Saturday, January 24, 2015

Ngụy

Trong ngôn ngữ thông thường miền Nam Việt Nam trước tháng tư 1975, tiếng "ngụy" nghĩa là "giả" ít thấy có ai dùng tới. 

Cái gì không phải thứ thiệt, không phải thứ "chánh cống", không phải thứ "có cầu chứng tại tòa"... là người ta gọi hoạch tẹt là "đồ giả", chớ không ai gọi là "đồ ngụy" hết. Ví dụ như rượu giả, thuốc giả, vú giả, bạc giả, v.v. 

Bởi vì từ ngữ hồi đó rất... thật!

Sau tháng Tư 1975, tiếng "ngụy" đã theo gót... dép râu (Xin lỗi! Chỗ này văn chương nghe chỏi lỗ tai một chút, nhưng rất... tả chân. Không thể viết "theo gót giầy" như xưa nay thường viết, vì đối tượng ở đây toàn mang dép râu cả!) quân nón cối và quân mũ tai bèo vào Nam làm cách mạng...

Sau biến cố, toàn dân miền Nam đều phải đi "học tập" ba hôm. Chính trong ba hôm đó người ta mới nghe lần đầu tiên tiếng "ngụy". Và nghe... đầy lỗ tai!

Vậy là đầu hôm sớm mai, tiếng "ngụy" được nhét vào ngôn ngữ miền Nam một cách "ngang xương", không cần phổ thông đầu phiếu! Mới đầu nghe lạ hoắc, không hiểu ý nghĩa sâu đậm của nó. Cũng chẳng có ai giải thích. Mà ví dụ có ai to gan lớn mật đặt câu hỏi thì cán bộ cũng chỉ giải thích... ngang như cua thôi!

Thành ra nhân dân miền Nam hiểu tiếng "ngụy" một cách rất... tự do, và sử dụng tiếng "ngụy" rất... rộng rãi (Được "giải phóng", có khác!). Thôi thì cái gì của miền Nam cũng đều biến thành "ngụy" ráo. Để phân biệt với "cách mạng"!.. Thằng ngụy, vợ ngụy, con ngụy, lính ngụy, chánh quyền ngụy, cơ sở ngụy, xí nghiệp ngụy, công nhân ngụy, "hàm-bà-lằng" ngụy... Và người ta nghĩ một cách rất đơn giản, rất thật thà: "Hễ thấy không có đóng con dấu ngôi sao đỏ thì cứ xếp vào đồ ngụy, là ăn chắc!".

Thật ra, khi dán cái nhãn "ngụy" lên miền Nam, "Đảng và Nhà Nước" muốn nhân dân "chủ yếu là nhân dân miền Bắc" hiểu theo định nghĩa "ngụy" là giả, "giả nhân giả nghĩa, giả đạo đức, giả yêu nước thương dân, "ngụy" là đoạt của người ta mà nói là của mình, là bịp, là láo, là phiến loạn...

Về sau, khi nhân dân cả hai miền đều... mở mắt, tiếng "ngụy" ít thấy dùng tới. Nhưng bây giờ thì mọi người đều nhận ra ai mới đúng là ngụy. Lớp ngụy trang bị rơi xuống, những ngụy ngôn bị vạch trần, thì chân tướng ngụy lòi ra rõ rệt, đến người mù cũng phải thấy!

Viết dài dòng để... "đả thông tư tưởng" trước khi vào chuyện.

Ông H là thiếu tá quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Ông làm việc ở Tổng Tham Mưu.

Ông thuộc gia đình trung lưu. Hồi 1945, cha và anh của ông đi kháng chiến rồi đi luôn ra Bắc. Từ đó, không được tin tức gì hết.

Mẹ của ông là giáo viên tiểu học, xem việc dạy dỗ trẻ con là một thiên chức. Bà thường nhắc về người cha và người anh vắng mặt, nhứt là người anh với những kỷ niệm đẹp của thời mà hai anh em còn ở chung với nhau: "Anh Hai của con thương con lắm. Đi học về là cởi trần rồi cõng con chạy cà bồng cà bồng quanh sân vừa chạy vừa hí rân như ngựa làm cho con cười hắc hắc. Mà con thì hay nhõng nhẽo với anh Hai con, đi đâu cũng bắt nó cõng hết. Còn khi nào con đòi cái gì không được, con hay vừa khóc vừa la để ba tưởng là anh Hai chọc con, ba rầy ảnh! Tội nghiệp! Những lúc thấy con sắp sửa làm trận như vậy, anh Hai con thường đưa đầu biểu con đánh nó đi chớ đừng khóc la, sợ ba rầy!". Rồi bà kết luận: "Tánh tình nó tốt lắm!".

Ông lớn lên trong vòng tay người mẹ, được giáo dục bằng tình thương, xem gia đình là căn bản, lấy đạo đức làm phương châm. Và ông giữ mãi trong lòng sự mến mộ "người anh Hai lúc nào cũng làm vui lòng em, lo lắng cho em, bảo vệ em".

Mãi đến năm 1973, mới được tin qua một người bà con rằng cha mất đã lâu và người anh bây giờ là tướng của "ngoài đó". Thật là bàng hoàng. Mẹ ông khóc hết nước mắt. Thời gian sau, bà nói: "Mẹ chỉ mong cho mau hết giặc, để anh em con về sống bên mẹ yên vui như ngày xưa. Chừng đó, mẹ mãn nguyện để theo ông theo bà...".

Mẹ ông qua đời vào giữa năm 1974, chưa kịp thấy cảnh "hết giặc" ra làm sao và chưa kịp gặp đứa con làm tướng...

Mấy hôm sau ngày 30 tháng tư 1975, ông tướng nhờ người bà con đưa lại nhà ông H. Xa cách đã ba mươi năm, nhưng hai anh em vẫn nhìn ra được nhau. Bởi vì họ giống nhau như đúc. Sau mấy giây ngỡ ngàng, họ xà vào ôm lấy nhau siết chặt. Cả hai đều không cầm được nước mắt. Bà H và bốn đứa con "ba trai một gái, đã lớn hết, hai đứa đại học và hai đứa trung học cấp hai" đứng nhìn cảnh hai anh em ôm nhau, cũng bồi hồi xúc động...

Sau đó là bữa cơm gia đình để hai anh em kể cho nhau nghe những biến thiên của đời mình, của thời cuộc. Tiếp theo là ông tướng mang hành trang lại ở với gia đình ông H, để có anh có em.

Ông bà H có hai cái nhà. Cái mà ông bà đang ở với hai con học trung học, là loại vi-la lầu có sân lót gạch và vườn cây kiểng hồ cá trang trí theo kiểu Nhựt. Nhà này do ông bà tự cất lấy hồi thời các con còn nhỏ. Về sau, ông được thuyên chuyển ra miền Trung một thời gian. Ông đem hết gia đình ra ngoài đó, để nhà cho Mỹ mướn. Nhờ vậy, mấy năm sau, ông mua thêm một căn phố nhỏ cho hai đứa con trai lớn ở, khi chúng nó vừa vào đại học.

Sau khi đi xem nhà, ông anh bảo:

- To thế thì ở làm gì cho hết? (Bây giờ ông anh nói pha giọng Bắc rất nhiều). Nguyên cái buồng ngủ thôi cũng chứa cả môt hộ bốn năm người đấy!

Hôm sau, ông H được người anh khuyên:

- Chú làm cái vườn như thế này là phí đất. Đào lên đi để trồng trọt khoai bắp cho các cháu có mà ăn. Phải biết tăng gia chứ!

Mới đầu, ông hơi phật ý. Nhưng, khi nhìn sang hàng xóm thấy nhà nào cũng đào cũng xới kể cả dải đất hẹp té nằm dọc theo chân tường rào phía ngoài đường, ông nghĩ: "Mình cũng phải làm như thiên hạ, cho yên thân".

Vậy là cha con ông hè hụi đập nạy cạy khượi, gạch, bê-tông, hồ cá... cho lòi đất rồi trỉa đậu trồng mì! Khu vườn Nhụt Bổn mà ông Bà H đã tự tay xây đắp, bây giờ tan hoang lồi lõm giống như bãi đổ... xà bần. Nhà ông H bây giờ mới thật sự mang nét cách mạng!

