Nén hương lòng kính dâng Ngô chí sĩ
Giọt lệ này thương tiế́c đấ́ng Minh Quân
NQ
Thành quả hỗ tương: Ấn Quang-Cộng sản
Người ta có thể tóm lược rất nhiều thành quả trong cuốn sách của cộng sản Việt Nam công nhận cuộc đấu tranh của phật giáo từ 1963 làm thành quả của “đảng ta”. Ví dụ, cuốn “Phong Trào Tranh Đấu Chống Mỹ Của Giáo Chức, Học Sinh, Sinh Viên Sài Gòn” của Hồ Hữu Nhật do nhà xuất bản “thành phố Hồ Chí Minh" phát hành năm 1984:
“Dưới trào Ngô Đình Diệm:
“Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất có hậu thuẫn vững chắc của nhiều tổ chức: Gia đình Phật tử, Sinh viên Phật tử, Học sinh Phật tử, Thanh niên Phật tử. Năm 1962 gia đình Phật tử tập hợp được 200 trăm ngàn người, năm 1964 có 400 ngàn . Đảng đã có cơ sở trong các tổ chức đó. Các chùa, trường Bồ Đề, Viện Hóa Đạo, trở thành trung tâm đấu tranh và phát xuất những cuộc mít tinh biểu tình chống ngụy quyền (trang 88-89)”.
“Sau khi Diệm đổ:
“Cuộc đấu tranh chính trị sôi sục và quyền chủ động phần nào trong tay Phật giáo, nhưng đảng ta đã chỉ đạo cơ sở kịp thời tham gia hỗ trợ, nâng khí thế phong trào lên với qui mô toàn quốc (trang 98)”.
“Ngoài ra ta cũng nắm được ban chấp hành Tổng Hội Sinh Viên Vạn Hạnh (nhiệm khóa 1966-1967). Chủ tịch Hoàng Tiến Dũng, Tổng thư ký Phan Long Côn, một trung tâm công khai, có uy tín trong sinh viên Phật tử và đồng bào Phật tử cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.
Đối với tổ chức cấp cao nhất của Phật giáo, đảng ta đã mời Hòa thượng Thích Thiện Hoa ra tranh cử và Hòa thượng đã đắc cử Viện trưởng Viện Hóa Đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (trang 106).
“Đây, kết quả 13 năm viện trợ Mỹ !”,
“Nhân Lễ Phật đản 5.5.1966, tại Viện Hóa Đạo, học sinh, sinh viên cắm một băng giấy trên chiếc xe Mỹ bị họ đốt cháy:
“Mạng người Việt Nam không thể đổi bằng đô la và bom đạn Mỹ - Rút ngay quân đàn áp ra khỏi Đà Nẵng …”.
nhiều tấm bảng dựng trước Viện Hóa Đạo vẽ hình châm biếm Tổng thống Mỹ Giôn Xơn (Johnson), khẩu hiệu chống khủng bố trong cuộc đấu tranh ngày 20.5.1966:
Bên ngoài, từ ngày 3 đến ngày 10.6.1966 , Phong trào Bàn thờ phật xuống đường, gây cản trở giao thông, làm rối sào huyệt cuối cùng của địch, 10 xe Mỹ bị đốt trong đợt này (trang 130)”.
Đó là tại Sài Gòn do chính cộng sản Việt Nam khai ra. Sài Gòn là trung tâm quyền lực và quốc tế của Việt Nam Cộng Hòa, ảnh hưởng của đạo Phật không nhiều, Việt cộng công khai xâm nhập hàng ngũ Phật giáo, còn tại các tỉnh miền Trung, nhất là “Liên khu 5” cũ của Việt Minh, Việt cộng làm mưa làm gió đến cỡ nào trong các tổ chứ Phật giáo.
Sự giống nhau ở phương cách đấu tranh, sự lẫn lộn giữa thành quả đạt được của Việt cộng và phe phái đội lốt Phật giáo đã khiến nhiều người nghĩ Phật giáo là Việt cộng, coi Thích Trí Quang như một cán bộ cao cấp của Việt cộng.
