự sợ hãi của đảng cộng sản. Tôi có thể bổ sung như thế này: nỗi sợ đó nó không phải mới được biểu hiện đây. Cái sợ đó được dùng bằng bạo lực để dẹp đi những tiếng nói bất đồng chính kiến cũng giống như là các xu hướng phản biện.  Ở thởi điểm này nếu nói phát biểu đó là bày tỏ sự sợ hãi thì tôi nghiêng về chuyện bật đèn xanh cho lực lượng công an trấn áp nhiều hơn.
Đọc kỹ tuyên bố của ông Nguyễn Tấn Dũng và trước đó ông Dũng có nói là ông muốn lắng nghe các tiếng nói phản biện. Sau đó khoảng 3-4 ngày, để chào mừng ngày 19 tháng 8, ngày thành lập lực lượng công an nhân dân thì lại phát biểu là không để các băng nhóm phản động thành lập.Như vậy là chính ông Dũng tự mâu thuẫn với bản thân mình bởi vì xu hướng phản biện luôn bị xem là xu hướng phản động ở Việt Nam trong mắt đảng cộng sản. Tự người cộng sản cho thấy họ sẽ không có bất kỳ một xu hướng nào mở ra cho dân chủ. Nếu như những người nào kỳ vọng vào cải cách ở ông Nguyễn Tấn Dũng thì tôi nghĩ rằng đã có câu trả lời chính xác từ phía ông Dũng rằng chúng tôi chưa sẵn sàng cho dân chủ qua hai tuyên bố trái ngược nhau vừa rồi.
Chế độ công an trị
Chân Như: Sau đây mời hai bạn cùng nghe lại lời phát biểu của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu lực lượng công an nhân dân phải bảo đảm cho an ninh chính trị của đất nước.
000_APH2000042911362-400.jpg
Công an Việt Nam. AFP photo
Lực lượng công an trước hết phải bảo đảm cho được an ninh chính trị của đất nước. Cái này các đồng chí phải làm thật tốt, dứt khoát là không để có nhen nhóm, để hình thành những tổ chức chống đối phá hoại, sự bình yên của tổ quốc chúng ta, của nhân dân chúng ta, của đảng, chế độ chúng ta. Tập trung sức chỉ đạo quyết liệt, hiệu quả là bảo đảm trật tự, an toàn xã hội ngày một tốt hơn, vững chắc hơn; Bảo vệ bình yên của xã hội, bình yên của nhân dân