Ông anh "tên R" làm việc ở đâu, hỏi không bao giờ nói. Chỉ thấy mỗi sáng có xe của cơ quan đến rước, chiều đưa về. Ông H, sau khi khai lý lịch ở tòa đô chánh, tối ngày ngồi nghe tin tức qua ra-đi-ô. Bà H không dám nấu nướng trong bếp bằng lò ga. Bà sợ làm như vậy nó... ngụy quá đi, nên bà dựng ở hàng ba mấy cục gạch rồi nấu bằng than củi bằng lá khô... Bà kê cạnh đó một cái bàn thấp để chén đũa mắm muối, còn nồi niêu dao thớt thì cứ bỏ nằm lỏng chỏng dưới đất bên cái thau nhôm lớn đựng nước để dùng cho việc nấu nướng rửa ráy. Nước lấy từ ống cao su trước đây dùng tưới vườn. Nước dơ thì cứ tạt... cha nó ra sân. Bà H ngồi chồm hổm làm bếp, chổng khu thổi lửa khói bay um tùm làm đôi khi bà nhớ thời thơ ấu – bốn mươi mấy năm về trước – hồi ở dưới quê với bà ngoại, bà hay nhìn bà ngoại nấu cơm như bà làm bây giờ. Chỉ khác là hồi đó chưa có cách mạng! Ông anh có vẻ hài lòng về tác phong của bà H, nên khen: "Cô thật là sớm giác ngộ!".

Một hôm, đài phát thanh gọi các sĩ quan ngụy đi trình diện học tập. Và nói rõ: "Đem theo tiền ăn cho một tháng". Ông H lo lắng, hỏi ý kiến ông anh thì được trả lời:

- Chú cứ yên tâm đi học tập. Anh bảo đảm không sao hết.

Vậy là ông H hun vợ con, xách ba-lô lên đường, còn dặn:

- Ở nhà có bác Hai. Mẹ con bây cần gì thì nhờ bác, nghen.

Một tháng sau, không thấy ông về, bà H hỏi ông anh thì được trấn an một cách rất bình thản:

- Cô yên tâm. Vài hôm là về thôi!

Cứ thế, vài hôm rồi vài hôm... dài dài... Bà H nóng lòng, chạy đi gặp mấy bà bạn cũng là vợ sĩ quan, mới hay rằng có thể chồng đã bị chở đi luôn ra ngoài Bắc. Bà lau nước mắt, về quây quần với mấy con, ngồi đợi ông anh. Gặp ông, bà mếu máo:

- Họ chở nhà tôi đi mất rồi...

- Đi đâu mà mất? Còn tập trung cải tạo ở trong Nam chứ phải biệt xứ đâu mà mất? Đi học tập chứ đi tù đâu mà cô sợ.

- Nghe đồn trong trại khổ lắm. Nhờ anh can thiệp cho nhà tôi về. Dù gì anh cũng là tướng và cha đã hy sinh vì cách mạng.

- Cách mạng không phải như ngụy đâu cô! Không có chuyện móc ngoặc bè phái. Không có chuyện tư vị nể nang. Luôn luôn xử sự có tình có lý. Chú ấy cứ học tập tốt là về ngay thôi! Nói thế chứ... để tôi xem có làm gì được không.

Một hôm, ông anh họp các con ông H lại, khuyên:

- Ba các cháu là ngụy. Cách mạng khoan hồng gởi đi học tập cải tạo. Ba các cháu có sớm được trả về hay không là còn tùy thuộc ở thái độ học tập của ba các cháu. Và cũng tùy thuộc ở trình độ giác ngộ cách mạng của má các cháu và các cháu nữa.

- Vậy, mình phải làm sao?

- Dễ thôi! Bác sẽ giới thiệu các cháu vào đội thanh niên xung phong, nếu các cháu muốn giúp ba các cháu.

- Vô đó để làm cái gì, thưa bác?

- Để phục vụ nhân dân theo khả năng của mình. Nếu các cháu có tinh thần phục vụ cao, Nhà Nước sẽ cho điểm tốt trong việc cứu xét trường hợp của ba các cháu.

Sau một lúc bàn tính, cả bọn bốn đứa đều đồng ý... xung phong.

Bốn đứa được thâu nhận nhưng không cùng ở chung một đơn vị. Phân tán chúng nó ra, cô lập từng đứa một, để dễ theo dõi kiểm soát, tránh mầm móng phản loạn... Nhà Nước đi một nước cờ thật cao!

Chúng nó được đưa đi đào đất đắp nền ở các vùng kinh tế mới hay đi đào kinh làm thủy lợi. Lâu lâu mới về thăm nhà một vài hôm. Nhưng không bao giờ cùng về một lúc. Và đứa nào về cũng xác xơ hốc hác, tay chân ghẻ lở giống như bị đi đày! Đứa con gái trước đây học năm thứ bảy dương cầm ở quốc gia âm nhạc, bây giờ tay cứng còng, không đánh nổi một bài tầm thường của hồi đó. Bà H nhìn các con mà đứt ruột. Cho nên mỗi lần đứa nào về, bà cũng chạy lo thuốc men và nấu nướng cho ăn uống tẩm bổ. Chỉ có ông anh là hài lòng và cho rằng đó là thành quả tốt đẹp của lao động!

Một hôm, ông anh bảo người em dâu:

- Bây giờ các cháu đã có Nhà Nước lo. Cô giữ làm gì đến hai cái nhà? Đây là lúc mà cô phải chứng tỏ trình độ giác ngộ cách mạng của mình bằng cách hiến cái nhà này cho Nhà Nước để làm cơ quan phục vụ nhân dân. Như vậy, chú ấy có cơ được về sớm.

Sau vài phút suy nghĩ, bà H chỉ bằng lòng cho Nhà Nước mượn thôi.

- Ừ! Thì cho mượn cũng được, tôi nghĩ thế. Để tôi liên hệ với các đồng chí ấy xem sao.

Vậy là tuần lễ sau, bà dọn về căn phố nhỏ ở cách đó độ mười lăm phút xe đạp, nhưng thuộc về một quận khác. Sự chuyển hộ (nghĩa là dời chỗ ở, địa chỉ) không gặp khó khăn, nhờ ông anh cách mạng (Trong thời này, muốn chuyển hộ phải làm đơn xin phép nơi mình sắp dọn đến. Phải "có lý do chánh đáng" và điều này phải được chứng nhận bởi chánh quyền nơi mình đang ở!

Khi đã được chấp thuận (có ký tên đóng dấu) đương sự phải vác đơn đó về trình cho chánh quyền nơi đang ở để... xin phép được di chuyển. Khi được chấp thuận - ký tên đóng dấu- mình mới được quyền dọn đi!

Rắc rối như vậy nên lúc nào cũng có một sự giải thích rất "có trình độ": "Đằng kia có cho anh vô thì ở đây tôi mới cho anh ra. Chớ tôi cho anh ra mà đằng kia không cho anh vô thì anh... đi đâu?".

Rõ như vậy, nhưng nhiều khi vác đơn đến "đằng kia" trước, thì bị từ chối và dĩ nhiên được giải thích cũng rất "có trình độ" không kém: "Anh phải xin phép nơi anh đang ở trước rồi mới đến đây sau. Anh có được cho đi thì tôi mới nhận cho anh đến. Chớ bảo tôi nhận cho anh đến, trong lúc anh chưa được cho đi thì làm sao được? Phải có đi rồi mới có đến chớ! Dễ hiểu thôi!".

Cứ lẩn quẩn loanh quanh như vậy nên việc chuyển hộ thật là khó khăn.

Trong trường hợp chuyển từ tỉnh sang tỉnh hay từ vùng sang vùng thì khỏi nói, thật là "trần ai gian khổ"!).

Ông tướng có "động viên" một số đồng chí trẻ trong cơ quan đến phụ dọn nhà cho bà H. Và có cho mượn một chiếc xe cam-nhông-nét (cũng của cơ quan) nên việc dọn nhà cũng nhanh. Sau đó, ông anh cho bà ký tên tờ ủy quyền để ông anh thay mặt bà quản lý cái nhà lớn mà ông đang ở. Bởi vì bây giờ, bà đã chuyển hộ thì mặc nhiên ông anh trở thành chủ hộ ở ngôi nhà đó, mà muốn sử dụng cái nhà thì phải có sự ủy quyền của chủ nhà.

Mười lăm ngày sau, bà H được biết là nguyên cả tầng trệt nhà của bà đã trở thành "tổ gạo", còn ông anh thì vẫn ở một mình trên lầu. Nghe nói bà tướng có vào thăm chồng một lần, ở độ mười lăm hôm rồi trở về Hà Nội. Không hiểu sao ông tướng không có đưa bà vợ lại thăm cô em dâu. Cách mạng có khác!