Đức Quốc trưởng Bảo Đại đã viết trong cuốn: Con rồng Việt Nam:
“Vậy thì ai đã xúi dục họ gây loạn, ai ? Họ ở đâu tới ? Làm sao mà biết được nếu họ từ Hà Nội vào hay từ Bắc Kinh tới ?” (trang 9).
Họ là ai ? Vì họ không nói ra, tôi chỉ còn cách suy đoán và nghĩ rằng các chính khách tăng lữ muốn xoay chiều lịch sử Việt Nam, mong cho Việt Nam độc đạo, độc tôn, tăng lữ có vai trò lãnh đạo và thống trị như ở Iran. Nếu quả đúng như vậy, tôi báo động để mọi người Việt Nam phải cương quyết chống lại như đã chống lại chủ nghĩa cộng sản. Cộng sản Việt Nam rồi phải sập, chúng ta phải chuẩn bị đương đầu với những vấn đề hóc búa của quê hương ngày nay.
Tôi nghĩ rằng, những tăng lữ chính khách của Phật giáo chưa bỏ tham vọng muốn đạo mình trở thành độc tôn bằng sự đồng hóa với quốc gia. Mới đây, tôi đọc lời phát biểu của “Hòa thượng” Thích Huyền Quang trong tang lễ của “Hòa thượng” Thích Đôn Hậu, đoạn văn này như sau:
“Cơ sở của giáo hội (Phật giáo) là nông thôn, thành thị, cao nguyên và hải đảo”.
Đây là đối tượng của quốc gia chứ không không phải của đạo giáo. Đạo giáo muốn nhập nhằng đồng hóa với quốc gia bằng cách coi quốc gia như giáo hội của mình theo kiểu mẫu của Iran. Ngày nào đó, nếu điều này trở thành sự thực thì thật là điều bất hạnh cho dân tộc Việt Nam vậy.
Tôi xét xử
Có một tòa án vượt lên trên tất cả các tòa án của xã hội loài người, là tòa án lương tâm. Tòa án ấy, nằm trong tận đáy lòng của mỗi người và mỗi người tự làm quan tòa cho chính mình, để xét xử những việc đã và đang xẩy ra mà mình biết được. Ý thức về sự công bằng, lòng kính trọng lẽ phải là căn bản của mọi công lý. Công lý ấy vượt thời gian, vượt không gian, không tùy thuộc vào chủng tộc hoặc văn hóa xã hội: Công lý bất diệt nội tại trong mỗi con người.
Người ta đã kết tội Tổng thống Ngô Đình Diệm những cái “tội” như: “độc tài gia đình trị, tội kỳ thì và đàn áp Phật giáo” và sau cùng gần như bất lực, họ cố tìm cho ra một vài khuyết điểm của đời sống cá nhân. Có một cái “tội”, mà theo tôi là “tội” chính mà họ không nói ra: “Ngô Đình Diệm là người Công Giáo tốt, xử Ngô Đình Diệm là xử cả Giáo hội Công Giáo”.
Cụ Đoàn Thêm viết:
“Không một văn kiện hay một huấn thị nào ấn định khuyến cáo các nghi thức và cử chỉ với người lãnh đạo; tôi chỉ thấy ông ra lệnh không được gọi ông bằng Cụ. Ông không hề ngỏ ý bắt đứng dậy chào ông trước khi coi phim hay nghe hát. Không bao giờ ông đòi hỏi tổ chức Thánh Bổn Mạng hay sáng tác cho ông bản nhạc suy tôn”.
Xem thế, những việc điếu đóm, suy tôn… ông Diệm không phải do sự “kiêu căng, hợm hĩnh” của ông mà do bọn vô liêm sĩ nịnh bợ. Bọn ấy chính là bọn phản lại ông Diệm sau này.