Qua phát biểu vừa rồi thì phải chăng ông Dũng đã mượn cái “mác” bảo vệ đất nước để trao thêm quyền hành cho ngành công an, tạo thêm cho họ phương tiện tiếp tục đàn áp, bắt bớ tùy tiện?
Phạm Thanh Nghiên: Tôi nghĩ rằng một phần sở dĩ họ vẫn thường nói rằng công an chính là công cụ để bảo vệ chế độ, bảo vệ đảng và nhà nước; Tức là bản thân họ cũng thừa nhận như thế chứ không phải là để bảo vệ đất nước hay người dân. Thế thì kể cả có hay không lời phát biểu của ông Dũng thì chúng ta, một lần nữa, cũng đã chứng minh và phải khẳng định là thể chế này là một chế độ công an trị. Ông Dũng hay là tất cả những lãnh đạo cộng sản khác của ông ta, cái thể chế này đều dựa vào lực lượng công an để bảo vệ chế độ. Và thêm động thái vừa rồi của ông Dũng thì một lần nữa khẳng định là công an sẽ ngày một có nhiều quyền hạn hơn. Đó là những quyền hạn vô lối và rất tùy tiện để có thể trấn áp bất cứ một người dân nào mà họ muốn, chứ không riêng những người bất đồng chính kiến và đặc biệt ưu tiên cho việc nhắm vào tiếng nói đòi tự do, dân chủ.
Và như chúng ta đã biết trong thời gian vừa qua, rất nhiều người dân đã bị chết trong đồn công an. Lực lượng công an cũng hành xử, phải nói thẳng là hành xử rất là vô lối vô pháp luật; Đặc biệt là vô nhân đạo, côn đồ và coi thường sinh mạng của người dân. Lời phát biểu của ông Dũng vừa rồi một phần thể hiện bản chất côn đồ của chính quyền cộng sản cũng như là của công an nói riêng.
Blogger Mẹ Nấm: Thật ra chuyện yêu cầu lực lượng công an nhân dân phải đảm bảo cho an ninh chính trị của đất nước nó đặt ra câu hỏi nghiêm túc đó là thế nào là an ninh chính trị của đất nước?  Nó là quy ước chung, đặt lợi ích dân tộc này lên trên hay là an ninh chính trị này là sự an ninh của hệ thống chính trị cụ thể là đảng cộng sản. Thực ra không cần phải giải thích nhiều hay nói nhiều thì người ta cũng đã thấy rằng lý do chung chung là an ninh chính trị đã được ông Dũng đưa ra như là một cái khiêng để bảo vệ cho đảng cộng sản bằng cách trao thêm quyền cho ngành công an. Đặc biệt, một cách trực tiếp ông Dũng đã tuyên bố rằng công an có thêm rất nhiều phương tiện cũng như thêm quyền lực để sẵn sàng bắt bất kỳ người bất đồng chính kiến nào qua tuyên bố vừa rồi.
… kể cả có hay không lời phát biểu của ông Dũng thì chúng ta, một lần nữa, cũng đã chứng minh và phải khẳng định là thể chế này là một chế độ công an trị.
- Phạm Thanh Nghiên
Chân Như: Điểm đáng chú ý bên cạnh lời phát biểu của ông Dũng còn có lời phát biểu của ông Trần Đại Quang khi ông cho rằng Kịp thời phát hiện đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; Luôn luôn xứng đáng là thanh kiếm và lá chắn bảo vệ đảng,bảo vệ chế độ chủ nghĩa và bảo vệ nhân dân”.
Theo bạn thì vì sao vai trò của công an VN quá lớn như vậy có thể nói là lấn sân của cả quân đội VN?
Phạm Thanh Nghiên: Đây là chế độ công an trị  cho nên khi dùng đến từ công an thì nó đã bao gồm hết tất cả và có thể nói rất là bao quát, đúng theo bản chất của chế độ này. Vì thế tôi cũng không cần thiết phải nói nhiều hơn nữa trong câu hỏi của bạn. Và nói về việc lấn lướt một phần quân đội thì tôi nghĩ rằng có thể đúng nhưng cũng có thể chưa hẳn là đúng bởi vì họ đã nói công an là công cụ để bảo vệ chế độ này. Trên thực tế quân đội hay công an cũng đều là để bảo vệ chế độ. Quân đội nhân dân Việt Nam họ luôn luôn nói phải trung thành. Lời tuyên thệ của họ đâu có trung thành với tổ quốc, đất nước, người dân đâu mà là trung thành với đảng cộng sản Việt Nam. Do vậy, dù cho lực lượng quân đội hay công an chăng nữa thì họ không bao giờ đặt quyền lợi của đất nước này lên hàng đầu mà ngay trong lời tuyên thệ của họ cũng thế. Bản chất của họ là một công cụ để bảo vệ cho chế độ này. Thế nên cho dù công an hay quân đội cũng thế, người dân luôn luôn đứng trước nguy cơ do chính công an và quân đội đàn áp.
Blogger Mẹ Nấm: Thật ra tôi nghĩ rằng hệ thống công an liên đới đối với xã hội nhiều hơn là quân đội.  Khẩu hiệu của công an nhân dân “còn đảng còn mình” là câu khẳng định rõ nhất cho thấy quyền lợi của đảng cộng sản đi liền với sự dung túng cho ngành công an. Bằng cách trao quyền như ông Trọng đã nói rằng công an là thanh kiếm và là lá chắn để bảo vệ chế độ, ông nói rất rõ.
Vai trò của quân đội khá mờ nhạt trong các hoạt động chính trị xã hội bởi vì thật sự trên thực tế công an và quân đội có những xung khắc đối với nhau. Bên công an thì bảo vệ an ninh chính trị. Từ đó họ nghĩ ra một số các thế lực thù địch như họ vẫn thường nhận xét; Tạo ra cho công an nhiều quyền hành và có sân rất rộng để bắt tất cả những người bất đồng chính kiến bất cứ khi nào họ muốn, bất chấp những can thiệp quốc tế cũng như những nỗ lực vận động ngoại giao của các đại sứ quán.
Thật sự ở thời điểm này, như chị Nghiên có nói rằng “chế độ này là chế độ công an trị”. Đã đến lúc họ sử dụng bạo lực để giữ vững vị trí độc tôn của đảng cộng sản. Tôi nghĩ đó là lý do duy nhất mà công an hiện tại có rất nhiều quyền hành hơn là quân đội.
000_Hkg9826183-400.jpg
Công an dùng loa yêu cầu mọi người không tụ tập trên một đường phố gần đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội ngày 18 tháng 5 năm 2014. AFP photo
Chân Như: Là những người tranh đấu cho dân chủ, chắc hẳn các bạn cũng đã, đang đối diện với những bắt bớ tù đày trấn áp. Và sắp tới Chân Như nghĩ có lẽ các bạn sẽ phải tiếp tục chịu đựng gian nan hơn. Các bạn chuẩn bị tinh thần như thế nào?
Phạm Thanh Nghiên: Chân Như, Như Quỳnh (Blogger Mẹ Nấm) cũng như quí vị quan tâm đến các hoạt động trong nước thì cũng đã biết rồi: Tôi đã từng trải qua 4 năm tù giam và hiện nay tôi cũng đang bị cái án quản chế 3 năm và mới có hết 2 năm. Tôi luôn luôn bị sách nhiễu, bị khủng bố, bị triệu tập…
Hiện nay,  khi tôi nói chuyện với hai bạn và đang truyền âm đi đến với quí thính giả của đài RFA thì ngoài kia cũng có một nhóm công an canh gác tôi từ ngày hôm qua. Đó là một phần cuộc sống hàng ngày của những người tranh đấu, những chiến sĩ dân chủ ở trong nước. Nói như thế không có nghĩa rằng là tôi đã đi tù một lần và không có lần thứ hai.
Tôi không mong chờ cái ngày đó nhưng tôi luôn luôn chuẩn bị tinh thần cho mình để đón nhận những điều ngoài ý muốn, những điều rủi ro lớn nhất. Và tôi rất là vui vẻ để đón nhận cái điều như thế vì tôi khẳng định rằng là cái giá của tự do và dân chủ do mình là một trong những người tham gia cuộc tiến hành thì việc đầu tiên là mình phải có sự hy sinh mặc dù sự hy sinh đấy rất là nhỏ. Tuy nhiên, để có tự do thì mình phải hy sinh cho sự tự do của mình trước. Và cho dù phía trước có là cái gì chăng nữa thì tôi vẫn kiên định với con đường mà mình đã chọn và sẵn sàng chấp nhận mọi rủi ro cũng như chông gai để đi đến đích cuối cùng. Cái đích cuối cùng đó là sự tự do cho bản thân mình và ngày tự do cho toàn dân tộc Việt Nam.
Blogger Mẹ nấm: Thật sự, tôi nghĩ rằng ở vị trí này, chuyện chuẩn bị tinh thần và đón nhận những bất trắc, rủi ro xảy đến cho mình thì bất kỳ người nào mà dấn thân cũng đều chuẩn bị. Tôi nghĩ, thực tế, đi tù cũng không đáng sợ như mình nghĩ. Không ai thích đi tù nhưng nếu phải trả giá để mà có tự do thì tôi sẵn sàng thôi.
Chân Như: Vâng, một lần nữa xin cảm ơn blogger Mẹ Nấm cũng như Phạm Thanh Nghiên đã bỏ thời gian để đến với chương trình DĐBT trong ngày hôm nay. Luôn cầu chúc mọi điều may mắn đến cho hai bạn. Và Chân Như cũng cảm ơn quí thính giả đã lắng nghe chương trình. Hẹn gặp lại quí vị và các bạn trong chương trình DĐBT vào tuần tới.
Chân Như cũng hy vọng các bạn đang nghe/xem chương trình cũng sẽ tham gia vào hội luận để hầu nêu lên chính kiến của mình, đó là quyền bày tỏ mà mỗi con người trên trái đất này đều phải có.
Các bạn có thể gởi email về cho Chân Như qua hoangc@rfa.org hay theo dõi Chân Như qua facebook tại facebook.com/Channhu.rfa mến chào và hẹn gặp lại quý vị và các bạn vào chương trình kỳ sau.

