“Con ạ, đừng bao giờ chơi với tụi cộng sản. Chúng nó bạc như vôi!“
2012 Lê Diễn Đức – RFA Blog
Tôi nhớ mãi lời ông Chu Đình Xương, người bác trong
gia đình tôi bên ngoại, Giám đốc Sở Liêm phóng Bắc Bộ (Sở Công An) đầu
tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, người đã trực tiếp chỉ đạo kế hoạch
bảo vệ lãnh tụ và các thành viên Chính phủ trong cuộc mít tinh và lễ đài
nơi Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 trên quảng trường
Ba Đình:[COLOR="#FF0000"] “Con ạ, đừng bao giờ chơi với tụi cộng sản.
Chúng nó bạc như vôi!“.
***
Nhân dịp 23 năm tưởng nhớ Thảm sát Thiên An Môn (4/6/1989 – 4/6/2012)
Thiên An Môn đêm ngày 3 sang ngày 4/6/1989 – Ảnh: Tư Liệu
Đêm ngày 3 rạng ngày 4/6/1989, một cuộc thảm sát đã xảy ra làm kinh hoàng cả thế giới.
Cuộc biểu tình đòi cải cách chính trị, đòi dân chủ của hàng chục ngàn
sinh viên trên quảng trường Thiên An Môn đã bị nhà cầm quyền cộng sản
Trung Quốc (TQ) nghiền nát bằng súng đạn và xe tăng.
Vì quyền lợi kinh tế, thảm kịch Thiên An Môn dù khó làm mờ nhạt, những
chính khách quan trọng vẫn thường tránh né hoặc làm ngơ trong các đối
thoại với Bắc Kinh.
Thiên An Môn 1989 vẫn là đề tài cấm kỵ tại TQ. Đến ngày hôm nay vẫn còn
nhiều sinh viên nằm tù. Con số người chết vẫn chưa được xác định cụ thể
và có lẽ chẳng bao giờ chúng ta biết được. Theo nhiều nguồn tin thì
khoảng 5 ngàn người chết, gấp đôi từng ấy bị thương và 2,5 ngàn án tử
hình [1]. Những người mẹ mất con vẫn bị cấm tụ họp, dù chỉ để làm lễ cầu
nguyện chung. Nơi duy nhất trên Hoa lục hàng năm dân chúng được đốt nến
tưởng niệm là Hongkong.
Nhà nước Trung Nam hải vẫn chưa đưa ra đánh giá chính thức về sự kiện
mùa xuân 1989. Tân Hoa Xã lúc bấy giờ viết rằng, đây là một cuộc bạo
loạn của những phần tử phản cách mạng nhằm lật đổ chế độ xã hội chủ
nghĩa.
Số phận bi thảm của hai nhà cải cách
Không biết mọi người còn nhớ rằng, lần đầu tiên
sinh viên đổ ra quảng trường Thiên An Môn chính là để tưởng niệm cái
chết của một người cộng sản?
Người đó là Hồ Diệu Bang.
Từ trái qua: Hồ Diệu Bang, Đặng Tiểu Bình, Triệu Tử Dương, Lý Tiên Niệm, vợ Chu Ân Lai, Bành Chân (1987) – Ảnh: Tư liệu
Hồ Diệu Bang đã từng phải chịu tủi nhục, bị khủng bố, thậm chí suýt chết
bởi chính tay những đồng chí của mình. Năm 19 tuổi ông có nguy cơ bị
chém đầu khi Mao Trạch Đông bị gạt ra khỏi quyền lực (1931-1934). Cuối
cùng ông được Đàm Dư Bảo cứu mạng nhưng bị giám hộ suốt thời gian Vạn Lý
Trường chinh.
Thời kỳ chiến đấu với Quốc dân đảng ông bị thương nặng nằm chờ chết, may mắn được nhóm binh sĩ của người bạn đi ngang cứu sống.