Về nếp sống của Tổng thống Ngô Đình Diệm:
Sĩ quan Lê Công Hoàn, tùy viên của ông Diệm khi bị quân “cách mạng” bắt đi, bị hỏi rằng: “Có nhìn thấy đàn bà nào vào phòng riêng của ông Diệm ? Tổng thống Diệm có giao du với bà Nhu hay không ?”.
Sĩ quan Lê Công Hoàn trả lời:
“Tôi quả quyết không bao giờ có chuyện như vậy. Nếu có mà tôi bảo là không, tôi xin chịu mất cái đầu.
“Tổng thống Ngô Đình Diệm ở trong một căn phòng riêng, ngủ trên tấm đi-văng gỗ. Ông già Ẩn tối chăng màn, sớm tháo gỡ. Tổng thống ăn riêng, đầu bếp của ông rất nhàn hạ: sáng ông điểm tâm bằng cháo trắng với dưa chua hoặc cá thu kho mặn, trưa thường dùng trái cây hoặc rau sà-lát trộn dấm hoặc súp-lơ; bắp cải luộc. Bữa ăn chính của ông là bữa tối. Thứ cơm ông dùng là cơm gạo lức đỏ… ông ăn như một người trung lưu của xứ Quảng Bình hay xứ Huế. Ông không uống được rượu (13)”.
Đọc những lời chứng trên, người ta nghĩ đời sống riêng tư của Tổng thống Ngô Đình Diệm quá đơn sơ, ông xứng đáng là đệ tử của Thánh Gandhi.
Những kẻ thù nghịch với Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã thất bại không thể tìm ra một lỗi lầm nhỏ nào trong cuộc đời tư khiêm tốn và nghèo khó của ông.
Bằng những chứng cớ trình bày ở trên:
- Không ai tìm thấy một tội phạm hình sự nào trong suốt cuộc đời của ông Diệm.
- Không ai tìm thấy những điều đáng chê trách trong cuộc đời của ông Diệm.
- Ông Diệm tận tụy phục vụ quốc gia, đặt lợi ích của đất nước lên trên mọi sự.
Bởi đó,
- Tổng thống Ngô Đình Diệm rất xứng đáng được tôn vinh là nhà ái quốc.
- Tổng thống Ngô Đình Diệm xứng đáng được xem là người công chính.
Thế mà,
-Những ai đã cố tình giết chết ông
-Những ai nhẩy múa trên xác chết của ông
-Những kẻ đã cố tình bôi bẩn cuộc đời ông
Những kẻ ấy đều phải bị phán xét theo lẽ công bằng. Đó là công lý ngàn đời, dù Đông hay Tây, dù tín ngưỡng nhà Phật hay nhà Chúa, nhân loại đều có mẫu số chung về thiện-ác.
Phan Thiết Nguyễn Kim Khánh
http://hon-viet.co.uk
http://ghpgvntn-toiacphatgiaoanquang...thanh-qua.html
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
BỐN MƯƠI NĂM NGẬM NGÙI
Trương Phú Thứ
Bốn mươi năm trước đây, vào khoảng lúc 9 giờ sáng ngày 2/11/1963, TT Ngô Đình Diệm đã bị bọn phản loạn thảm sát. Cái chết thảm thương của một vị tổng thống đạo đức thánh thiện, hết lòng vì dân vì nước đã chấn động lương tâm nhân loại. Cái chết của một vĩ nhân đã làm sửng sốt những người yêu chuộng tự do, công lý và hòa bình thế giới. TT Ngô Đình Diệm đã oai hùng hy sinh ngay chính cả mạng sống mình vì quyền lợi tổ quốc và danh dự dân tộc. Cuộc đời của một lãnh tụ ngoại hạng đã kết thúc trong đau thương với lòng thương tiếc vô vàn của bao nhiêu người mến yêu và kính phục. Bài báo này đến tay độc gỉa thì khắp nơi trên thế giới tự do chỗ nào có người Việt cư trú đều có những buổi lễ tưởng niệm vị anh hùng dân tộc một lòng tận tụy với dân với nước. Vẫn có những người nghĩ rằng vì TT Diệm là tín hữu công