Cải cách ruộng đất và các di sản

Nguyễn Hưng Quốc
Lần đầu tiên, cuộc cải cách ruộng đất của đảng Cộng sản ở miền Bắc được triển lãm tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ở Hà Nội vào đầu tháng 9 vừa rồi. Bản thân cuộc cải cách ruộng đất đã đầy tai tiếng. Cuộc triển lãm nhân kỷ niệm 60 năm của cái gọi là vận động cải cách ruộng đất ấy cũng đầy tai tiếng. Trên rất nhiều diễn đàn, nhất là các diễn đàn mạng, người ta ôn lại những kỷ niệm kinh hoàng về chiến dịch đầy máu và nước mắt ấy.
Chính sách cải cách ruộng đất được đảng Cộng sản tung ra vào năm 1946, tức một năm sau khi giành được chính quyền và cũng là năm đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Pháp, lúc đảng Cộng sản chỉ chiếm các vùng nông thôn và rừng núi. Giai đoạn đầu, Cộng sản chỉ tịch thu đất đai của Pháp và một số người bị coi là tay sai của Pháp để cấp cho nông dân nghèo. Giai đoạn sau, từ 1950-1953, họ cắt giảm địa tô, bãi bỏ tiền thuê ruộng và đánh thuế nặng các địa chủ. Giai đoạn thứ ba, từ năm 1954 đến 1957, mới thực sự là cải cách ruộng đất theo đường lối của Mao Trạch Đông.
Nội dung chính của cải cách ruộng đất giai đoạn thứ ba này không phải chỉ là tịch thu ruộng đất của địa chủ để cấp cho nông dân hay giảm tô, giảm tức như giai đoạn trước. Cuộc cải cách ruộng đất lần này còn nhắm đến mục tiêu tiêu diệt những thành phần họ cho là địa chủ, cường hào ác bá, những kẻ vừa theo giặc (Pháp) vừa bóc lột dân nghèo. Hình thức chính của cuộc cải cách là đấu tố và sau đó, xử tội hoặc tù giam hoặc tử hình.

Ở đây, có mấy điều đáng nói.
Thứ nhất, dưới sức ép của các đoàn cố vấn Trung Cộng, đảng Cộng sản Việt Nam quy định một cách máy móc số lượng địa chủ chiếm 5,68% dân số ở nông thôn. Bởi vậy, ở nhiều địa phương nghèo khổ, những gia đình có một hai con heo (lợn) và một khoảnh ruộng nho nhỏ đã bị liệt vào thành phần địa chủ hay phú nông.
Thứ hai, trong việc xét xử, người ta không dừng lại ở phạm vi kinh tế mà còn mở rộng sang lãnh vực chính trị: Nếu những người gọi là địa chủ hay phú nông ấy có chút quan hệ với chính quyền Pháp lúc bấy giờ, họ bị vu tội phản quốc hay phản động bên cạnh tội bóc lột. Để luận tội, người ta không cần điều tra; người ta chỉ xúi giục những người được xem là bần nông hay cố nông lên tố cáo và hạch tội. Dựa trên các lời hạch tội và tố cáo ấy, người ta sẽ xử tội tội nhân.
Thứ ba, hình thức xử tội rất dã man: Có nơi xử bắn, có nơi chôn sống hoặc bắt nhịn đói nhịn khát đến chết.
Bàn về cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc, lâu nay, người ta chỉ tập trung vào tội ác của đảng Cộng sản trong việc giết oan nhiều người dân vô tội. Nạn nhân tiêu biểu nhất, được nhiều người nhắc đến nhất là bà Nguyễn Thị Năm, chủ hiệu Cát Hanh Long ở Hà Nội. Bà giàu, ừ, rất giàu. Nhưng bà lại là người ủng hộ đảng Cộng sản và Việt Minh một cách nhiệt tình và tích cực. Ngay sau Cách mạng tháng Tám, vì thiếu ngân sách, đảng Cộng sản tung ra chiến dịch “Tuần lễ vàng” và kêu gọi dân chúng tham gia, riêng bà Năm tặng đến mấy trăm lượng, chưa kể nhà cửa và thực phẩm. Bà cũng giúp đỡ rất nhiều cán bộ lãnh đạo của cộng sản. Cả Trường Chinh, Phạm Đồng và Lê Đức Thọ đều được bà xem như con nuôi. Ngoài ra, bà có người con ruột tham gia Việt Minh, vào bộ đội, và lên đến chức trung đoàn trưởng. Vậy mà bà vẫn bị giết. Chỉ vì những lời tố cáo vẩn vơ đâu đó.
Bên cạnh sự độc ác, đảng Cộng sản còn mắc một lỗi khác: quá lệ thuộc vào Trung Quốc. Thời ấy, các đoàn cố vấn của Trung Cộng tấp nập sang Việt Nam (miền Bắc) để huấn luyện cán bộ Việt Nam, thậm chí, để chỉ đạo giới lãnh đạo Việt Nam. Tỉ lệ hơn 5% dân số ở nông thôn là địa chủ là do các cố vấn Trung Quốc đặt ra. Nhiều người còn tiết lộ, trong vụ xử tội bà Nguyễn Thị Năm, giới lãnh đạo miền Bắc, kể cả Hồ Chí Minh, đều biết các lời tố cáo là sai, nhưng dưới sức ép của các cố vấn Trung Cộng, họ vẫn nhắm mắt để mặc cho bà Nguyễn Thị Năm chết một cách thảm khốc và oan ức.
Theo tôi, ngoài hai vấn đề độc ác và lệ thuộc Trung Cộng nêu trên, có một khía cạnh khác quan trọng không kém trong các di sản của cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc: Nó phá nát đạo lý truyền thống Việt Nam, trước, trong quan hệ làng xã, sau, ngay trong phạm vi gia đình.
Tất cả các nhà nghiên cứu văn hóa truyền thống Việt Nam đều nhận định giống nhau: làng xã là một đơn vị đặc biệt mang dấu ấn rất Việt Nam. Trong làng, dĩ nhiên có người giàu và người nghèo, vẫn có bóc lột và áp bức, nhưng dù vậy, quan hệ giữa người với người, nói chung vẫn tốt đẹp. Họ đoàn kết với nhau trong việc bảo vệ quyền lợi của làng cũng như trong việc duy trì những truyền thống văn hóa tốt đẹp của làng. Chính vì vậy, rất ít người muốn đi xa khỏi làng. Người ta quyến luyến làng và tự hào về làng. Trong cuộc cải cách ruộng đất, tất cả những quan hệ và tình tự ấy đều bị phá vỡ. Những người dân nghèo được các cán bộ xúi đứng ra tố cáo những người giàu có. Có khi là tố cáo những tội thật. Nhưng phần lớn, căn cứ trên con số trên dưới 80% xử oan, chỉ là những lời bịa đặt do các cán bộ từ trên xuống mớm vào miệng họ. Qua các cuộc tố cáo và hảnh quyết dã man ấy, mọi người trở thành kẻ thù của nhau. Không ai còn tin tưởng ai nữa. Nhà có con gà chết dịch, muốn làm thịt ăn, người ta cũng phải ăn giấu ăn giếm, lông phải chôn thật kỹ, để khỏi bị tố cáo là địa chủ hay phú nông.
Không những phá vỡ quan hệ trong làng, các cuộc vận động cải cách ruộng đất còn phá vỡ quan hệ trong gia đình với cảnh con tố cha, vợ tố chồng. Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, để bảo vệ truyền thống đạo lý trong gia đình, vua chúa thường ra lệnh cấm không cho cảnh vợ tố chồng hay con cái tố cáo cha mẹ. Ở miền Bắc, ngược lại, ngay sau khi vừa nắm chính quyền, đảng Cộng sản đã xúi giục những người thân nhất trong gia đình tố cáo nhau. Cuối cùng, không ai còn tin tưởng ai nữa.
Theo tôi, một công trình nghiên cứu nghiêm túc về các di sản của cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc trong mấy năm, từ 1954 đến 1957, là điều rất cần thiết. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết tổng số các nạn nhân bị giết chết cũng như tổng số những người bị bắt bỏ tù và tịch thu tài sản. Chúng ta cũng chưa biết thật rõ những tác hại tinh thần của nó trong đời sống xã hội cũng như trong quan hệ giữa người và người.
Còn có rất nhiều điều chúng ta chưa biết.