Bẵng đi một thời gian dài gần cả năm, một hôm ông anh ghé nhà thăm bà H để báo tin đã tìm ra trại cải tạo của người em ở ngoài Bắc và chỉ vẽ cho bà cách thức xin đi thăm nuôi, đường đi nước bước, xe cộ v.v... và nhứt là những thứ cần thiết như lương khô quần áo. Nghe như vậy, bà H đã đoán ra phần nào đời sống của chồng ở ngoài đó, nên bà rớt nước mắt hỏi:

- Sao trước đây anh không nói rõ để tôi lo cho nhà tôi có đầy đủ phải hơn không?

- Chuyện Nhà Nước, đâu nói ra được. Cô phải hiểu như thế chứ!

- Cái gì cũng che đậy. Cái gì cũng giấu diếm. Nhưng lần hồi thiên hạ đều biết hết. Bộ anh tưởng thiên hạ đui sao?

Đến đây bỗng nghe tiếng bà hàng xóm la lớn: "Đi đâu đó nữa? Mấy bữa nay tao nói mầy kê lại dùm mấy ông Táo kẻo mấy ổng sụm xuống thì không còn khỉ gì để nấu nướng... mà mầy cứ ăn rồi là xách đít đi hà!". 

Giọng người con trai: "Bộ má tưởng con đi chơi hả?". 

Giọng bà hàng xóm: "Chớ đi đâu mà ngày nào cũng đi, mầy nói tao nghe coi!". Giọng người con, có vẻ hảnh diện, nói rời ra từng tiếng: "Con-đi-phục-vụ-nhân-dân!". 

Giọng bà hàng xóm, tức tối: "Phục vụ nhân dân! Phục vụ nhân dân! Con gái mẹ mầy cũng là nhân dân đây nè! Mầy phục vụ cho nó đi! Kẻo không chổi chà nó đơm lên đầu bây giờ!". 

Ngừng một lúc, lại nói: "Cha... Lúc này nói giọng cách mạng quá há! Phải mà! Con mẹ buôn gánh bán bưng này hăm mấy năm nay nó kềm kẹp mầy quá mà! Nó nhét cho mầy ăn để mầy lớn! Nó ép mầy học để mầy khôn! Nó ác ôn quá phải hông? Nó ngụy quá phải hông? Nó giả nhơn giả nghĩa quá phải hông?"

Nghe đến đây, ông tướng nhăn mặt:

- Ăn với nói! Rõ là không có trình độ!

Rồi ông đứng lên:

- Tôi phải vào cơ quan. Bao giờ cô được phép đi thăm nuôi, gặp chú ấy nhớ bảo tôi nhắn chú ấy luôn vững tin vào sự sáng suốt của Đảng và Nhà Nước. Ta khác ngụy ở chỗ xử sự có tình có lý và lúc nào cũng khoan hồng đối với những người biết quay về với nhân dân.

Bà H làm thinh, nhưng nhìn người anh chồng chỉ có nửa con mắt! 

Lúc đó, nghe tiếng thằng con trai nhà hàng xóm: "Rồi đó! Con kê lại mấy ông Táo rồi đó!". Giọng bà mẹ, vẫn còn hậm hực: "Dữ hôn! Có bao nhiêu đó mà cũng phải đợi tao nhắc năm lần bảy lượt! Thôi! Mầy đi phục vụ nhân dân của mầy, đi. Chiều, vác mỏ về, con mẹ ngụy này nó nấu cơm cho mà ăn".

Từ ngày dọn về đây, bà H đi làm ở tổ hợp may thêu gần đó. Cũng phải đi làm như thiên hạ để đừng bị để ý theo dõi, chớ thật ra bà chưa đến nỗi túng thiếu nhờ đã cất giữ nữ trang trong nhà thay vì gởi ở ngân hàng. Bây giờ, lâu lâu bà bán một vài chỉ...

Bà hàng xóm (tên là bà Năm) có cái sạp cháo lòng ở đầu ngõ. Sáng nào, bà cũng đi bộ theo thằng con trai đạp xe ba bánh chở thùng tô dĩa muỗng đũa, thùng lòng dồi gia vị, nồi cháo lớn bằng nhôm, lò dầu hôi và mấy can nhựa đựng nước rửa chén... ra cây trứng cá nằm trên lề đường Phan Đăng Lưu (tức là đường Chi Lăng hồi trước). 

Ở đây, có cái sạp gỗ dựng đứng và bốn năm cái ghế gỗ nhỏ được... xiềng vào gốc cây trứng cá. Hai mẹ con mở ống khóa, hạ cái sạp rồi kê ngay ngắn dưới tàn cây. Xong, thằng con về nhà lấy xe đạp, đạp đi "phục vụ nhân dân" cho tới tối. Thành ra, đến trưa khi bán hết nồi cháo - bà chỉ bán có buổi sáng - bà thâu xếp dọn dẹp một mình ên, rồi đẩy xe ba bánh chở đồ nghề về nhà (Bà không đạp vì không biết đi xe đạp!).

Cứ vài bữa, bà lại mang biếu bà H một tô cháo lòng. Bà biết bà H là vợ thiếu tá quốc gia và chồng đi học tập nên bà hay tới lui thăm viếng để an ủi. Bà H thật cảm động. Có hôm bà nhắc chừng:

- Bà Năm cẩn thận. Có thể tụi nó theo dõi.

- Ối... Cái lũ cô hồn đó tôi đâu có sợ, cô Hai. Hồi tụi nó mới vô, bắt mình làm tờ "báo công báo tội". Tôi phát ghét nên khai là tôi tội lỗi đầy đầu bởi vì gần hai chục năm nay tôi bán cháo lòng cho ngụy ăn chớ không cho cách mạng ăn! Vậy mà có thấy thằng nào đụng tới tôi đâu, cô Hai!

- Coi vậy chớ cũng nên coi chừng, bà Năm à! Nhứt là khi bà rầy la thằng nhỏ, nói đụng chạm tới họ quá, không nên.

- Tụi nó đã coi mình là ngụy thì cứ thí mạng cùi chửi cho sướng miệng. Tội vạ gì mà nín thinh? Há?

Nói xong, bà Năm nhếch mép cười, làm như bà đang thách đố cách mạng vậy!

Khi bà H được giấy phép đi thăm nuôi chồng, bà báo tin cho bà Năm và nhờ bà Năm coi chừng nhà giùm. Bà Năm mừng rỡ, làm như ông H là người nhà:

- Dữ hôn! Tới bây giờ mới cho con người ta đi thăm nuôi. Quân ác ôn! Được rồi, cô Hai cứ yên tâm, tôi giữ nhà cho. Mà chừng nào cô Hai định đi?

- Chắc mười hôm nữa, bà Năm à. Để có thì giờ lo cho đầy đủ. Chớ gấp rút quá thì quên trước quên sau...

- Cô Hai nói phải đó. Đi ra tới ngoài Bắc chớ bộ gần gụi gì hay sao?

Ngừng một chút, bà Năm cầm tay bà H lắc nhẹ:

- Cần gì thì cứ nói nghe cô Hai, đừng ngại. Mình với nhau mà...

Bà H xúc động, lí-nhí "cám ơn" mà nước mắt chảy quanh. 

Lạ quá! Chỉ có mấy tiếng "mình với nhau" mà sao nghe ấm cúng vô cùng. Nhứt là trong hoàn cảnh này, trong giai đoạn này. "Mình với nhau" là sự nhận diện của những người cùng đứng về một phía. "Mình với nhau" nói lên sự cảm thông của những người cùng cảnh ngộ, cần nương tựa vào nhau, nâng đỡ nhau để sinh tồn. "Mình với nhau" là tình người không dị biệt giai cấp. Cho nên, khi mở rộng vòng tay, bà Năm cháo lòng chỉ cần nói có mấy tiếng đó thôi là quá đầy, quá đủ...

Hai hôm trước ngày bà H khăn gói đi thăm chồng, bà Năm qua nhà đưa một lon ghi-gô được ràng chằng chịt bằng dây thun:

- Cô Hai cho tôi gởi ổng lon thịt chà bông. Tôi làm có hơi mặn để ăn cho lâu. Tôi ém chặt và ràng kỹ, cô Hai đừng lo đường xa nó sút sổ. Cô cho tôi gởi lời thăm ổng, nghen.

Bà H "cám ơn"mà có cảm tưởng như bà Năm là người trong quyến thuộc!

Trong khi đi ra cửa, bà Năm còn quay lại nói:

- Cô Hai đi yên tâm. Tụi nhỏ của cô có về chơi thì tôi lo cơm nước cho hết. Cô nhớ viết ít chữ để lại cho tụi nó biết, nghen!