giáo nên các nhà thờ công giáo tổ chức cầu nguyện cho linh hồn người đồng đạo. Đó là một nhận định rất ngờ nghệch. TT Nguyễn văn Thiệu cũng là một tín hữu công giáo nhưng có ai cho một lời nguyện cầu hay giọt nước mắt tiếc thương. Anh linh TT Diệm đã ở lại với con dân nước Việt và vượt ra ngoài ranh giới tôn giáo và ngay cả thành lũy của chủ nghĩa. Cụ Ưng Thị Mai, một Phật tử đã trên 80 tuổi, hiện sinh sống ở Đan Mạch, viết: “tôi không phải là tín đồ thiên Chúa giáo và tôi cũng không chịu ơn Cụ Ngô Đình Diệm nhưng tôi rất thương Cụ Diệm, vì trong những năm Cụ Diệm cầm quyền, người dân Việt Nam an cư lạc nghiệp. Tôi có lập bàn thờ Cụ Diệm. Tuần rằm mùng một tôi cúng Phật cũng cúng Cụ Diệm.” Chị NTNH một tên tuổi rất quen thuộc với cộng đòng người Việt tỵ nạn CS, hiện đang thụ án tại một nhà tù ở tiểu bang Texas, viết: “NH ước mơ có dịp làm chứng những điều mà TT Ngô Đình Diệm cho tôi. Lúc trước trang bìa báo VNTP có đăng bức hình trên ngôi mộ TT Ngô Đình Diệm. NH dựng tờ báo trên bàn làm bàn thờ tạm trong tù để hằng đêm tôi chiêm ngưỡng cầu nguyện đến đấng anh tài mà tôi một lòng tôn kính mến thương.”
Cho đến ngày hôm nay vẫn có nhiều câu hỏi đặt ra về những giây phút cuối cùng của TT Diệm. Tôi đã được hầu chuyện Cụ Cao Xuân Vỹ, vị cựu lãnh tụ Thanh Niên Cộng Hòa là người duy nhất đã vào Dinh Gia Long để tìm cách đối phó với bọn phản loạn. Tôi cũng đã nhiều lần được nói chuyện với cựu Đại tá tư lệnh phó lữ đoàn phòng vệ phủ tổng thống Nguyễn Hữu Duệ, người đã một lòng trung hiếu bảo vệ nền cộng hòa đến khi có lệnh buông súng đế tránh đổ máu, vì TT Diệm không muốn nhìn thấy cảnh anh em cùng chiến tuyến quay súng bắn giết lẫn nhau.
Theo Cụ Cao Xuân Vỹ thì vào buổi chiều tối ngày 1/11/1963, lúc pháo binh sư đoàn 5 được lệnh của Nguyễn văn Thiệu nã đạn vào thành cộng hòa và trụ sở bộ quốc phòng gần sát Dinh Gia Long thì chính Cụ Vỹ đã đề nghị TT Diệm nên dịch cư. Cụ Vỹ nhấn mạnh dùng chữ dịch cư là đi đến một chỗ an toàn tránh đạn đại bác và hoàn toàn không có nghĩa là chạy trốn. TT Diệm cương quyết không đi khỏi Dinh Gia Long. Tổng thống xác quyết Ông được dân bầu lên vào chức vụ lãnh đạo quốc gia và dinh Gia Long tượng trưng cho uy quyền quốc gia, với cương vị của một nguyên thủ Ông có nhiệm vụ và bổn phận phải giữ và bảo toàn uy quyền quốc gia trong bất cứ hoàn cảnh nào. Cụ Vỹ không thuyết phục được TT Diệm nên đi ra ngoài tòa Đô Chánh. Trong lúc ở tòa Đô Chánh, Cụ Vỹ được điện thoại của Ông cố vấn Ngô Đình Nhu cho biết TT Diệm đã đổi ý và bằng lòng dịch cư. Chắc chắn TT Diệm đã nghe lời Ông Nhu giải bày hơn thiệt nên mới chấp nhận quyết định lịch sử này. Theo Cụ Vỹ thì Ông Nhu, một chính trị gia uyên bác, lập luận rằng “tất cả những cuộc đảo chánh sau 24 tiếng đồng hồ mà không đạt được mục đích thì tự nó sẽ rối loạn và thất bại. Bọn phản loạn vào Dinh Gia Long mà không bắt được Ông tổng thống là sẽ tự đánh đá lẫn nhau rồi chạy trồn.”