Đảng lừa dân, dân lừa đảng, sự thật là đâu?

Nhìn những cảnh nhà nước CSVN giàn dựng rồi nhìn cảnh dân Việt Nam khóc lóc quỳ lạy Võ Nguyên Giáp hay ôm hình Hồ Chí Minh đi cổ động bóng đá, người ngoài không biết nhìn vào cứ tưởng là lý tưởng cộng sản vẫn còn là "mặt trời chân lý chói qua tim", tưởng chừng chủ nghĩa CS vẫn còn vững mạnh vô cùng ở VN, tưởng chừng tuổi trẻ VN vẫn còn thần tượng các lãnh tụ CS như ngày xưa các cụ lớn tuổi bần cố nông đã thần tượng.

Nhưng khi nhìn kỹ vào thực tế, thì mới thấy được sự thật là đâu?

- Sự thật là khi teen đi chơi mừng ngày sinh nhật HCM thì cho dù trên băng rôn năm sanh có ghi là 1840 cũng vẫn ôm chụp hình tỉnh bơ, chả ai thấy sai hay thèm quan tâm.

- Sự thật là khi khóc lóc, quỳ lạy VNG mà có lợi (được thăng quan tiến chức hay được khen thưởng) thì sẵn sàng, nhưng phim về vị đại tướng này thì chỉ có thể là phim hoạt hình dụ con nít (Bộ phim "Quyết định lịch sử") vì làm phim đàng hoàng thì chả ai thèm trả tiền vé đi xem.

- Sự thật là tuy hễ ai nói gì đụng đến HCM thì lắm người nhao lên chửi theo thói quen bị nhồi sọ, nhưng phim về bác ("Nguyễn Ái Quốc in HongKong) thì dù đã ráng biến thể làm như phim hành động, xen cả màn bác "iu" nữ tu vào cho gay cấn cũng vẫn chả có ma nào thèm coi.

- Sự thật gần đây nhất là bộ phim về chiến thắng Điện Biên Phủ mang tên "Sống cùng lịch sử", đầu tư đến 21 tỷ, giàn dựng công phu, nhưng khi đem ra rạp chiếu cho dân xem thì ngày đầu được chục người xem, từ ngày thứ 2 trở đi thì không bán được nổi lấy 1 vé!


Trong khi đó thì dân dẫm đạp nhau bỏ tiền trăm triệu để mua Gú shi` trốn thuế, sẵn sàng xếp hàng cả ngày để uống Sờ ta xì bấc và ăn Mặc Đố Nà!! Và hàng ngày đều có 1 cái hàng dài dằng dặc chờ xin visa đi Mỹ, đi Úc... bao gồm cả quan chức lẫn dân thường.

Đó mới thật sự là SỰ THẬT của XHCN tại VN bây giờ!

Đảng lừa dân, dân lừa lại đảng, nhưng thực tế là cả đảng lẫn dân đều chỉ mê đô la. Chủ nghĩa CS, cờ đỏ sao vàng, HCM, VNG... đều chỉ là những cái bình phong, mặt nạ giả mạo để 2 bên lừa lẫn nhau mà thôi.