Sau Vạn lý Trường chinh, nhận nhiệm vụ mở hành lang với Liên Xô, ông bị
Mã Gia Quân bắt làm tù binh, không bị giết nhưng bị bắt đi lao động khổ
sai.
Trong giai đoạn 1952-1966, Hồ Diệu Bang làm Bí thư Trung ương đoàn Thanh
niên Cộng sản. Ông giữ khoảng cách với Mao và ngả theo Đặng Tiểu Bình,
người dám phê phán “Người Cầm Lái Vĩ Đại” về kế hoạch “Đại Nhảy Vọt”, để
rồi cả hai bị Mao trù dập, làm nhục trong cuộc “Cách mạng Văn Hoá” vào
năm 1966.
Sau khi Mao chết, năm 1979 ông ủng hộ Đặng tiến hành cải cách. Năm 1980,
với cương vị Tổng Bí thư, ông phục hồi danh dự cho hàng ngàn nạn nhân
của Mao trong “Cách mạng Văn hoá”. Ông cũng hạn chế vai trò ý thức hệ
cộng sản trong đời sống hàng ngày và nới lỏng tự do. Ông đã phê phán
chính sách về Tây Tạng bấy giờ và mời Dalai-lama trở về, nhưng Đức
Dalai-lama đã không tận dụng cơ hội ấy.
Trong năm 1984, ông nói rằng “Chủ nghĩa Marx-Lenin không giải quyết được
các vấn đề của Trung Quốc”. Ông ngợi khen chủ nghĩa tư bản và cho rằng,
trong viễn cảnh, không có nó Trung Quốc sẽ không tiến bộ được.
Chính nhờ Hồ Diệu Bang mà Trung Quốc đã gặt hái những thành quả đầu tiên
từ các vùng đặc khu kinh tế, những nơi cuốn hút đầu tư nước ngoài.
Đến năm 1986, những cuộc biểu tình đầu tiên của sinh viên nổ ra, phe bảo
thủ khuyến cáo cuộc cải cách đi quá xa. Đặng lập tức biến Hồ Diệu Bang
thành vật tế thần. Từ 1987 ông bị loại khỏi các chức vụ cao cấp.
Thế nhưng những hạt giống do ông gieo trồng tiếp tục nảy nở thành hoa trái trong suốt mấy chục năm qua.
Ông chết ngày 15/04/1989 vì bệnh tim. Nhà cầm quyền cộng sản đã định làm
ngơ không tổ chức tang lễ. Ngay trong hai ngày 17-18/04, đám đông ủng
hộ ông đã xuống đường với những biểu ngữ: “Một con người lương thiện và
trung thực đã chết, còn bọn đạo đức giả và phát xít vẫn sống”.
Ngày 19/04, khoảng 10 ngàn người, chủ yếu là sinh viên đã làm tê liệt
Ban chấp hành Trung ương Đảng. Họ hô vang khẩu hiệu: “Đả đảo chế độ độc
tài”, “Chính quyền pháp trị muôn năm!”. Để làm dịu cơn phẫn nộ của quần
chúng, nhà cầm quyền đành chấp nhận tổ chức tang lễ cấp nhà nước.
Ngày 21/04/1989, gần 100 ngàn người đổ ra quang trường Thiên An Môn. Đây
là cuộc phản kháng chống lại chế độ, đòi cải cách và dân chủ lớn nhất
kể từ ngày nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời. Người ta liên hệ nó
với buổi lễ của Giáo Hoàng John Paul II trên quảng trường Chiến Thắng,
thủ đô Warsaw, Ba Lan trong ngày 2/06/1979 – một bước ngoặt mang tính
quyết định, thức tỉnh lòng tin và sức mạnh của người Ba Lan đoàn kết bên
nhau tranh đấu lật đổ chế độ cộng sản 10 năm sau đó, tức là vào đúng
thời điểm này của Trung Quốc.