Ngay sau khi được điện thoại của Ông Nhu, Cụ Vỹ vội trở vào Dinh Gia Long để sắp xếp. Tại Dinh Gia Long, Cụ Vỹ điện thoại cho trung tá Phước là phó đô trưởng nội an yêu cầu mang một cái xe vào. Chỉ độ mười phút sau, một sĩ quan mặc thưòng phục lái chiếc xe hai ngựa kiểu chở hàng vào sân trước dinh Gia Long và TT Diệm, Ông cố vấn Nhu, sĩ quan tùy viên Đỗ Thọ đã lên chiếc xe này đi khỏi dinh Gia Long.
Tôi đã đặt câu hỏi với Cụ Vỹ là tại sao lại mang một chiếc xe loại chở hàng, mà người Tàu ở Chợ Lớn thường dùng để chở lông vịt, chạy chậm và rất yếu để đưa đón tổng thống như vậy. Cụ Vỹ nói, trung tá Phước nghĩ rằng chắc trong Dinh cần một cái xe để di chuyển chứ đâu biết lấy xe để đưa tổng thống đi khỏi dinh Gia Long. Khi chiếc xe hai ngựa kiểu chở hàng đến thì Cụ Vỹ lại thấy thích hợp với hoàn cảnh vì kông ai có thể tin rằng tổng thống ngồi trên chiếc xe tồi tàn đó. Cụ Vỹ cũng cho biết là cùng đi với chiếc xe chở tổng thống còn có hai xe cận vệ và một xe truyền tin.
Câu hỏi thứ hai tôi đặt ra với Cụ Cao Xuân Vỹ lý do gì lại đưa tổng thống đến nhà tổng bang trưởng Mã Tuyên? Cụ Vỹ trả lời: nhà ông Mã Tuyên ở trong Chợ Lớn, phố xá chằng chịt rất khó tìm. Hơn nữa người Tàu rất kín đáo và trung tín. Khi tiếng súng của bọn phản loạn vừa nổ tìm đâu cũng không ra một ông bộ trưởng hay là một người thân cận với tổng thống. Cụ Vỹ nói thêm: “mấy thằng tướng mà Ông Cụ coi như người nhà làm phản hết rồi, các ông bộ trưởng trốn như chuộc. Vậy thì còn tin được ai nữa!” Cụ Vỹ là người quyết định đưa tổng thống đến nhà ông Mã Tuyên ở Chợ Lớn. Cụ Vỹ đã không di cùng với tổng thống đến nhà ông Mã Tuyên nhưng sau đó có đên để chắc chắn mọi việc được xếp đặt như dự liệu, thấy tổng thống và Ông cố vấn Nhu bình thản ngồi uống nước trà với tổng bang trưởng Mã Tuyên thì Cụ Vỹ yên tâm trở về tòa Đô Chánh.
Chuyện xảy ra sau đó thì độc gỉa đều đã biết là sáng ngày 2/11/1963, TT Diệm và Ông cố vấn Nhu rời nhà ông Mã Tuyên đến nhà thờ cha Tam dâng thánh lễ. Bọn phản loạn cho xe đến “đón” và hai vị khai sáng và lãnh đạo nền Đệ Nhất Cộng Hòa VN đã bị tên Nguyễn văn Nhung và Dương hiếu Nghĩa trói quặt tay ra phía sau rồi thảm sát bằng dao găm và súng trong lòng chiếc xe bọc sắt M113. Nhung đã tự tử hoặc bị thắt cổ chết khi Nguyễn Khánh chỉnh lý vào ngày 30/1/64. Nghĩa hiện đang sống ở vùng Tri-Cities thuộc tiểu bang Washington.