Người nào nhận biết được sự thật này sớm thì sẽ "tiến xa" trong xã hội VN ngày nay. Người nào ngu ngơ còn tin vào lý tưởng này nọ thì sẽ sớm trắng tay và sớm xuống mồ.

Đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào? Ngày nay Mỹ Ngụy chỉ cần ngồi cười và xem tuồng hát miễn phí mà đảng và dân VN đang diễn cho nhau xem, xem coi bên nào sẽ chết trước...


Trận chiến quyết định


Một trận chiến dữ dội sẽ xảy ra ở Việt Nam. Nó sẽ quyết định số phận tương lai của một dân tộc có quá nhiều lầm than nầy. Một tương lai khi mọi người dân Việt sẽ được sống trong tự do, no ấm, với đầy đủ nhân phẩm, nhân quyền, hay một tương lai khi Việt Nam đã trở thành một vùng tự trị của Trung Quốc và mọi người dân phải cúi đầu vâng phục, sống trong sự bất công và tủi nhục như những người dân Tây Tạng hay Tân Cương bây giờ.

Trận chiến ấy có lẽ đã bắt đầu và dường như không cân sức giữa một bên là những người dân không súng đạn và một nhà nước đầy quyền lực với xe tăng, đại bác, công an, quân đội và đầy đủ công cụ đàn áp trong tay. Sự chênh lệch nầy càng thêm to lớn vì người dân không phải chỉ chống lại giặc ngoại xâm mà phải đương đầu với một chính quyền buôn dân, bán nước. Tuy nhiên ý dân là ý trời. Sức mạnh của dân nằm ở ý nguyện toàn dân, và nhất định sự chiến thắng sẽ thuộc về dân tộc.

Để chiến thắng trận chiến quyết định nầy, không gì bằng là người trong cuộc làm đúng theo những lời dạy của tiền nhân. Và một trong những câu châm ngôn rất chính xác, đó là: “Biết Địch Biết Ta, Trăm Trận Trăm Thắng”.

Vậy thì ai là địch, ai là ta trong trận chiến nầy?

Ta đây là dân tộc Việt Nam với cùng chung một tổ quốc và truyền thống, văn hóa do cha ông để lại. Ta cùng đấu tranh cho một mục đích là giữ gìn và phát triển Việt Nam để mọi người dân Việt được sống trong an vui, hạnh phúc và đầy đủ nhân phẩm, nhân quyền.

Địch rõ ràng là Trung Cộng, kẻ luôn tìm mọi cơ hội thôn tính nước ta. Họ đã tấn công nước ta rất nhiều lần bằng quân sự, nhưng có khi chỉ dùng thủ đoạn lũng đoạn chính trị, bao vây hay làm chúng ta hoàn toàn lệ thuộc về kinh tế. Họ quả thật là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên Trung Cộng chỉ có thể lũng đoạn chính trị và bao vây kinh tế nước ta một cách hiệu quả khi mà trong nước Việt Nam có những người lãnh đạo đất nước sẵn sàng làm tay sai cho giặc mà quên đi nguồn gốc của mình. Họ là những người vì quyền lợi của cá nhân mà quên đi tổ quốc. Với một hoàn cảnh như vậy thì người dân có thể nói địch ở đây vừa là Trung Cộng vừa là đảng Cộng Sản và nhà nước Việt Nam đã và đang có những hành vi bán nước và hợp tác với giặc. Và muốn tránh khỏi sự lệ thuộc hay xâm lấn của Trung Cộng thì trước hết chúng ta phải thoát ra khỏi chế độ do đảng Cộng Sản áp đặt ở Việt Nam.

Biết địch, biết ta là biết được cái mạnh và cái yếu của ta và địch và có những phương cách làm cho ta mỗi ngày một mạnh thêm lên và làm cho địch mỗi ngày một suy yếu đi để công cuộc đấu tranh có thể đi đến thắng lợi cuối cùng.

Vậy thì cái mạnh và cái yếu của ta là ở những điểm gì?

Cái mạnh căn bản đầu tiên của người dân Việt Nam là một khát vọng được sống tự do với đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một con người trong một nước Việt Nam thật sự có độc lập, tự do và dân chủ. Đó không phải là một ước mơ viển vông nhưng là một hiện thực mà nhiều dân tộc trên thế giới đang được thừa hưởng. Đấu tranh cho cái khát vọng nầy là đấu tranh cho một chính nghĩa đầy đúng đắn. Và sức mạnh của chính nghĩa là một sức mạnh vô địch khó có thế lực nào có thể đè bẹp. Bằng chứng là tất cả sự đàn áp của bạo quyền dù cho hung hăng tàn bạo đến đâu cũng không làm nao lòng những người dân đứng lên đòi quyền sống, quyền được biết, quyền được nói và quyền tham gia bảo vệ đất nước của mình. Vì chính nghĩa mà luật sư Lê Thị Công Nhân không ngần ngại một thân một mình đương đầu với một bộ máy công an sừng sộ. Vì chính nghĩa mà luật sư Nguyễn Văn Đài, luật sư Cù Huy Hà Vũ, thương gia Trần Huỳnh Duy Thức, nhà báo Huỳnh Ngọc Tuấn, nhạc sĩ Việt Khang, nhà báo Điếu Cày Nguyễn Văn Hải và nhiều người khác đã bỏ lại vợ con mà bước vô nhà tù Cộng Sản một cách hiên ngang không sợ hãi. Vì chính nghĩa mà Nguyễn Phương Uyên lấy máu mình mà viết nên câu khẩu hiệu nổi tiếng: “Tàu Khựa cút khỏi biển Đông” và “Đảng Cộng Sản đi chết đi” để bị bắt vô tù khi tuổi còn rất trẻ. Vì chính nghĩa mà biết bao nhà đấu tranh dân chủ vẫn kiên cường tranh đấu và quyết theo đuổi lý tưởng của mình sau khi đã bị đọa đày trong nhà tù Cộng Sản như Đổ Thị Minh Hạnh, bác sĩ Phạm Hồng Sơn, luật sư Lê Công Định, thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung, nhà giáo Vi Đức Hồi, Phạm Thanh Nghiên, Lê Thị Kim Thu, luật sư Nguyễn Bắc Truyển, nhà báo Trương Minh Đức, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, chị Bùi Thị Minh Hằng và nhiều người khác nữa.

