
Hà Đình Nguyên - Vòng xoáy Đông và Tây
Việt Nam là một quốc gia đã tồn tại hơn 4.000
năm, với lịch sử chiến tranh giữ nước liên tục chống lại các cuộc xâm
lăng của phương Bắc. Việt Nam, cũng như hầu hết các quốc gia phương Đông
đều bị lạc hậu trước sự phát triển của phương Tây, bị phương Tây đô hộ
bắt đầu từ giữa thế kỹ 19.
Việt Nam, cũng như TQ, đã trải qua hơn 100 năm
đấu tranh, chống lại các cường quốc xâm lăng, để giành quyền sống và nền
độc lập của mình. Chủ nghĩa Cộng sản xuất hiện từ phương tây đã du nhập
vào LX, TQ, VN và nhiều quốc gia khác, trở thành phương tiện tạo thêm
một sức sống mới, vượt qua chế độ Phong kiến đã lạc hậu, làm kích thích
tinh thần chiến đấu cho mục tiêu độc lập dân tộc và ý thức mới về một
thể chế dân chủ, các nước đã cùng đứng chung trong một hệ tư tưởng là
Chủ nghĩa CS.
Vòng xoáy Ý thức hệ
Giữa thế kỹ 20, thế giới chuyển hóa thành hai
phe, phe theo chủ nghĩa Cộng sản và phe chống chủ nghĩa Cộng sản. Việt
Nam là một nước nhỏ, nằm vào vị trí địa-chính trị quan trọng nên đã trở
thành trận địa giao tranh của hai thế lực, tiếp tục chìm trong máu lửa,
trong khi các nước lớn LX, TQ thì đã sớm giành được độc lập, thoát ra
khỏi chiến tranh.
Thời đại bước vào một vòng xoay mới: Phe chống
chủ nghĩa Cộng sản- mà ta quen gọi là chủ nghĩa Tư bản – do sự phát
triển khoa kỹ thuật, và tinh thần đấu tranh cho khát vọng dân chủ, đã
chuyển hóa thành thể chế dân chủ ngày càng tốt hơn, đưa xã hội tiến lên
một bước văn minh, các giá trị sống con người được tôn trọng và có luật
pháp nâng đở, với mô hình tam quyền phân lập, đã thuyết phục hầu hết các
quốc gia trên thế giới đi theo. Trong khi đó, phe theo chủ nghĩa Cộng
sản, thực hiện mô hình XHCN, với Liên Xô là 80 năm, TQ hơn 50 năm, theo
cơ chế tập quyền độc đoán, trở thành một thể chế xơ cứng, chậm phát
triển, tệ nạn chuyên quyền, hối lộ trong giới cầm quyền trở thành hệ
thống. Nội bộ giới cầm quyền liên tục trải qua những cuộc thanh trừng
nhau đẫm máu, nhân dân bị buộc phải sống trong khuôn khổ bị chỉ huy toàn
diện. Khát vọng tư do của nhân dân và của một bộ phận lớn những người
có ý thức trong đảng CS Liên Xô đã thúc giục họ cùng nhau tự đứng lên,
làm một cuộc cách mạng thay đổi thể chế cũ của 80 năm qua, sang thể chế
mới: Từ bỏ chủ nghĩa xã hội, giải tán đảng CS, chuyển sang cơ chế dân
chủ, hội nhập vào thế giới, không xem quốc gia khác là kẻ thù, chỉ chăm
lo cho sự phồn vinh của đất nước mình trong tinh thần cạnh tranh toàn
cầu theo luật chơi bình đẳng. Liên xô, vốn là quốc gia đi đầu, được xem
là thành trì của phong trào Cộng sản quốc tế, nay không còn nữa. Hệ tư
tưởng chủ nghĩa CS đã bộc lộ tính bất khả thi về mặt thực tiển, lẫn rối
loạn về mặt lý thuyết ở quy mô thế giới (Điển hình thực nghiệm tại hai
quốc gia lớn nhất là LX và TQ đều thất bại). Từ đây cũng chính thức chấm
dứt cuộc đấu tranh ý thức hệ của chủ nghĩa CS quốc tế, mà Việt Nam đã
là nạn nhân đẫm máu lâu dài nhất. Còn lại ngày nay, chỉ là sự rơi rụng
cuối mùa của giai đoạn lịch sử, tiếc thay, trong đó có VN, Lào, Bắc
Triều Tiên, mà TQ là kẻ đứng đầu, còn mang tên là chủ nghĩa xã hội.