Bà H gật gật đầu, nhìn theo mà thấy bà bán cháo lòng đó còn cao cả gấp mấy mươi lần người anh chồng làm tướng của cách mạng!

Đi thăm chồng về, bà H như già đi năm bảy tuổi. Mắt bà sưng húp, tóc tai rối bời, mặt mũi hốc hác. Bà Năm nhìn bà H, động lòng chảy nước mắt. Ngồi xuống bên bà H, bà Năm hỏi:

- Sao, cô Hai? Khổ lắm phải không?

Bà H mếu máo khóc, chỉ gật gật đầu chớ không nói được một lời. Bà Năm nhích lại gần, choàng tay ôm vai bà H, chửi đổng:

- Mẹ bà nó! Quân ác ôn!

Bà H bỗng quay sang ôm chầm lấy bà Năm, khóc nức nở. Vừa khóc vừa cố gắng nói, câu nói đứt ra từng khúc:

- Ảnh... ốm... đến nỗi... tôi... nhìn... ảnh... không ra...

Đến đây, bà Năm cảm động nghẹn lời. Bà chỉ còn biết vuốt vuốt lưng bà H, giống như bà đang dỗ về người em gái.

Hôm sau, bà H đội nón lá cầm cái thơ ông H viết cho người anh để gởi gắm vợ con, đi bộ về cái vi-la của bà ở quận kế bên. Bà cố tình đi bộ, vì bà nghĩ đến chồng. Đối với những gian khổ cùng cực mà chồng bà đã chịu đựng từ bao nhiêu năm nay - theo lời kể lại của ông H - thì sự đi bộ của bà không thấm thía vào đâu hết. Nhưng, khi bà đi bộ, bà tưởng chừng như bà đang chia xẻ một phần nào những khổ dịch của chồng, người tù cải tạo.

Vi-la của bà, bây giờ thấy khác trước. Tường rào đã xây lên cao. Cổng song sắt được gắn thêm lưới sắt ô vuông. Nhìn vào trong không còn tổ gạo, mà sân thì đã được tráng xi-măng lót gạch khía sạch sẽ.

Thấy có bóng người, bà H bấm chuông. Có giọng đàn bà hỏi vọng ra, giọng Bắc:

- Ai đấy?

- Dạ... tôi.

Một bà cỡ tuổi bà H bước ra hất hàm:

- Chị muốn gì?

- Thưa... Tôi muốn tìm ông R. Nhà tôi có viết cho ổng cái thơ...

- Đồng chí R à? Đồng chí ấy đã phục viên lâu rồi. Đồng chí bán nhà cho chúng tôi, xong, dọn hết về thủ đô. Thế... chị là gì của đồng chí ấy?

Bà H choáng váng mày mặt, chỉ còn kịp tỳ người vào trụ cổng để khỏi quị xuống. Tuy nhiên, bà vẫn nghe tiếng mình nói:

- Dạ... Tôi... À... Không!

Rồi câm luôn. Thấy bên ngoài làm thinh, bà người Bắc bỏ đi vào trong, nhưng vẫn nói vói ra:

- Đồng chí R hiện ở đâu, tôi cũng không biết. Thôi, chị về đi!

Phải một lúc lâu sau, bà H mới hoàn hồn. Bà đứng thẳng nhìn vào trong. Bà bỗng thấy bà đã biến thành một người khác. Một người cứng rắn hơn, lì lợm hơn. Một người sẽ dám nhìn thẳng vào mặt kẻ địch mà chửi như bà Năm cháo lòng. Ví dụ có người anh chồng đứng trước mặt bây giờ, bà sẽ xáng cho anh ta một bạt tai – điều mà trước đây bà chẳng bao giờ dám làm dám nghĩ!

Bà H vẫn đứng thẳng, nhìn vào trong. Mắt mở to, ráo hoảnh. Môi mím chặt. Tay bà vò nát cái thơ của chồng viết. Bà vò nó mà bà không hay! Bà chỉ cảm thấy một sự căm thù đang dâng lên làm bà trạo trực. Bà nghe buồn nôn! 

Phải rồi! Bà muốn nôn mửa lên những giả dối gian manh mà bọn chúng nó thằng nào cũng có sẵn trong đầu. Bà muốn nôn mửa lên những lời lẽ giả nhân giả nghĩa mà bọn chúng nó thằng nào cũng có sẵn trên đầu môi chót lưỡi. 

Bà muốn nôn mửa lên những thủ đoạn xảo quyệt được ngụy trang bởi những chiêu bài yêu nước thương dân, có nghĩa có tình... mà bọn chúng nó thằng nào cũng sẵn sàng hành động. Bà muốn... Bà muốn...

Bà H liệng cái thơ nhàu nát xuống đất, phun nước miếng nghe cái phụt một cách khinh bỉ, rồi cúi lượm cái nón lá bỏ rơi khi nãy đội lên đầu, đi thẳng.

Mấy năm sau, ông H vẫn "còn được cải tạo", bà H lâu lâu vẫn lặn lội đi thăm nuôi chồng, hai thằng con lớn vượt biên rồi định cư ở Úc, đứa con gái lấy chồng đánh cá ở Minh Hải, thằng con út cặp với con bạn cùng xóm mở quán cà phê vỉa hè cạnh hàng cháo của bà Năm. Còn bà Năm vẫn bán cháo lòng, lâu lâu vẫn chửi thằng con mà giống như bà chửi Nhà Nước!...

"Trích từ tuyển tập truyện Những Mảnh Vụn - Tiểu Tử"

Tiểu Tử

Giới thiệu tác phẩm mới của nhà văn Tiểu Tử: Chuyện Thuở Giao Thời

Tác phẩm mới "Chuyện Thuở Giao Thời" của nhà văn Tiểu Tử được trình làng vào lúc 13 giờ 30 ngày mùng 3 tháng 1 năm 2015 tại Nhà thờ Choisy, như tên gọi quen thuộc của phần đông Người Việt Nam ở Pháp và Paris, tên chính thức là Eglise Sainte Hippolyte (Salle de la Roulotte), số 27, Avenue de Choisy, 75013 Paris.

Không ai ngờ hình ảnh của buổi chiều mùa Đông Paris hôm ấy lại tuyệt đẹp đến như vậy. Người ta chợt có cảm tưởng như nay là mùa Xuân giá lạnh. Buổi giới thiệu "Chuyện Thuở Giao Thời" của Tiểu Tử được các Hội Ái hữu ở Paris cùng đứng chung tổ chức, như Đại học Sư phạm Sài Gòn, Ái hữu Gia Long Paris, Ái hữu Petrus Ký Pháp, Ái hữu Petrus Ký Âu Châu, Ái hữu Hải Quân-Hàng Hải VNCH, Câu lạc Bộ Văn Hóa Việt Nam Paris, Cộng đồng Người Việt Quốc Gia Tự Do, và Gia đình KH Cao Niên. Phải nói buổi sinh hoạt "chữ nghĩa" hôm ấy được tổ chức bởi một Ban Tổ chức rất hùng hậu. Một việc rất hiếm ở Paris từ khá lâu. Và một điều vô cùng quan trọng nữa, rất đáng ghi nhận như một biến cố đã phá mất đi cái tập quán kiên cố của của bà con ta xưa nay "Không đi trễ, không phải Việt Nam", buổi hôm ấy khai mạc đúng 1giờ 30 như ghi trong Thư Mời. Về mọi liên quan đến buổi giới thiêu tác phẩm của Tiều Tử, Thư mời ghi rõ liên lạc với Nguyễn Thị Mỹ, Phạm Hữu Thành, Trần Thị Thanh Hương. 

Một thành công ngoài mong đợi 

Thời tiết mùa đông, trời mưa, mới mùng 3 Tết, phần lớn bà con còn thiếm xực Tết vì Tết chỉ vừa mới qua, vậy mà phòng Salle de la Roulotte của Nhà thờ Choisy khá rộng mà chật cứng người. Trên trăm người tham dự. Số người đi trễ theo thói quen, mời 1 giờ 30, tới 2 giờ là vừa, phải đứng và đứng cả ngoài hành lang. Nhưng tất cả đều vui vẻ và ở lại cho tới bế mạc. Đây cũng lại là một hiện tượng không bình thường của bà con ta nữa vì, xưa nay, không ít người tới cho có mặt, rồi đi sớm. Người ta hỏi phải chăng vì ngưỡng mộ nhà văn, đã đọc qua các tác phẩm trước như "Những Mảnh Vụn", "Bài Ca Vọng Cổ", "Chị Tư Ù" của Tiểu Tử? Hay vì cảm tình sâu đậm với Ban Tổ chức vì những Hội Ái hữu này có một quá trình sanh hoạt chung với nhau lâu đời ở Paris? Hay vì chương trình Văn nghệ hấp dẫn do nghệ sĩ của "Hội Cao niên" Paris trình diễn? Cừ nhìn tên các Hội, thì Hội nào cũng là Hội của hội viên phải trước 30/04/1975. Tính ra có phải hội viên nào cũng đã ăn lễ Lục tuần rồi nếu không đã qua "Thất thập cổ lai hi"? 