Cuộc đời của TT Ngô Đình Diêm là một mẫu mực của đức tính liêm khiết, trong sạch và khó nghèo bên cạnh những khả năng vượt bật về hành chánh, chính trị, kinh tế và quân sự. Học gỉa Vương Hồng Sển trong tác phẩm Hơn Nửa Đời Hư đã diễn tả cảnh sống khó nghèo của TT Diệm: “mặc bộ đồ tussor may kiểu áo bốn nút cổ lỗ sĩ, đã trổ vàng vì qúa lâu năm, cổ vai đã xùi”. Linh mục Đỗ Minh Tâm hiện giúp một xứ đạo Mỹ tại Saint Paul, MN kể lại: “lễ Chúa Giáng sinh năm 1958, TT Diệm dự lễ tại một khu dinh điền ở tỉnh Kiến Hòa. Lễ xong thì TT và tôi ăn cơm nếp với thịt gà còn các binh sĩ ăn thịt con bò thui. TT Diệm cởi giầy ngồi trên cỏ, tôi thấy Ngài mang một đội vớ rách.”
Tổng thống đã được sự nể trọng của các lãnh tụ trên thế giới không kể lằn ranh quốc cộng và lòng kính mến thương yêu của đồng bào. Trong chuyến công du Hoa Kỳ vào năm 1958, TT Diệm đã được TT Eisenhower ra tận săn bay đón tiếp. Đây là một vinh dự rất hiếm hoi mà một vị quốc khách đến Hoa Kỳ được trọng vọng như vậy. Khi TT Diệm thăm thành phố New York thì dân Mỹ đứng hai bên lề đường vẫy tay chào đón, những người đứng trên lầu cao thả bông hoa giấp ngợp cả phố phường dưới cổng chào hình vòng cung mang hàng chữ “Welcome President Ngo Dinh Diem”. Khi nghe tin TT Diệm bị thảm sát, trùm CS Mao Trạch Đông đã bày tỏ lòng chân thành ngưỡng mộ và thương tiếc. ĐaÏo đức và uy thế của TT Diệm đã vượt qua ngay cả lằn ranh chủ nghĩa.
Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, người dân miền Nam đã sống trong những điều kiện ổn định. Chính quyền đã tạo những điều kiện thuận lợi cho người dân có cơ hội phát triển trên mọi lãnh vực, tuy nhiên cũng có những hạn chế cần thiết vì đất nước đang phải đối đầu với hiểm họa CS. Sau ngày TT Diệm bị thảm sát, người dân miền Nam đã phải chịu đựng những thống khổ của một cuộc chiến mà những người trực tiếp cầm súng đã không được dự phần vào những định đoạt trên mạng sống của chính họ bên cạnh những nghiệt ngã trầm luân của những vấn đề luân lý xã hội. Bọn tay sai và cai thầu chiến tranh đã tiến hành và nuôi dưỡng cuộc chiến đến khi quyền lợi của chúng được thanh thỏa và cuối cùng là cả dân tộc VN bị chủ nghỉa CS dày xéo. Bọn cai thầu chiến tranh ở Hoa Thịnh Đốn và bọn khố xanh khố đỏ tay sai ở Saigon đã không có được một tri thức cao hơn gót giầy của TT Ngô Đình Diệm.