Cái mạnh thứ hai là truyền thống đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm của cha ông ta đã và đang truyền lại cho con cháu. Cái truyền thống đó sẽ làm cho dân Việt hội tụ đoàn kết với nhau khi đã nhận rõ kẻ thù và những ai đan tâm bán nước.

Cái mạnh thứ ba là các nhà đấu tranh cho dân chủ đã biết vận dụng những phương tiện truyền thông hiện đại như internet, email, tin nhắn, twitter, facebook để liên lạc, tìm hiểu và vận dụng những bài học đã xảy ra trên thế giới cho công cuộc đấu tranh cho dân tộc mình. Thông tin và kiến thức sẽ đánh tan sự bao bít của các thế lực độc tài toàn trị và làm cho phong trào đấu tranh của nhân dân ngày càng lan rộng và có hiệu quả.

Cái mạnh thứ tư là sự đồng tình ủng hộ của nhân dân các nước trên thế giới và các tổ chức quốc tế cho công cuộc đấu tranh đòi nhân quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam. Một thí dụ điển hình là sự lên tiếng nhiều lần về tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam của nhiều tổ chức tầm cỡ trên thế giới như tổ chức Bảo Vệ Nhân Quyền Thế Giới, tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới, Hội Ân Xá Quốc Tế, và nhiều tổ chức khác. Gần đây nhất là sự lên tiếng của tổ chức Bảo Vệ Nhân Quyền Thế Giới về tình trạng hành hung, tra tấn, gây thương tích, hay làm thiệt hại tính mạng của người dân trong các đồn Công An ngày càng nhiều. Họ đã mạnh mẽ tố cáo với thế giới về tình trạng trên ở Việt Nam sau nhiều ngày tháng điều tra với đầy đủ bằng chứng và đề nghị các nước trên thế giới nên lên tiếng phản đối nhà nước Việt Nam và có những hành động thích đáng như xét lại các chương trình viện trợ hay các hợp tác thương mại có lợi cho Việt Nam. Những việc làm như trên của các tổ chức quốc tế và của các nước văn minh tiến bộ trên thế giới đã và đang đóng góp một cách đáng kể vào tiến trình dân chủ cho Việt Nam.

Cái mạnh thứ năm là sự đồng tình ủng hộ hay nói đúng hơn là tham gia mạnh mẽ của khối người Việt ở hải ngoại cho công cuộc đấu tranh ở quê nhà. Sự kết hợp trong ngoài làm cho kẻ địch không khỏi nao núng trong những vận động tuyên truyền ra thế giới hay trong việc đàn áp những người đấu tranh ở trong nước. Và chính việc nầy càng làm cho phong trào đấu tranh mạnh mẽ lên thêm.

Còn cái yếu của chúng ta là ở những vấn đề gì?

Cái yếu của ta là ở cái thế luôn bị kèm kẹp theo dõi làm cho sự phát triển của phong trào phải đi dần từng bước chậm rải. Các phương tiện truyền thông thì không được tự do và thường xuyên bị phá hoại. Người tham gia đấu tranh thì bị bao vây kinh tế, gây khó khan, bị khủng bố, đánh đập hay bị bắt đi tù vì bất cứ lý do gì. Để vượt qua điểm yếu nầy thì cần có sự liên lạc và nương tựa vào nhau của mọi người dân cùng đứng chung một chiến tuyến và người Việt ở hải ngoại càng làm nhiều hơn nữa để giúp đỡ bảo vệ đồng bào mình đang đấu tranh trong quốc nội. Cần tiếp tục tố cáo với thế giới với những bằng chứng rõ ràng về những hành vi đàn áp và vi phạm nhân quyền trắng trợn của nhà cầm quyền Việt Nam. Và thu nhập cũng như lưu trữ những bằng chứng cũng như tài liệu về từng cá nhân trong hệ thống nhà nước đã có những hành vi khủng bố hay làm hại người dân để có thể truy tố hay xét xử sau này.

Cái yếu của ta là sự thiếu tổ chức vì cái tính cách tự phát một phần, nhưng phần chính là do sự ngăn cấm, bắt bớ hay đe dọa của nhà cầm quyền. Chỉ gần đây các tổ chức dân sự mới bắt đầu ra đời nhưng sự phát triển và hoạt động còn ít ỏi vì cả hai phía còn đang trong tình trạng thăm dò. Phe địch thì luôn đưa mắt dòm ngó còn phe ta thì vẫn dè chừng vì không muốn bị đàn áp khi còn non trẻ. Mặc dầu còn non trẻ nhưng các tổ chức dân sự đã có những chương trình hành động khá ngoạn mục như sự công khai họp mặt hàng tháng, sự lên tiếng chính đáng và kịp thời về những hành động vi phạm nhân quyền hay luật pháp quốc tế mà nhà cầm quyền Việt Nam đã ký kết, hay sự xâm lấn của Trung Cộng đến biển đảo của Việt Nam và sự nhu nhược của nhà nước Việt Nam. Gần đây phong trào “ Tôi muốn biết” do mạng lưới bloggers ở Việt Nam chủ xướng đã được tham gia đông đảo và đang làm cho đảng Cộng Sản Việt Nam lo sợ. Một khi phong trào lan rộng và mọi người dân đều quan tâm tới vận mệnh đất nước thì đảng Cộng Sản không thể nào che đậy hay lặng yên về những hành động bán nước của mình. Tuy nhiên để phát triển các tổ chức dân sự và bảo vệ mọi người tham gia thì cần có sự kết nghĩa, bảo trợ của những tổ chức dân sự trên thế giới hay của những tổ chức của người Việt ở hải ngoại. Ví dụ như mỗi tổ chức dân sự trong nước có thể được sự kết nghĩa của một tổ chức cộng đồng ở hải ngoại. Ngoài những tổ chức dân sự, các tôn giáo cũng cần có thêm những tiếng nói và hành động quyết liệt đến những vấn đề liên hệ đến sự tồn vong của dân tộc, của những bất công, hay tệ nạn xã hội, như những sự lên tiếng của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, của giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, hay của giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy trong thời gian vừa qua.