Nhìn thấy những gì đã và đang biến chuyển ở Ba Lan, những tên phát xít ở
Bắc Kinh, đúng như sinh viên Trung Quốc gọi, đã nghiền nát đồng bào
mình dưới xích sắt xe tăng trong đêm mồng 3 sang sáng 4/06/1989
Người thứ hai là Triệu Tử Dương.
Đặng Tiểu Bình và Triệu Tử Dương tại Đại hội ĐCSTQ 13, 21/10/1987 – Ảnh: Tư liệu
Ông Triệu đã giữ chức Thủ tướng Quốc vụ viện từ năm 1980 tới 1987 và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc từ năm 1987 tới 1989.
Triệu Tử Dương là con trai một địa chủ giàu có ở tỉnh Hà Nam. Ông gia
nhập Liên đoàn Thanh niên Cộng sản năm 1932. Cha ông đã bị các thành
viên của đảng cộng sản giết hại cuối thập niên 1940.
Từ năm 1951 ông đưa ra nhiều sáng kiến cải cách nông nghiệp tại Quảng
Đông. Năm 1962, ông thực hiện giải tán hệ thống hợp tác xã, trả lại đất
cho nông dân theo hình thức khoán. Ông cũng trừng phạt các cán bộ bị
buộc tội tham nhũng. Năm 1965 ông được cử làm Bí thư Đảng tỉnh Quảng
Đông, dù không phải là uỷ viên Trung ương.
Cũng giống số phận của Hồ Diệu Bang, do ủng hộ cải cách của Lưu Thiếu
Kỳ, ông bị cách chức Bí thư đảng Quảng Đông năm 1967. Trong cuộc Cách
mạng Văn hoá, ông thoát khỏi ám sát nhiều lần, sau đó bị bắt và bêu nhục
trên đường phố.
Triệu Tử Dương được Chu Ân Lai khôi phục tư cách chính trị năm 1973, rồi
chỉ định vào Uỷ ban Trung ương, làm Bí thư thứ nhất tỉnh Phú Xuyên năm
1975. Với những cải cách của ông, sản xuất công nghiệp tăng 81% và nông
nghiệp tăng 25% trong vòng ba năm. Đặng Tiểu Bình đã lấy mô hình Tứ
Xuyên cho toàn cuộc cải cách kinh tế. Triệu Tử Dương được bầu làm Uỷ
viên dự khuyết Bộ chính trị năm 1977, Uỷ viên chính thức năm 1979 và Uỷ
viên Thường vụ Bộ Chính Trị năm 1982. Triệu Tử Dương ủng hộ chính sách
đối ngoại mở, có quan hệ tốt với phương Tây.
Tháng 1 năm 1987, Đặng Tiểu Bình buộc Hồ Diệu Bang từ chức vì quá khoan
dung với những sinh viên phản kháng. Triệu Tử Dương lên thay thế, còn
ghế Thủ tướng của ông nhường lại cho Lý Bằng, một nhân vật bảo thủ cứng
rắn.
Trong Đại hội Đảng năm 1987 Triệu Tử Dương tuyên bố Trung Quốc cần thử
nghiệm nhiều thành phần kinh tế nhằm kích thích sản xuất, tách biệt vai
trò của Đảng và Nhà nước, một đề xuất từ đó đã trở thành chủ đề cấm kỵ.
Theo các nhà quan sát phương Tây, hai năm làm Tổng bí thư của Triệu Tử
Dương là thời gian mở cửa nhất trong lịch sử Trung Quốc hiện đại, nhiều
hạn chế về tự do ngôn luận và tự do báo chí đã được nới lỏng, cho phép
giới trí thức tự do đề xuất các cải thiện cho đất nước.
Triệu Tử Dương luôn phải đối đầu với tình trạng tham nhũng của các quan
chức và thành viên gia đình họ, cũng như phái bảo thủ đứng đầu là Lý
Bằng trong chính sách kinh tế và tài chính. Từ năm 1989, khó khăn với
ông ngày càng lớn, tới mức sinh mệnh chính trị bị đe doạ.