Tên gọi, thật ra không quan trọng, vì nó chỉ là sự giả danh.
Giả danh, có nghĩa là ẩn danh để lợi dụng.
Nó có giá trị cho kẻ lợi dụng và có nguy hại cho người bị lợi dụng.
Chế độ Cộng sản TQ, thực chất chưa bao giờ mang
khát vọng XHCN, như khát vọng tốt đẹp ban đầu của người khai sinh ra chủ
thuyết Cộng sản (Karl Marx). Cộng sản TQ, trong suốt thời kỳ cai trị
của Mao Trạch Đông, thực hiện mô hình XHCN theo cách của mình, hơn nửa
thế kỷ đã không thành công. Nội bộ không ngừng đấu tranh giành quyền
lực, lên tiếp gây ra những đợt thanh trừng đẫm máu, người dân sống trong
nghèo đói và lạc hậu. Lãnh đạo đảng CSTQ, bên ngoài vẫn khoát áo “XHCN
mang màu sắc TQ”, nhưng bên trong âm thầm chuyển sang chủ nghĩa dân tộc
Đại Hán cực đoan với tham vọng bành trướng. Tận dụng thời cơ Mỹ đang bận
bịu sa lầy với trong cuộc chiến tranh VN, Mao kết giao với Mỹ, phản bội
VN – người cùng chiến hào XHCN –vào thời điểm cheo leo nhất của VN, họ
chớp thời cơ chiếm quần đảo Hoàng sa của VN (1974). Vào thời kỳ Đặng
Tiểu Bình, nhằm lúc VN khó khăn nhất, họ tiến quân công khai đánh VN
(1979), chiếm thêm 5 đảo của quần đảo Trường sa VN (1988). Sau đó, chúng
giương cao chiêu bài 16 chữ vàng để khỏa lấp việc chiếm đoạt và trấn an
người VN nhẹ dạ, dưới danh nghĩa “gác lại tranh chấp” vì “ cùng chung
lý tưởng xhcn”, “cùng là đảng CS anh em”. Trong 10 năm phản bội VN và
kết giao với Mỹ, Đặng đã nhanh chóng phát triển kinh tế, khoa học kỹ
thuật, hiện đại hóa quân sự, và trở thành một cường quốc thế giới. Và
nay, Bắc Kinh quay ra thách thức với Mỹ, giành quyền phân chia trật tự
thế giới theo tham vọng của mình. Cụ thể, chúng muốn khống chế các quốc
gia vùng châu Á, mưu toan chiếm trọn biển Đông và tham vọng chia đôi
biền TBD với Mỹ và thế giới còn lại. Chúng bất chấp đời sống của nhân
dân TQ, và cả nhân dân thế giới, về sinh mạng, về nhân phẩm, về giá trị
quyền làm người, về mọi giá trị chung mà nhân loại đang vun đắp. Chúng
đang hiện hình trước mắt nhân loại là một con quỹ dữ. Chúng quên rằng
chúng sẽ gặt bão sau khi chúng đã gieo gió.
Chiến tranh gọi là ý thức hệ giữa hai phe, giờ
đây hoàn toàn chấm dứt. Thay vào đó là cuộc khủng hoảng giữa tham vọng
bành trướng vai trò nước lớn của Trung Quốc, với các lực lượng chống
bành trướng của các nước trong khu vực, kể cả Mỹ, đã đặt VN vào tình
huống cực kỳ khó khăn trong vùng xoáy khốc liệt.
Vòng xoáy của nước lớn
Vị trí địa – chính trị Việt Nam luôn đứng ở đầu
sóng ngọn gió, tự nó là yếu tố nguy hiểm, luôn là thử thách ý chí VN về
sự quyết định sinh mệnh của mình.
Phía TQ với tham vọng bành trướng bá quyền thì
đã rõ, chúng đang uy hiếp an ninh các nước khu vực biển Đông, đặc biệt
VN là chặng đầu trên con đường xâm lược, với tương quan lực lượng ở thế
áp đảo VN.