Cái yếu của ta là chưa phá được toàn bộ bức tường sợ hãi mà địch đã bao vây dân tộc trong mấy chục năm qua. Bức tường ấy đã có nhiều lỗ hổng to lớn nhờ công lao của những dũng sĩ đi đầu như bác sĩ Nguyễn Đan Quế, nhà báo Nguyễn Khắc Toàn, bác sĩ Phạm Hồng Sơn, luật sư Lê Thị Công Nhân, luật sư Nguyễn Văn Đài, Huỳnh Thục Vy, Phạm Thanh Nghiên, và đặc biệt là Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha, Đổ Thị Minh Hạnh, và Bùi Thị Minh Hằng. Nhưng nó vẫn còn là một cản trở to lớn cho phong trào đấu tranh của dân tộc Việt. Chừng nào bức tường đó ngả sụp hoàn toàn như sự sụp đổ của bức tường Bá Linh thì khi ấy cuộc cách mạng sẽ nhanh chóng thành công. Bức tường sợ hãi sẽ không còn đứng vững với thời gian khi mà càng ngày càng có nhiều người can đảm lên tiếng. Sự lên tiếng của người dân có thể bắt nguồn từ nhiều lý do, những lý do đơn giản và tự nhiên như sự bất công trong công ăn việc làm, sự vô trách nhiệm trong các vấn đề y tế, giáo dục của những người có chức có quyền, sự bất lực của chính quyền trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm hay an ninh xã hội, cho đến những vấn đề lớn lao hơn như sự im hơi lặng tiếng của các lãnh đạo nhà nước Việt Nam trước việc Trung Quốc lấn áp xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, tệ nạn tham nhũng trầm trọng ở Việt Nam, chính sách dường như bán nước của đảng Cộng Sản Việt Nam trong lá thư của thủ tướng Phạm Văn Đồng nằm 1958 hay các hiệp ước biên giới với Trung Quốc và cái gọi là “Hội Nghị Thành Đô” nằm 1990, những sự vi phạm nhân quyền trầm trọng, sự đàn áp tôn giáo, cướp đất của dân oan và nhiều vấn đề khác nữa.

Vậy thì cái mạnh và cái yếu của địch là gì?

Cái mạnh của địch là ở công an, quân đội, và mọi công cụ đàn áp trong tay. Tuy nhiên những sự đàn áp của họ đối với những nhà đấu tranh cho dân chủ đã và đang bị thế giới lên án. Không những vậy họ còn bị những vị sĩ quan cao cấp trong quân đội hay công an trước đây lên tiếng phản đối. Một điều cần lưu ý ở đây là mặc dù quân đội là do đảng Cộng Sản nắm giữ, nhưng những người lính lại đến từ nhân dân. Cho nên khi thời cơ chín mùi cho một cuộc cách mạng thì hiện tượng quân đội quay súng lại với Đảng là chuyện có thể xảy ra. Nhất là trong bối cảnh đất nước đang bị ngoại xâm mà chính Đảng Cộng Sản là kẻ có trách nhiệm trong việc làm mất đất mất biển và tạo điều kiện cho giặc xâm lấn nước nhà.

Cái mạnh của địch là ở sự độc quyền cai trị đất nước dựa trên điều 4 hiến pháp do chính họ đặt ra. Họ nắm tất cả các ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp và tất cả các phương tiện truyền thông báo chí cho nên người dân nói chung là không có tiếng nói và một quyền hạn gì ở đất nước nầy. Tuy nhiên xu hướng của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới ngày nay là được sống trong một thể chế dân chủ, đa nguyên đa đảng, và người dân có quyền tham gia và lựa chọn những người lãnh đạo cho đất nước mình. Cho nên cái mạnh của một chế độ độc tài toàn trị bỗng nhiên trở nên cái yếu của một chế độ lạc hậu và phản lại trào lưu tiến hóa của nhân loại và sẽ bị loại bỏ không sớm thì chầy.

Cái mạnh của địch là một đảng duy nhất với ba triệu đảng viên và các tổ chức ngoại vi nắm giữ mọi chức vụ quan trọng của chính quyền. Họ từng tự hào là đánh bại các cường quốc như Pháp và Mỹ để dành độc lập cho quốc gia. Sự thật đảng Cộng Sản chỉ làm theo lệnh của quan thầy là Liên Xô, Trung Cộng để bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản, và bây giờ đã lộ nguyên hình là một đảng của những nhóm lợi ích cấu kết với nhau và những cá nhân bất tài nhưng tham quyền cố vị. Cũng vì quyền lợi cá nhân mà đảng Cộng Sản bây giờ đã chia năm xẻ bảy tranh giành nhau đến tận trung ương như trường hợp đồng chí X năm vừa rồi, hay thượng tướng Phạm Quý Ngọ mấy tháng trước. Vì hoàn cảnh lịch sử của đất nước, cũng có những cá nhân lầm lẫn đi theo đảng Cộng Sản vì tưởng họ thật tình yêu nước, bây giờ hiểu ra, những vị ấy đã mạnh dạn lên tiếng kêu gọi thay đổi. Những thỉnh nguyện thư, những lời kêu gọi, những tuyên bố của các đảng viên lâu năm, của các tướng tá đã có những tác động đáng kể cho cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam cho một thể chế dân chủ, cho nhân quyền và cho một nền độc lập thật sự cho nước nhà. Tác động đầu tiên là soi sáng thêm con đường từ bỏ chủ nghĩa Cộng Sản, chủ nghĩa xã hội mà nhiều người trong Đảng chưa nhận ra hay còn đắn đo suy nghĩ. Tác động khác là làm lung lay thêm cái chân đã một phần mục nát do chính các đảng viên tham ô gây ra. Nó đã tạo thêm mâu thuẫn và sự nghi ngờ lẫn nhau trong nội bộ Đảng, và làm mất lòng tin của các đảng viên lên cấp lãnh đạo của họ. Tác động lớn nhất có lẽ là sự cổ võ to lớn cho phong trào đấu tranh đang ngày lớn mạnh của nhân dân. Nó đã xác minh cho sự đấu tranh đúng đắn và chính nghĩa của phong trào và chắc chắn sẽ làm cho nhiều người yêu nước mạnh dạn tham gia.