Và rồi cái gì đến sẽ phải đến. Sau khi Đặng Tiểu Bình ra quyết định dùng
bạo lực đàn áp sinh viên nếu như họ không rút lui, từ cuộc họp ông được
Ôn Gia Bảo, lúc bấy giờ là Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, tháp tùng,
đi thẳng ra quảng trường Thiên An Môn nói chuyện với sinh viên, kêu gọi
họ thôi tuyệt thực và đàm phán với chính phủ. Ông không thể tiết lộ kế
hoạch của đảng mà chỉ dám nói một cách bóng gió: “… Các bạn còn trẻ, các
bạn dễ dàng từ bỏ mạng sống như vậy sao?”.
Hành động đến với sinh viên chứng tỏ tình người và khí phách can đảm
của một nhà cải cách, lúc ấy đang ở vị trí cao nhất trong Đảng. Không ai
hiểu nỗi lòng của ông. Và ông đã không cứu được thảm kịch trong đêm
ngày 3 qua 4/06/1979.
Là anh hùng của quần chúng trong chế độ cộng sản cũng có thể trở thành
kẻ tự sát, kẻ thù của đảng. Chính vì ủng hộ sinh viên, ông bị buộc từ
chức Tổng bí thư và bị giam lỏng tại gia cho đến lúc qua đời, ngày
17/01/2005.
Đảng Cộng sản (ĐCS) TQ bằng mọi cách nhấn chìm cái chết của ông vào im
lặng, ngăn chặn tất cả các buổi lễ bày tỏ sự đau buồn của dân chúng, có
lẽ vì sợ tái lập một màn kịch Thiên An Môn mới tương tự như với người
tiền nhiệm Hồ Diệu Bang.
Tân Hoa Xã chỉ thông báo vắn tắt “Triệu Tử Dương đã mất ở tuổi 85″ ở
phần tin tiếng Anh, còn phần tiếng Trung Quốc viết “Đồng chí Triệu Tử
Dương đã ra đi”, không hề nói tới bất kỳ chức vụ nào mà ông đã giữ.
Trong khi đó, ngày 21/01/2005, tại công viên Victoria, Hngkong, 10.000
-15.000 người đã tham dự buổi lễ đốt nến tưởng niệm ông. Những buổi lễ
khác được tổ chức trên khắp thế giới, đáng chú ý nhất là tại New York và
Washington DC, với sự tham gia của các quan chức chính phủ Mỹ và những
người bất đồng chính kiến.
Trong năm 2005, ĐCSTQ đã làm vài động tác, có vẻ như hé mở cánh cửa phục
hồi danh dự cho hai nhà cải cách Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương, nhưng
với tình hình xã hội còn nhiều nan đề, mọi dự định lại phải cất vào tủ
khoá kỹ.
Mặc dù vươn tới tiềm lực kinh tế hàng đầu thế giới, TQ vẫn đang là quốc
gia mất cân bằng rất lớn. Chỉ số Gini, tức chỉ số chênh lệch giàu nghèo,
của TQ rất cao, cao hơn Mỹ và nhiều nước tư bản khác. Chỉ số bất ổn xã
hội của TQ là 0,5 vượt giới hạn nguy hiểm là 0,4. Trong năm 2008 người
ta ghi nhận hơn 90 ngàn vụ bạo loạn, bãi công, biểu tình.
Nhà cải cách Đặng Tiểu Bình đã nói: “Mục đích của xã hội chủ nghĩa là
đảm bảo sự thịnh vượng cho dân tộc chứ không phải phân rẽ xã hội dưới
quan điểm vật chất. (…) Nếu xuất hiện một giai cấp tư sản mới thì có
nghĩa rằng chúng ta đã đi vào ngõ cụt”.
Vậy mà chưa bao giờ một bộ phận lớn người Trung Hoa lục địa giàu có như
ngày nay. Chế độ “ta zi dang” (Thái tử đảng – con ông cháu cha) của TQ,
vượt qua cả nước Nga thời Boris Jeltsin, tạo nên vô số tư bản đỏ trong
nhiều ngành kinh tế. Theo thăm dò của tạp chí Fobers, 90% triệu phú của
TQ thuộc giới “ta zidang“.