Thật tình phải thừa nhận buổi giới thiệu sách của Tiểu Tử hôm ấy thành công ngoài sự mong đợi. Chính Ban tổ chức đã không dám chủ quan mướn phòng lớn hơn. 

Trước khi bế mạc, nhà thơ Đỗ Bình phát biểu cảm tưởng cũng nhìn nhận buổi lễ hôm ấy thành công ngoạn mục. Theo ông, người có nhiều kinh nghiệm về "Ra mắt sách", đã không dám tổ chức ở Paris, mà phải qua tận Thủ đô Tỵ nạn ở California, Hoa Kỳ, để tổ chức ra mắt sách của ông và Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên. Ông còn nhấn mạnh ở Mỹ, nới có đông đảo người Việt như vậy, mà có khi "Ra mắt sách" có không quá mươi người tham dự. Người ta sợ thất bại nên phải đưa vào tiệm cà-phê tổ chức với nhau! 

Một buổi chiều mùng 3 Tết 

Tất cả mọi người tới tham dự đều cảm thấy hài lòng. Có cả độc giả trẻ đến từ vài quốc gia lân cận của Âu Châu bằng xe nhà. Xin mời bạn đọc xem photo dưới đây để hình dung được không khí đầy ấp tình cảm nồng nàn của mọi người dành cho nhà văn Tiểu Tử. Và đồng thời hưởng ứng Thư mời của Ban Tổ chức. 

Đặc biệt có nhiều diễn giả quen thuộc trong Cộng đồng Người Việt Paris được Ban Tổ chức mời phát biểu về tác giả và tác phẩm. 


Quang cảnh Hội trường buổi giới thiệu sách của Tiểu Tử - ảnh Huỳnh Tâm

Vài hàng về Nhà văn Tiểu Tử 

Nhà văn Tiểu Tử tên thật là Võ Hoài Nam. Từ lâu nay, ông vốn là người bạn thân của đông đảo độc giả, không riêng của người Việt Nam tại Paris, mà cả trên khắp thế giới, cả ở Việt Nam nhờ hệ thống internet. Khi đã đọc qua Tiểu Tử, người đọc thường khó quên văn của ông, nhất là những câu chuyện của ông. Đó là những mẩu chuyện thật trong đời sống của người dân Việt nam sau ngày mất nước. Nó thấm sâu vào tâm tư của mọi độc giả, mãi mãi ở lại với độc giả. Như "Thằng Jean, Con Mén, Made in Việt Nam, Chị Tư Ù, Con Rạch quê mình..." 

Từ đó, có thể khẳng định tên Tiểu Tử được đông đảo bà con người Việt ở khắp nơi quen biết, thân tình hơn là tên của người thật. 

Ông Võ Hoài Nam năm nay hưởng được lộc trời 84 năm. Thọ nhưng chưa tới Thượng Thọ theo thang tuổi Thọ ngày nay. Thượng Thọ phải từ 120 tuổi. Huỳnh Tâm kính chúc ông ung dung hưởng Thượng Thọ. Để viết thêm nhiều chuyện nữa. 

Ông tốt nghiệp kỹ sư Điện ở Marseille và về nước vào giữa thập niên 50. Những năm đầu, ông dạy Lý Hóa ở Trường Petrus Ký. Sau đó làm việc cho hảng xăng Shell. 

Ông viết nhiều và có sách xuất bản từ mươi năm nay, sau khi ông nghỉ hưu. Trước 1975, ở Sài Gòn, ông có viết chuyện biếm cho vài nhật báo bạn. Giờ rảnh, ông học vẽ và ông có khá nhiều tranh. Gần đây, ở Pháp, ông có đem tranh tham dự nhiều triển lãm. Trong giới mê tranh, không ít người yêu tranh của ông. 

Chúng tôi bước vào phòng họp đúng lúc Chương trình vừa bắt đầu. 

Bà Thanh Hương, Chủ Trang Web Đại Học Sư Phạm Sài gòn, thay mặt Ban Tổ chức, vắn tắt tuyên bố khai mạc buổi lễ. 

Dược sĩ Josephe Huỳnh nói tại sao ông không phải nhà văn, không phải nhà xuất bản mà lại nhận in sách "Chuyện Thuở Giao Thời" cho Tiểu Tử. Ông nêu lên ý rất tế nhị và vô cùng đẹp, tuy mới nghe qua như nó không rõ nghĩa lắm "Ông chọn làm việc này mà thật ra không phải chọn lựa". Ông cắt nghĩa "chọn lựa" là làm việc bằng cái đầu. Nhận lãnh làm mà không chọn lựa vì hành động theo con tim của mình. Ông đảm nhận việc in ấn chỉ vì muốn sách của Tiểu Tử phải được phổ biến. Tuy số lượng ít nhưng nó sẽ được lưu lại với thời gian. Một ngày kia, có người bắt được đọc qua, sẽ rung động theo nhịp tim của tác giả, sẽ thấy văn chương của Việt Nam không phải như thứ văn chương của CHXHCN ngày nay ở Việt Nam. 

Tiếp theo, các ông Nguyễn Văn Trần, Từ Thức, Phạm Hữu Thành và Trần Thanh hiệp lần lượt nhận xét và đánh già tác phẩn và văn chương của Tiểu Tử. Ai cũng nhìn nhận văn và truyện của Tiểu Tử rất đặc biệt, nó dành cho Tiểu Tử một chỗ đứng nhứt định trong văn học Việt Nam. Ông viết về đời sống thực tế của Nam kỳ, nhân vật đặc sệt Nam kỳ, khung cảnh xã hội cũng Nam kỳ. Nhất là lời văn hoàn toàn không ảnh hưởng Tự Lực Văn Đoàn, mà không quá Sài gòn, nó như mang hơi hướng một Sơn Nam, một Bình Nguyên Lộc, một Lê Xuyên... 

"...Văn của Tiểu Tử bình dị, mộc mạc của người miền Nam, dù độc giả chai đá tới đâu, khi đọc Tiểu Tử cũng không cầm được nước mắt. Người ta khóc, nhưng sau đó thấy ấm lòng, vì thấy trong xã hội đảo lộn, vẫn còn tình người, vẫn còn đầy thương yêu, vẫn còn nghĩa đồng bào và thấy đời còn đáng sống. Văn chương, trước hết là xúc động. Trong truyện ngắn của tiểu tử, sự xúc động hầu như thường trực" (Từ Thức). 

"...Những truyện ngắn của nhà văn Tiểu Tử hầu hết là những chuyện thật thương tâm, đầy nước mắt của người dân miền Nam sau ngày "cách mạng thành công" với bao cảnh đọa đày, bất công, áp bức... khi đọc truyện Tiểu Tử tôi như sống lại những hình ảnh làng quê của một thuở thanh bình êm ấm, thuở mà người dân còn biết lấy đạo đức, lễ nghĩa để cư xử với nhau... tất cả lại hiện ra rõ ràng trong tâm trí tôi, khiến tôi bồi hồi xúc động. (Phạm Hữu Thành). 

Cụ Trần Thanh Hiệp, một trong những người chủ trương tạp chí Sáng Tạo của thập niên 1950/1960 ở Sài gòn, nguyên Chủ tịch sáng lập Văn Bút Việt-Nam Hải Ngoại, phát biểu: 

"...Những diễn giả vừa phát biểu đã lấy hết suy tư của tôi, mỗi người mỗi ý quá phong phú, riêng tôi muốn đề cập một khung cửa Văn học, sử học và hiện tượng sống qua ngôn ngữ, rung cảm trong một tác phẩm văn học quốc ngữ Việt Nam, từ văn viết đến văn nói... và đọc sách mua sách cũng là một hành động văn học. Hiện nay trên thế giới có 5000 ngôn ngữ, trong tương lai chỉ còn 2500 ngôn ngữ, tôi tin rằng ngôn ngữ Việt Nam vẫn còn tồn tại bởi trong ngôn ngữ Việt có sự tiếp nối và gắn sâu liền cuộc sống như sự trưởng thành của cây Bần, cây Đước bám sâu vào đất..."