Phía Mỹ đang toan tính giữa các chọn lựa đối
sách với TQ: Kìm chế quyền lực – chia sẻ quyền lực – hay nhường sự lãnh
đạo khu vực châu Á cho TQ ? Giáo sư Hugh White (ĐH QG ÚC), tác giả của
phân tích nói trên, trong tác phẩm mới xuất bản “Sự Lựa Chọn TQ” (The
China choice) cho rằng TQ đã lớn mạnh ở mức cân bằng, thậm chí có khả
năng đảm nhiệm thay vai trò của Mỹ tại đây. Cả ông người Việt, GS Nguyễn
Mạnh Hùng (ĐH George Mason, HK) cũng tán thành phương án giữa: “Tốt
nhất, HK nên chọn chia sẻ quyền lực với TQ và buông lỏng uy thế tối cao
của mình”, đặc biệt ở khu vực Đông Dương củ ( Việt-Miên-Lào). Nguyên Thủ
tướng Úc, Paul Keating cũng đồng tình : “Chúng ta (ÚC) cần một kết cấu
nhằm giúp TQ can dự vào khu vực (châu Á-TBD) thay vì kìm chế họ”. Khi bà
Ngoại trưởng Clinton chạy vòng quanh châu Á, nhằm củng cố tinh thần các
nước đồng minh, thì ngày 4-9, tại Bắc Kinh, Dương Khiết Trì nói thẳng
với bà : “Quan điểm của TQ là nhất quán và rõ ràng, TQ có chủ quyền tại
các đảo ở biển Đông và vùng nước lân cận.” và gợi ý chia phần : “không
nơi nào mà TQ và Mỹ chia sẻ lợi ích và tương tác thường xuyên hơn là khu
vực châu Á-TBD”. Trước đó mấy ngày,Tổng Thống Mỹ Obama thì nói lơ lững
về phương án chia sẻ quyền lực, rằng: “Đó là điều không dễ làm”!
Chúng ta không biết thật sự điều gì sẽ xảy ra ?
Họ e ngại cái giá phải trả cho sự xung đột có thể dẫn đến một cuộc chiến
tranh hạt nhân, trước một TQ quá tham lam và liều lĩnh đang cố vươn lên
nầy? Tiến sĩ Tim Huxley (Viện Nghiên cứu Quốc tế London), người khá
hiểu VN, cho rằng suốt lịch sử VN đã từng lệ thuộc và từng chiến đấu với
TQ, trong trường hợp thả rơi Đông Dương vào tay TQ, với lời tiên đoán
có lẽ không sai: “Đưa VN vào quỹ đạo của TQ, cũng giống như bắt đầu một cuộc chiến”
(ý nói rằng VN sẽ không chịu khuất phục và sẽ tiến hành cuộc chiến đấu
chống lại như lịch sử đã từng diễn ra). Vấn đề TQ, không chỉ riêng là
vấn đề liên quan VN. Chúng ta đã từng nghe và thấy, nước Mỹ luôn đề cao
và can thiệp mạnh mẽ các vấn đề về nhân quyền trên khắp thế giới. Và
đây, con quỹ dữ Bắc Kinh, chính là vấn đề nhân quyền ở quy mô thế giới,
đang là một thử thách nặng nề cho nhân loại hôm nay. Nó không được giải
quyết, đồng nghĩa với sự suy sụp nghiêm trọng về khát vọng vươn lên của
một loài người có ý nghĩa hơn. Tuy nhiên, một buổi tiệc có vui vẻ náo
nhiệt hay không, cũng tùy thuộc thái độ của từng thành viên tham dự,
cũng như trong kinh thánh đạo Ki-tô có câu “Nếu ngươi không chịu xòe bàn
tay ra, thì ân sủng của Chúa cũng không đến được.” Sự xòe bàn tay ra
không có nghĩa là van xin hay dấu chỉ sự yếu thế, đối lập với động thái
màu mè, mà là bộc lộ tính quyết đoán của mình, là giá trị của tính cách
trong sự chọn lựa. Thái độ của VN sẽ quyết định sinh mệnh của VN, như
lịch sử đã mách bảo cả hai chiều : kiên quyết hay nhu nhược.