Chương trình “xã hội hài hoà” của Hồ Cẩm Đào cũng không mang lại kết
quả gì đáng kể. Trong tình hình này, vinh danh hai nhà cải cách Hồ Diệu
Bang và Triệu Tử Dương đồng nghĩa với thừa nhận đảng sai lầm, ăn cháo đá
bát, phản bội lại đồng chí của mình. Điều này có nghĩa rằng Bắc Kinh sẽ
châm lửa vào những thùng thuốc súng.
Kết luận
Việt Nam hôm nay chỉ là một bản sao chép thu nhỏ của Trung Quốc. Những
nhà cải cách đi trước, vượt rào của VN cũng đã phải chịu đựng ê chề, cay
đắng trong bất công và đểu cáng.
Hai ví dụ điển hình gần nhất cái gọi là “đổi mới”: ông Trần Xuân Bách và ông Kim Ngọc.
Ông Trần Xuân Bách (1924 – 2006), cựu ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung
ương ĐCSVN người có chủ trương cải cách theo xu hướng xã hội đa nguyên
vào giai đoạn của trào lưu cải tổ ở Liên Xô do Gorbachev đưa ra. Ông đã
bị ĐCSVN chỉ trích gay gắt, bị loại ra khỏi Bộ Chính Trị năm 1990 và
sống những này cuối của cuộc đời trong sự cô đơn và túng thiếu.
Ông Kim Ngọc (1917-1979), là cựu Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Phú, người được
mệnh danh là “cha đẻ của khoán hộ”, “cha đẻ của đổi mới trong nông
nghiệp” ở VN. Tư tưởng khoán hộ của ông cũng đã bị phê phán nặng nề,
buộc ông phải từ chức vào năm 1977.
Đại hội VI của ĐCSVN vào năm 1986 quyết định thực hiện “đổi mới” để đưa
VN ra khỏi bờ vực của khủng hoảnh kinh tế, trong đó phương pháp khoán hộ
của ông Kim Ngọc được áp dụng cho nông nghiệp trên cả nước. Ông Kim
Ngọc đước tôn vinh, thậm chí được truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh.
Thế nhưng, sự tôn vinh nào cũng không thể bù đắp được những tổn thất to
lớn, những đày đọa về tinh thần, cũng như cuộc sống vật chất khốn khổ mà
họ và gia đình đã phải trải qua. Người chết không bao giờ sống lại!
Sự ấu trĩ, bảo thủ đến ngu xuẩn của tập đoàn lãnh đạo ĐCSVN đã dẫn đến
hành động tàn nhẫn và tạo nên những bi kịch lịch sử của dân tộc.
Và trớ trêu thay, còn nhiều ác nhân và đồng đảng
vẫn đang sống ngông nghênh, chảnh choẹ, phè phỡn nhìn con cháu mình
(những thành phần “ta zidang”) hưởng thụ thành quả mà những người khởi
xướng, đi trước bất hạnh ấy đã ươm trồng và bị chính bàn tay của chúng
đày đoạ.
Tôi nhớ mãi lời ông Chu Đình Xương, người bác trong gia đình tôi bên
ngoại, Giám đốc Sở Liêm phóng Bắc Bộ (Sở Công An) đầu tiên của Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà, người đã trực tiếp chỉ đạo kế hoạch bảo vệ lãnh tụ và
các thành viên Chính phủ trong cuộc mít tinh và lễ đài nơi Hồ Chí Minh
đọc bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 trên quảng trường Ba Đình: “Con ạ,
đừng bao giờ chơi với tụi cộng sản. Chúng nó bạc như vôi!“.■
© 2012 Lê Diễn Đức – RFA Blog
http://gianhlaiquehuongvietnam.wordp...-thanh-ke-thu/
0 comments:
Post a Comment