Cái mạnh của địch là có sự hậu thuẫn của đảng Cộng Sản Trung Quốc đàng sau. Tuy nhiên đó cũng là cái yếu của đảng Cộng Sản và nhà nước mà họ đang nắm quyền vì một sự lệ thuộc ngoại bang, Trung Cộng, một cách quá rõ ràng cũng đồng nghĩa với sự phản bội lại tổ quốc của mình. Họ kết nghĩa anh em với kẻ thù truyền kiếp của dân tộc. Họ đã nhượng đất nhượng biển và sẵn sàng đàn áp nhân dân để làm vui lòng kẻ thù. Họ đã ký kết những hiệp định bán nước mà chỉ được tiết lộ bởi kẻ thù. Họ đã không còn lừa bịp được ai vì ngay chính đảng viên lâu năm của họ cũng đã mất niềm tin. Không sớm thì muộn mọi người dân Việt sẽ coi đảng Cộng Sản là kẻ thù nguy hiểm nhất của dân tộc. Họ tin rằng Trung Cộng sẽ giúp họ giữ vững ngai vàng để kéo dài sự thống trị ở Việt Nam như những thái thú ngày xưa, nhưng họ đã quyên rằng Trung Quốc cũng đang đối đầu với nhiều vấn nạn trầm kha như mầm mống nội loạn, sự ô nhiểm môi trường, bất ổn xã hội, đạo đức xuống dốc, tham nhũng tràn lan, dân tình bất mãn, hàng hóa bị nhiều người tẩy chay vì thiếu chất lượng hay gây tai hại cho sức khỏe. Nội bộ đảng Cộng Sản Trung Quốc thì không còn đóng cửa dạy nhau, mà cũng công khai thanh trừng, đấu đá nhau quyết liệt. Họ không tin nhau, thì làm sao họ có thể tin vào những viên chức nhà nước hay đảng Cộng Sản Việt Nam. Chẳng qua chỉ là hai bên lợi dụng lẫn nhau để giữ lấy chiếc ghế quyền lực của mình. Cũng vì vậy mà nhiều người không lấy làm lạ khi một người gọi là phe thân Trung Quốc như ông Nguyễn Bá Thanh lại đi Mỹ chửa bịnh thay vì đi Trung Quốc. Có lẽ ông không tin vào tấm lòng lương y như từ mẫu của các bác sĩ Trung Quốc hay không tin lắm ở khả năng y khoa sao chép của các bịnh viện ở nước nầy, hay không tin vào cả cái chế độ mà luôn dùng thủ đoạn để thống trị người dân và cạnh tranh với quốc tế.

Cái yếu của đảng Cộng Sản là một sự bất tài, thất đức của các tầng lớp lãnh đạo và một hệ thống độc quyền thiếu sự cạnh tranh và kiểm soát. Nó đã dẫn đưa đất nước đến một tình trạng suy yếu về mọi mặt từ kinh tế, giáo dục, y tế, chính trị, quốc phòng. Nó đã sản sinh ra một thể chế tham nhũng nhất nhì thế giới làm cho đất nước kiệt quệ và dân tình điêu linh.

Cái yếu của đảng Cộng Sản là sự cô đơn vô cùng tận khi cả thế giới đang từ bỏ chế độ Cộng Sản thì họ lại kiên quyết đi theo con đường Cộng Sản. Các nước Đông Âu khi từ bỏ chế độ Cộng Sản thì đời sống của người dân các nước đó không ngừng được nâng cao về mọi mặt. Lấy thí dụ của Ba Lan, năm 1990 mức thu nhập trung bình của mỗi người dân chỉ vào khoảng 1.300 Dollars, nhưng đến năm 2013 họ đã có mức thu nhập tăng lên gấp 10 lần là vào khoảng 13.000 Dollars. Không những như vậy, đất nước Ba Lan còn mở rộng quan hệ với quốc tế và họ đã trở thành thành viên của khối Nato, không còn lo sợ bị Nga Sô hay bất kỳ nước nào xâm chiếm. Trong khi Việt Nam, dưới sự cai trị của đảng Cộng Sản thì mức thu nhập đầu người cũng không qua con số 2000 Dollars cho năm 2013, và luôn ở trong nguy cơ sẽ bị thôn tính bởi anh láng giềng tham lam, Trung Cộng. Người dân Việt Nam đã và đang thấy rõ con đường mà mình muốn đi, họ sẽ không để cho một thiểu số tham lam và thiếu hiểu biết dẫn dắt mình đi mãi trên con đường u tối.

Qua những phân tích trên đây, mặc dù không thể đầy đủ trong một bài báo ngắn gọn, chúng ta cũng có thể thấy rằng trận chiến quyết định của dân tộc đã bắt đầu với những khó khăn và thuận lợi mang tính đặc thù của Việt Nam. Khó khăn thì nhiều, nhưng thuận lợi thì cũng không ít. Điều quan trọng là nhân dân Việt Nam đang có chính nghĩa. Chính nghĩa là yếu tố quyết định cho sự thắng bại cho trận chiến nầy. Chính nghĩa sẽ dẫn đến sự cân bằng lực lượng và hơn thế nữa sẽ làm cho địch ngày thêm phân chia, rối loạn và làm cho ta mỗi lúc một đoàn kết, kiên cường thêm. Và như thế, dân tộc ta sẽ có một chiến công ngoạn mục để sau này còn có hai chữ Việt Nam.


Powered By Blogger