Tổng hợp những tác phẩm của Tiểu Tử kể chuyện văn biếm đời, văn biếm trong hội họa về những bối cảnh của quê nhà, sau ngày miền Nam Việt Nam bị Cộng sản cưỡng chiếm. Quả thực lịch sử hiện nay do những người vô danh làm nên cách mạng và văn chương cũng thế. 

Tốp hợp ca KH Cao Niên Paris, Nhạc phẩm 
"Cả Nước Đấu Tranh" của Nhạc sĩ Anh Bằng - ảnh Huỳnh Tâm 

Tác giả "Chuyện Thuở Giao Thời" với với thân hữu 

Trước hết chào quý anh chị em và ban tổ chức đã tạo điều kiện cho tôi được hiện diện nơi đây và sự gặp nhau trong lòng chân thành này, kính xin đa tạ. Thưa quý anh chị em, những gì tôi muốn trình bày ở đây đều đã có những diễn giả trình bày đầy đủ suy tư và cô đọng trong những tác phẩm của tôi. 

Nhân dịp này tôi xin kể chuyện đời của tôi vừa trải qua 84 năm. Tôi bị bệnh tim, sau đó thay "van" động mạch chủ, phải giải phẫu mổ lồng ngực, cũng may tôi qua khỏi bệnh, rời giường bệnh về nhà. Nhớ lại thuở ấu thơ, tôi bật tiếng cười... khi mình còn nhỏ cha mẹ dìu dắt từng bước một, tập đi chập chững, mỗi bước đi cả nhà đều vui mừng, vỗ tay khuyến khích. Và sau 84 năm, tôi cũng bắt đầu tập đi từng bước một như thời thơ ấu, lần này vợ con tôi dìu dắt tập tôi đi từng bước một, cho đến nay đi khá vững và ngồi được lâu, trong ngày giới thiệu sách "Chuyện Thuở Giao Thời". Như vậy tôi đã có hai lần tập đi trong đời, rất lý thú. 

Các bà tranh nhau tới đứng gần tác giả "Chuyện Thuở Giao Thời" chụp hình kỷ niệm ngày vui hôm nay. Rất cảm động. Một buổi chiều mùa Đông mà ấm áp như mùa Xuân. Thật đúng. 

Ban Van Nghệ Hội Cao niên Paris tiếp tục trình diễn tân nhạc, có múa, cả vọng cổ. 

Sau cùng, các bà biết Tiểu Tử biết ca vọng cổ, yêu cầu ông ca cho hội trường nghe một câu mà thôi. 

Hôm nay là lần đầu tiên, từ trước khi mổ tim, ông ngồi suốt bốn giờ liền mà chưa thấy mệt. Bệnh tim thường do ảnh hưởng ngoại cảnh. Tiểu Tử cất tiếng đờn miệng để bắt nhịp vô vọng cổ. Ông ca “Đường về quê ngoại”. Tuy sức còn yếu nhưng ngoại cảnh giúp sức, ông xuống câu cũng mùi tận mạng. 

Cả hội trường, nhất là các bà, ai cũng nhiệt liệt vỗ tay tán thưởng. Muốn yêu cầu ca tiếp câu nữa, nhưng bà con không dám... 

Văn nghệ cho tới bế mạc để trả lại phòng họp vào 17 giờ. 


Hãy xem mức độ “tín nhiệm” của người dân VN đối với đảng CS

  Muốn biết mức độ tín nhiệm của một người hay một dân tộc đối với một cá nhân hay một tập thể, một chính quyền, thì có nhiều cách trắc nghiệm, nhưng đơn giản và chính xác, rõ ràng nhất, là hãy xem cách xưng hô của họ khi nói đến đối tượng “tín nhiệm” kia, thì sẽ thấy ngay. Sự tín nhiệm luôn đi đôi với sự kính trọng, quý mến, và sự quý mến kính trọng lại luôn được bộc lộ qua cách xưng hô cũng như khi đề cập đến đối tượng đó. Như vậy, chúng ta cũng có thể qua cách người dân xưng hô với các nhân vật lãnh đạo CS, và cách nói của họ về đảng cầm quyền này, thì sẽ thấy rõ lòng tin tưởng và sự quý trọng của người dân Việt với CS như thế nào, mà không cần phải “bỏ phiếu tín nhiệm” chia làm nhiều nấc: tín nhiệm cao, tín nhiệm thấp, tín nhiệm vừa, như những người CS thường làm với nhau.

Qua cách dân gọi, dân xưng hô, và dân nói về các cấp lãnh đạo CS, chúng ta thấy gì? Xin loại trừ những trường hợp đảng viên xưng hô, ca ngợi nhau, hay cả khi khóc thương nhau, có thể vì phép xã giao buộc phải làm, phải nói. Nhưng hầu như những việc làm, lời nói đó cũng mang đầy tính “kịch nghệ”, buộc phải làm để được việc, để có lợi. Tôi không nói họ làm giả, nói giả, nhưng cũng giống như người dân Bắc Hàn phải khóc thật to, thật thảm não khi chủ tịch nước của họ chết thì mới... được mua gạo, mua nhu yếu phẩm! Cũng vậy, khi người dân mình ra phường ra xã xin giấy tờ, hay đến những cơ quan công quyền để lo công việc, thì mặt ai cũng hớn hở tươi cười, nói năng nhẹ nhàng khép nép, cả với những thư ký quèn tuổi chỉ đáng con cháu mình, để nó mới giải quyết công việc cho mình, nhất là còn kèm theo bao thư và lời năn nỉ rất “thành khẩn” thì việc mới trót lọt được! Họ phải làm riết thành thói quen, nên giả trá dần thành tập quán, thành tự nhiên, cái tự nhiên của một diễn viên khi khóc cũng như khi cười trong một vở tuồng kịch! Nhưng cũng không hiếm những trường hợp người dân, hơi có máu “ba đá” một chút, thì sẵn sàng chửi cán bộ như chửi chó, thẳng thừng, hằn học, ném những cái nhìn khinh thị cho CA, cán bộ, mà chúng ta dễ bắt gặp ở ngoài đương hay ở công sở! Còn đại đa số người dân bình thường thì ai cũng thấy rất rõ, rất thường xuyên trong khi chuyện vãn, tranh luận, biểu lộ cảm tưởng, bằng miệng hay trên báo chí “lề dân”, những điểm nổi bật sau đây:

1- Không một lãnh đạo nào là không bị dân gọi là thằng hay con, tùy theo giới tính của đối tượng! Đó là cách xưng hô tột cùng của sự miệt thị, theo cách nói năng cư xử của người VN!

2- Ngoài ra còn có những “nhân vật đại danh từ” khác đi kèm những “trạng từ chỉ thể cách”, nặng nề hơn thế: thằng quỷ, bọn quỷ đỏ, satan, quỷ sứ, bọn cướp, quân cướp, thằng điếm, tên vô học, tên bất nhân, bọn mất nhân tính, bọn gian ác, bọn lưu manh, bọn mafia... rồi thêm chữ CS, hay tên riêng của từng đối tượng họ muốn nói đến, ở liền sau!

3- Không một nhân vật chóp bu CS nào không được dân tặng cho một “biệt danh”, “biệt hiệu” như bác lú, đồng chí rận, tên hèn hạ, tên “tượng đái”, tên mặt lợn, quân bán nước, tên xách dép, bưng bô, tên ba ếch (x), y tá chích dạo, xà mâu, tên thiến heo, quân gian tặc, tên dâm tặc, tên hề... được đặt trước hoặc sau tên “cúng cơm” hay chức danh hiện tại của các “đồng chí nhớn”, để trở thành tên gọi mới do dân đặt cho, tùy theo “đặc tính” của mỗi đối tượng, hay tùy hoàn cảnh được nói tới lúc đó, ví dụ Tổng bí lú, Thủ tướng chích dạo, “đồng chí” hoạn lợn ĐM, Phùng tượng đái, Phùng mặt heo, Chủ tịch Tư sâu. Thậm chí vì quá ghét thù về tội bán nước và tham ô, mà dân còn nói kiểu xách mé khinh miệt như “Phành quang Thung” để chỉ bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh, hay “Hồ chính Mo, Hồ Chính Mi” để gọi ông Hồ! Cũng có khi dân gộp nhiều “đặc tính” vào một tên cho rõ ràng và đầy đủ về bản chất của những vị “quan nhớn”này.

4/ Đối với đảng CS, thì dân VN thường gọi là đảng cướp, đảng mafia, bọn vượn người, bọn khỉ đột, loài sâu bọ, loài chuột đục khoét, loài hoang dã, bọn quỷ đỏ...!