Lực hút của quỹ đạo Trung Quốc
Lịch sử mấy ngàn năm cho thấy, mỗi thời kỳ TQ
hưng thịnh thì đem quân đi đánh chiếm các quốc gia lân cận. VN mãi mãi
là miếng mồi ngon của chúng, như miếng mỡ trước miệng mèo, con mèo của
bản năng nguyên thủy. Thời đại ngày nay các quốc gia đều có mối liên hệ
ràng buộc toàn cầu, không cho phép một quốc gia đem quân đi đánh chiếm
một quốc gia khác theo cách trắng trợn. Nhưng một Trung Quốc Cộng Sản
ngoại lệ, có thể làm điều ngoại lệ. Một mặt chúng tìm cơ hội khiêu khích
để lấy cớ gây chiến tranh, một mặt, chúng tạo áp lực và gặm nhấm dần
từng ngày, từng phần đất liền, biển và đảo. Mặt khác, mưu mô hơn, là
sách lược xâm lăng bằng “sức mạnh mềm”mà chúng đã thực hiện lâu nay.
Ngày xưa, khi quân nhà Thanh kéo sang xâm lược VN với khẩu hiệu “Phù Lê,
diệt Trịnh” (ủng hộ nhà Lê, tiêu diệt chúa Trịnh), nay ý đồ của chúng
là phương châm “Phù Đảng, diệt Quốc” (ủng hộ đảng CSVN, thôn tính nước
Việt Nam) dưới chiêu bài hai nước cùng là CNXH, cùng là Đảng CS anh em!
Sự ngu trung của trí tuệ và trạng thái bạc nhược
của tinh thần, dưới ngọn cờ XHCN, đảng CSVN đã dắt dẫn VN dấn bước vào
con đường ngày càng khó khăn. Sau 10 năm chiến tranh vừa công khai vừa
âm thầm, mất đất và mất đảo, Đảng CS VN sang tận bên Tàu, tại Thành Đô
năm 1991, ký kết với Đảng CS TQ một Hiệp ước bí mật mà 20 năm sau, nhân
dân và “Quốc Hội” VN, chưa biết nội dung , chỉ biết đó là văn kiện tái
ban giao, hữu nghị với khẩu hiệu16 chữ vàng được treo dán khắp nơi. Mọi
đau thương, mất mát vừa qua ( sinh mạng, đất liền, biển đảo) đã không
được phép nhắc tới. Hai mươi năm, vô vàng sự kiện nguy hiểm cho VN đã
được TQ triển khai thực hiện ở VN. Căn cứ trên những lời phát biểu của
các lãnh đạo VN, có thể nhận biết rằng, những gì TQ muốn, VN gần như
đồng thuận, những vấn đề nhân dân quan tâm thì cho là nhạy cảm, nói úp
mở và né tránh. Lãnh đạo VN đang tiếp tục nêu cao tinh thần đạo đức
trong quan hệ hữu nghị, tính trung thành với lý tưởng XHCN, tình cảm
Đảng rất anh em…để bày tỏ tấm lòng thành trước nhân dân TQ, và để tuyên
truyền, dạy dỗ về đạo đức của đảng cho dân chúng.! Qua các cưộc tiếp xúc
mới đây (đầu tháng 9) giữa các lãnh đạo VN và Tướng Tàu, đầy lời lẽ
quanh co, chớt nhã, mà không ai có thể biết tính chân thực của mỗi bên
nằm ở đâu ? Người dân chỉ thấy VN như trượt dài trong quỹ đạo của TQ,
như một nửa thân người đã nằm trong miệng cọp.
Một bên, Tướng Tàu Mã Hiếu Thiên, thì nói khơi
khơi. Một bên, VN thì nói mơ hồ kiểu “biện chứng”. Ta thử lướt qua vài
câu đối thoại của những người tử tế nói trên.
- Mã Hiểu Thiên : Hai nước phải có cách giải
quyết các khác biệt “một cách đúng đắn” và phải “kiểm soát khủng hoảng”.
Thế nào nào là đúng đắng khi anh cướp đoạt trắng trợn của người? và
đang đe dọa đánh người? Ai gây ra khủng hoảng? Và ai có thể kiểm soát
khủng hoảng của ai? Đó là cách nói của kẻ cướp, đánh người mà không cho
nạn nhân la, lại hổ đồ nói đạo đức.
- Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: “Việc hai bên
còn bất đồng trong vấn đề trên biển là thực tế khách quan”. Chủ tịch nói
gì thế? Chỉ là “trên biển” thôi ư? tiếng “đảo” không tiện nhắc tới sao?