Một độc gỉa của VNTP, bà Hoa Vũ ở tiểu bang New Jersey, người đã mang chân dung TT Diệm từ Mỹ về tận Lái Thiêu. Bà Hoa đã đặt bức chân dung trên một TT Diệm chụp hình và sau đó phổ biến tới báo chí hải ngoại. Bà Hoa đã viết thư cho cựu đại tá Nguyễn Hữu Duệ “…em không nhớ rõ là năm nào 1960 hay 1961, lúc đó em đang may ở tiệm Thanh Lịch gần chợ Bàn Cờ thì chợ bị cháy lớn. Vài hôm sau thì Cụ có đi thăm chợ và đồng bào nạn nhân. Cụ đi thẳng đến tiệm Thanh Lịch, lúc đó bà Phạm Bích Thuần là chủ tiệm may qúa xúc động vừa khóc vừa nói: kìa, Vua dến nhà mình, cô Hoa bao dạn ra chào Vua đi. Khi tổng thống bước lên thềm nhà thì em ra đứng khoanh tay cúi đầu nói: “con kính chào Tổng Thống.” Người hỏi: “cháy có sợ không?” Thưa Tổng Thống con sợ lắm ạ.” Người lại hỏi: “may có khá không?” Em trình: “thưa tổng thống, khá lắm.” Trong lúc đó thì bà chủ cứ khóc vì qúa xúc động được Vua tới thăm. Cụ nói: “ngoan hỷ.” Rồi đi ra hướng đường Bàn Cờ. Ôi! Kể lại một chút kỷ niệm mà lòng em dâng lên một niềm thương nhớ Cụ vô cùng. Thời gian ngắn sau đó em gia nhập Thanh Nữ Cộng Hòa. Năm 1963 có cuộc triển lãm ở tòa Đô Chánh, em được đứng trong đội danh dự và đứng hàng đầu. Khi tổng thống xuống xe thì có tiếng hô: chị Hoa làm chuẩn. Nghiêm. Chào. Cụ tiến đến gần em và nói: “Đứng nắng lắm hả?” Ôi! Chao ôi! Nhớ thương vô cùng, Cụ ơi!
Phần mộ của TT Ngô Đình Diệm hiện ở quận Lái Thiêu, bên quốc lộ số 5, lối đi hướng về quận Hóa An (quận Dĩ An cũ). Nơi đây đã và sẽ là một địa điểm lui tới của đồng bào trong nước và những người sống ở nước ngoài. Rải rác từ hai phía từ quân Lái Thiêu đi ra và từ hướng quận Hóa An đi tới đã có những nhóm người sống bằng công việc chỉ dẫn đưa đường cho khách thập phương kính viếng mộ Ông Huynh Đệ chính là phần mộ TT Ngô Đình Diệm và Ông cố vấn Ngô Đình Nhu. Nhà cầm quyền địa phương biết chuyện nhưng cũng không có hành động hay biện pháp nào ngăn cản vì họ thừa biết rằng những gì đi ngược lại với lòng dân sẽ tự nó gây ra những hậu qủa không thể nào lường trước được. Chính tôi đã nghe một cán bộ làm to có đứa con bị bệnh ngặt nghèo. Ông cán bộ này đã bế đứa con đến phần một TT Diệm để xin anh linh người đã chết vì dân vì nước phù hộ.
Cựu thẩm phán Nguyễn Kim Khánh, bút hiệu Phan Thiết viết trong “Đất Việt, Người Việt, Đạo Việt”: “Trên cõi Hằng Sống, Ngài đã thấy rõ lòng dạ của những quân ăn cháo đá bát, bọn lừa thầy phản bạn. Ngài cũng thấy rõ lòng dân mên mộ Ngài, dân đã đánh gía Ngài qua những lầm than và khốn khổ họ phải chịu kể từ ngày Ngài bị thảm sát.” Và tôi xin được viết thế: “xin Ngài phù hộ cho con dân nước Việt mà Ngài đã một đời tận tụy yêu thương chăm sóc được thực sự sống trong an bình, mọi người yeu thương giúp đỡ bao bọc lẫn nhau để cùng nhau nối tiếp thực hiện ước nguyện của Ngài đến ngày thành công.”
[Trương Phú Thứ, BỐN MƯƠI NĂM NGẬM NGÙI, VNTP # 670,
từ ngày 16 đến ngày 30 tháng 11 năm 2003, trang 22]
http://ngothelinh.tripod.com/BonMuoiNamNgamNgui.html
0 comments:
Post a Comment