Cứ xét cách xưng hô và gán tên như thế, thì hẳn những “đồng chí lãnh đạo” và cả đảng CS không còn một chút uy tín, một sự nể trọng dù nhỏ nhoi nào của người dân, mà đã bị dân miệt thị, khinh khi và thù ghét đến cùng cực! Ở bên Mỹ, tổng thống Obama cũng bị nhiều người không ưa, nhưng rất hiếm họa có người gọi ông bằng “thằng”, còn những từ nặng hơn thì không thấy, nhưng tổng thống Nga Putin thì có thấy được dân chúng khắp nơi gán một số “thuộc từ” kèm theo tên, ví dụ “tên điếm”, “tên gian ác”...! Nhưng quả thật trên thế giới, không thấy có nước nào mà dân chúng lại khinh khi miệt thị giới cầm quyền như đối với các “lãnh đạo” ở VN! Nhiều khi nghe mà dân chúng thấy ngượng ngùng xấu hổ, vì mình là dân của cái nước có những “lãnh đạo” bị khinh khi như vậy!

Tại sao? Vì đâu nên nỗi? “Không có lửa sao có khói”? Có LỬA chứ, mà lại LỬA LỚN bốc cao khiến không một ai không thấy, không một nước nào trên thế giới mà không biết về VN là nước CS chậm tiến, đói nghèo, không có tự do, nhân quyền, chính quyền bán nước, ắt phải có NHIỀU KHÓI, và gây cay mắt cho nhiều người, nhất là người dân trong nước thì bị trào nước mắt và khó thở ngày đêm, vì “khói bụi và ô nhiễm” do CS gây ra!

Các ông bà CS đã làm gì? Cướp của, giết người, phá nát đất nước, thậm chí là đem lãnh thổ, lãnh hải của tổ tiên VN đã xây dựng bằng bao máu xương, mồ hôi nước mắt đi bán cho bọn giặc Tàu, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc VN để mưu cầu danh, lợi, địa vị cá nhân! CS đã đưa dân tộc VN đến lầm than, lạc hậu, thụt lùi hàng trăm năm so với các nước lân cận, từ một nước đứng dầu ở vùng Đông Nam Á, nay sau 40 năm CS, đã trở thành hạng bét về mọi phương diện, và có nguy cơ mất nước nay mai, do những cam kết bí mật tại hội nghị Thành Đô giữa hai đảng CS Tàu và Việt, để sáp nhập VN làm quận huyện của Tàu vào năm 2020, mà Tàu Cộng đã cho lộ tin trên báo chí khiến cả thế giới đều biết! Trên thực tế cũng được chứng minh bằng cách CSVN đang rước quân xâm lăng vào chiếm ngụ từng phần lãnh thổ của VN: vùng thượng du Bắc Việt đã giao nhiều rừng núi cho Tàu, Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc đã trở thành lãnh thổ Tàu, một phần vịnh Bắc Bộ, và Hoàng Sa-Trường Sa Tàu chiếm gần hết, chúng đã thực hiện xong ý đồ là làm quân cảng, phi trường để đổ quân và khống chế biển Đông mà VN không động thủ! Trong khi với VNCH chỉ cần thấy bóng quân Tàu xuất hiện năm 1974, là Quân Đội miền Nam đã nổ súng khai chiến để tự vệ và để xác nhận chủ quyền biển đảo. Ngày 19 tháng 1 năm 1974, 74 người lính VNCH đã bỏ mình ngoài biển khơi vì bảo vệ non sông! Năm nay cũng ngày 19 tháng 1 vừa qua, một số người dân làm lễ tưởng niệm những anh hùng tử sĩ đã hiến thân cho Tổ Quốc, thì bị chính cầm quyền Hà Nội cho đầu gấu, công an giả thường dân đến giằng xé và dẫm đạp lên vòng hoa tưởng niệm các chiến sĩ trận vong, để xác định nhà cầm quyền này là tay sai của giặc Tàu, và nói lên sự tự nguyện làm cu li, nô lệ cho giặc để chống lại đất nước, chống lại người dân! Vùng Tây Nguyên quân Tàu đã chiếm làm cứ địa mà ngay cả nhà cầm quyền VN còn không được vào! Như vậy đã quá rõ mặt bọn giặc là các người, hỡi CSVN!

Không thể còn sự trơ trẻn nào hơn nữa, khi cả băng lãnh đạo CS đã lũ lượt qua Tàu nhận lệnh, và về nước thì trấn áp người dân yêu nước chống xâm lược, như nhà báo Điếu Cày, Ls Cù Huy Hà Vũ, như LS Lê Quốc Quân, LS Nguyễn Văn Đài, Phạm Thanh Nghiên, Mẹ Nấm, nhất là chị Bùi Hằng, em Phương Uyên, các thanh niên, sinh viên Công Giáo ở Vinh, và còn rất nhiều tù nhân lương tâm khác đang bị hành hạ trong nhà tù CS trên khắp nước! Chối cãi làm sao được, mà các người còn cố lòe bịp dân? Càng dẻo miệng tuyên truyền, các người càng xác minh tội ác của mình: phản quốc, hại dân, gian ác, lừa đảo! Tội của các người trời không thể dung, đất không thể tha, người dân Việt thâm thù CS đến ngàn đời, vì hậu quả tội ác của các người đã gây ra: bán nước, diệt dân!

Không cần bỏ phiếu tín nhiệm, không cần trưng cầu dân ý, chỉ nhìn vào cách người dân xưng hô với cán bộ các người, nhìn vào những bài viết “chúng tôi muốn biết”, hay “chúng tôi không thích, không ưa CS” mà hàng ngày người dân “gửi thư ngỏ” cho các người, ngập tràn trên các trang mạng, thì biết rõ lòng dân đã căm hận nòi CS các người như thế nào rồi! Nhiều nơi hàng ngàn dân đã cùng đứng lên chống lại bọn cai trị ở địa phương để giữ nhà, giữ đất như ở Hà Nội, Nghệ An, Hà Tĩnh, Ninh Thuận, miền Tây! Có giết dân cũng không thể triệt hết được dân, người này ngã xuống sẽ có nhiều người khác đứng lên! Lấy oán báo oán thì oán chồng chất; lấy giết chóc, bách hại mà đối với dân, thì tội trạng của các người sẽ thành rừng cây khô, thành biển xăng dầu để đốt cháy, thiêu rụi các người mà thôi!

Chỉ còn một con đường thoát cho các người, là từ bỏ chủ nghĩa CS bất nhân, từ bỏ lòng tham vô độ của các người, trả lại quyền sống, quyền quyết định vận mệnh đất nước cho người dân, để dân tự quyết về sinh mệnh của họ, và vận mệnh của đất nước, để giảm độ nóng của lòng dân, thì các người mới có cơ hội tồn tại mà hưởng những của cải đã thu cướp được. Hãy khôn ngoan như những nhà lãnh đạo Miến Điện mà biết ký thác sinh mệnh của các người cho những người yêu nước, được lòng dân, hầu họ bảo đảm sự sống cho các người, với điều kiện các người phải từ bỏ việc độc quyền cai trị đất nước! Hãy nghe cổ nhân dạy: tham thì thâm, đừng già néo đứt dây, như Gaddafi chui vào cống rồi, thì khi ra sẽ chỉ còn là cái xác không hồn bê bết máu của chính mình! Hãy bình tâm mà nhìn lại cách hành xử của đảng CS các người với đồng chí của mình đi: một thượng tướng CA đầy quyền uy Phạm Quý Ngọ chết không kịp ngáp, một lãnh đạo “ban Nội chính TƯ chống tham nhũng” Nguyễn Bá Thanh, đang hung hăng “hốt hết” rồi bỗng tay trắng và lòng đầy uất hận, phải leo lên chuyến tàu suốt về bên kia thế giới không kịp chào biệt ai, và vừa hôm qua, một Nguyễn Hữu Thắng “lãnh đạo đường sắt” ngồi chết trên bàn làm việc mà không kịp trối trăn với vợ con được một lời, giữa “thủ đô” Hà Nội đầy an ninh với bảo vệ! Ai trong các người dám quả quyết sẽ không rơi vào những trường hợp ấy, một khi đã “tứ bề thọ địch”? Trông người mà nghĩ đến ta, Ngọ, Thanh, Thắng…, có ai nghĩ rằng mình sẽ như vậy không? Do Trời cả thôi, gieo nhân nào thì gặt quả ấy, gieo gió thì gặt bão, tất cả là luật vay trả của Đấng Tối Cao đầy quyền năng và chí công, chẳng một ai thoát được, và Ngài sẽ là người thay ý dân để trị tội kẻ gian ác!

Năm mới, các người hãy có “tư duy mới”, sao cho kịp vì đã quá trễ, thời gian không đợi ai đâu! Giữa CS Tàu hung bạo bất nhân, và tuyệt đối không tin dùng các người khi nó đã nắm được cái hèn yếu, bất trung của các người, với người dân có lòng nhân ái và rộng lượng, hãy chọn một! Nếu là người khôn ngoan và biết lo thân, thì mỗi cán bộ hãy nhìn thẳng vào “mức độ tín nhiệm” của dân, để thấy rõ số phận của mình, mà chuẩn bị cho tương lai của mình và thân nhân, con cháu mình! Trời kêu kẻ nào thì kẻ ấy phải dạ, không trì hoãn hay trốn tránh được đâu, không tin thì hỏi Quý Ngọ, Bá Thanh đi sẽ rõ! Ai mà chẳng phải ăn uống, đi lại, chẳng lẽ các người tự chui vào hộp đóng nắp niêm phong mà sống? Nếu cứ để tự nhiên thì hầu như đại đa số các người cũng đã tự mình bước đến gần cửa mồ rồi! Ở cái tuổi 60, 70 cuộc đời như bóng câu cửa sổ, như cái bóng đã ngả về chiều, mà có trẻ trung khỏe mạnh thì một cơn gió ác được ông Trời gửi “tặng” cho, thì cũng không còn có sức để sài được những của tiền hàng núi đã phải dày công thu tích cả đời! Hãy xem hiện tại: toàn thể các vị cũng đang đau đầu nhức óc, ăn không ngon, ngủ không yên, nhìn đâu cũng thấy địch thù chặn lối, còn gì là an lành hạnh phúc nữa? Những đồng tiền bất nhân, bất chính nó sẽ tự “đội nón ra đi”, và còn gieo họa cho kẻ đã cướp chiếm nó từ tay người khác một cách bất công vô đạo!

Thôi, dân nói ít, “lãnh đạo” hiểu nhiều, ai có thân người ấy tự lo, không ai cứu được mình, kể cả vợ con, thân nhân, đồng chí của mình; quyền uy và tiền của cũng không đổi được mạng sống và sự bình an cho mình cũng như cho gia đình, nếu cái đức đã cạn, cái tội thì chất chồng! Nguyễn Bá Thanh là tấm gương lớn cần soi chung


Tù nhân lương tâm Đinh Nguyên Kha, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Trần Vũ Anh Bình tiếp tục tuyệt thực

TNLT Đặng Xuân Diệu bệnh nặng không được chữa trị 

Sáng ngày 24.01.2015 bà Nguyễn Thị Kim Liên, mẹ của TNLT Đinh Nguyên Kha đã cùng một số anh chị em đi thăm Đinh Nguyên Kha tại trại tù Xuyên Mộc (Tổng cục 8 - BCA) thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Mặc dù bà Liên đã có thông tin Kha và 3 anh em TNLT khác đã tuyệt thực trước đó 5 ngày, nhưng gia đình chưa đến hạn thăm gặp nên không thể vào thăm sớm hơn.

Khi vào cổng trại những bà Liên và những người cùng đi đã bị cán bộ trại giam không cho vào thăm và đuổi ra xa trại giam gần cả cây số.

Sau khi tranh đấu để được gặp Đinh Nguyên Kha thì Kha cho gia đình biết là có tất cả 4 TNLT tuyệt thực. Tính đến ngày 24 tháng 1 thì đã tuyệt thực 10 ngày.

Những người đang tuyệt thực gồm có: Đinh Nguyên Kha, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng (Lao Động Việt), Trần Vũ Anh Bình (Tuổi trẻ yêu nước) Đặng Xuân Diệu (14 thanh niên yêu nước).

Bà Kim Liên cho biết nguyên nhân 4 tù nhân lương tâm tuyệt thực là để phản đối chính sách hà khắc giam riêng và phân biệt đối xử với tù nhân bất đồng chính kiến. Đây không phải là lần đầu tiên mà các trại tù cộng sản VN áp dụng nhằm để khủng bố tinh thần tù nhân với mục đích bắt các tù nhân lương tâm phải nhận là có tội!

Trường hợp đặc biệt của TNLT Đặng Xuân Diệu cũng mới bị chuyển trại từ phía bắc vào cách đây không lâu, phải xa nhà trên ngàn cây số, gia đình nghèo nên việc đi thăm nuôi gặp rất nhiều khó khăn! Hiện nay anh Đặng Xuân Diệu bị bệnh rất nặng, nhưng CA trại giam Xuyên Mộc không cho đi khám điều trị, chỉ vì anh Diệu không nhận là mình có tội.


Cái chết của Cục trưởng Đường Sắt Nguyễn Hữu Thắng

- Ông Nguyễn Hữu Thắng treo cổ chết trong phòng làm việc. Đó là thông tin sơ khởi từ báo chí. Tại hiện trường công an cho biết tìm thấy được một sợi dây lõi đồng bọc nhựa màu trắng.

Những thông tin của báo lề đảng về cái chết của ông Nguyễn Hữu Thắng cho thấy có nhiều nghi vấn. Tuổi trẻ Online viết rằng "Qua khám nghiệm hiện trường, cơ quan công an thu được một dây nhựa màu trắng bọc hai lõi đồng ở khu vực phòng làm việc của ông Thắng. Những dấu hiệu này cho thấy nhiều khả năng ông Thắng tự vẫn bằng cách thắt cổ." (1) và PLO chạy tít "Nghi vấn Cục trưởng Đường sắt Việt Nam tự sát" (2).

Nghi vấn đặt ra là nếu một người thắt cổ tự tử thì rất đơn giản là khung cảnh tại hiện trường phải là một người đang thắt cổ chết. Không thể nào có cái gọi là thu được một sợi dây nhựa ở khu vực phòng làm việc! 

Do đó, câu hỏi được đặt ra là vì sao ông Thắng chết? Tại sao lại có kiểu thông tin "cơ quan công an thu được một dây nhựa màu trắng bọc hai lõi đồng ở khu vực phòng làm việc của ông Thắng" để  tạo ấn tượng (vô lý) về nguyên nhân cái chết?

Chính vì sự vô lý này nên mới dẫn đến kiểu thông tin nửa vời như "được phát hiện chết trong tư thế treo cổ tại phòng làm việc." (2) thay vì nói rõ - "ông Thắng treo cổ tự tử".

Theo truyền thông lề đảng, ông Thắng được phát hiện chết bởi nhân viên vệ sinh vào tối 22 tháng 1. Từ Bộ trưởng, các Thứ trưởng Bộ GTVT và các quan chức Cục Đường sắt Việt Nam đã có mặt tại hiện trường sau khi nghe tin và Bộ GTVT sau đó ra thông báo trong thời gian gần đây ông Thắng không thể hiện vấn đề gì bất thường. Điều này ngược lại với một số nguồn tin từ đồng nghiệp là ông Nguyễn Hữu Thắng có vấn đề sức khỏe và có dấu hiệu bị trầm cảm thời gian gần đây (3)

Tuy nhiên, vào tháng 5 năm ngoái đích thân Bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng đã công khai phê bình ông Nguyễn Hữu Thắng về việc ông Thắng đã có những Phát ngôn không đúng và thiếu trách nhiệm về dự án đường sắt đô thị Cát Linh- Hà Đông.

Dự án này đã có những chậm trễ trong giải phóng mặt bằng, kéo dài thời gian thi công, làm tăng tổng mức đầu tư, đội giá hơn 300 triệu USD (từ 552 triệu USD lên tới 891 triệu USD, tăng 339 triệu USD) và Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã có văn bản yêu cầu Bộ GTVT, UBND TP Hà Nội kiểm điểm nguyên nhân, làm rõ trách nhiệm.

Sau đó, vào ngày 25-4 ông Thăng đã ký Quyết định số 1552/QĐ-BGTVT về việc tạm đình chỉ chức Cục trưởng Cục Đường sắt Việt Nam đối với ông Nguyễn Hữu Thắng.

Ông Nguyễn Hữu Thắng sinh ngày 1/5/1955, quê tại xã Điện Hồng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông được bổ nhiệm giữ chức Cục trưởng đường sắt Việt Nam vào tháng 6/2010 và dự trù nghỉ hưu trong năm 2015.





_________________________________________

Chú thích:



Powered By Blogger