Còn “khách quan” thì có nghĩa là gì? Là chẳng có ai gây ra cả! Hẳn
không phải do Chủ Tịch TTS hay Đảng CSVN, cũng không phải là Mã Hiểu
Thiên hay Đảng CSTQ! Nó trên trời rơi xuống vậy! hay tiền nhân để lại ?
Cách nói nầy thì đúng là, chẳng có vấn đề gì cả, cũng như chuyện “nhà
cháy là vì lữa”. Đúng vậy, rất khách quan!
- Mã Hiểu Thiên nói với CT Trương Tấn Sang: “Hữu nghị hợp tác vẫn là dòng chủ lưu trong quan hệ Trung-Việt”.
Dòng chủ lưu nầy sẽ chảy thông thống từ Bắc vào Nam của VN, chứ không
chảy ngược sang Tàu, và qua đại lộ cửa khẩu Lạng sơn hoành tráng vừa
khánh thành với trống giong cờ mở!
- Thượng tướng VN Nguyễn Chí Vịnh: “Giải quyết
vấn đề nầy (Biển Đông) trên cơ sở “đại cục” mối quan hệ hai đảng và hai
nước…và là vận mệnh chung của hai dân tộc”. Con cá bé nằm trong bụng con
cá lớn là vận mệnh chung được sao?.
- Nguyễn chí Vịnh còn nói: Bộ Quốc Phòng hai
nước thống nhất: “Không để vấn đề Biển Đông làm ảnh hưởng đến đại cục”.
Biển Đông bao gồm các đảo, vùng nước lân cận, đường lưỡi bò… không là
đại cục, thì còn cục nào lớn hơn để mà ảnh hưởng ? Lẽ nào đại cục “siêu
cường TQ” là của chung sao? Lời của NCV làm người ta nhớ đến sự xuất
hiện, một cách công khai mà rình rập, lá cờ 6 sao đón Tập Cận Bình năm
trước, ở ngay Thủ đô Hà nội. Có ai còn mơ hồ gì nữa không?
Các Lãnh đạo cũng đã nhắc lại các cụm từ rất “đồng thuận” sau đây, mà dân chúng đều hiểu theo cách riêng của mình:
- “âm mưu diễn biến hòa bình”
nhà nước muốn ám chỉ bọn phản động nào đó ở phương tây, thì dân hiểu là
bọn phương bắc, kể cả diển biến hòa bình bằng súng nữa.
- “truyền thống hữu nghị”
thì dân cho là truyển thống xâm lược và chống xâm lược. Dù đôi khi có
“hữu nghị thật” thì rất ngắn ngủi, mà “hữu nghị giả” thì dài cả lịch sử.
Trong khi hữu nghị ngắn ngủi lại đầy âm mưu hắc ám.
- “16 chữ vàng và 4 tốt”,
lãnh đạo thì trân trọng, nhưng dân nghe nhắc đến là hãi hùng, không tin
là sự thật tai mình nhận được những âm thanh bùa ngãi đó.
“hợp tác toàn diện”
thì dân thấy bủn rủn tay chân, không biết chạy đi đường nào, vì cảm
nhận cấp bách về một sự bao vây khắp đủ 10 phương, mà bao vây vòng một
là của chính lãnh đạo VN, cùng với hệ thống an ninh và cảnh sát, các hệ
thống tuyên truyền văn hóa, tư tưởng, chính trị, kinh tế… !
Qua các cụm từ đồng thuận trên, và các cuộc đối
thoại, chúng ta không nhận ra đâu là ranh giới của hai quốc gia, tức là
hai chủ thể, đặc biệt qua câu nói của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh : hai
dân tộc có “chung sinh mệnh”. Quốc Hội VN có hiểu câu nói nầy có nghĩa
là gì ? Hay có sự nhầm lẫn, lẫn lộn về quốc gia ? Vào triều đại phong
kiến, nhà Vua sẽ trợn mắt, quay đầu hỏi Sử quan : “Ý nầy là ngang tội
nào trong bộ luật hình pháp của quốc gia?”.
Lý Hiển Long, Thủ Tướng Singapore – dù một đảo
quốc nhỏ bé – đã hiển thị tư thế quốc gia của mình khi nói ở Bắc Kinh,
đơn giản nhưng có trọng lượng : “Chính sách ngoại giao của chúng tôi là
hành động độc lập, dựa trên lợi ích quốc gia của mình” (6-9). Ông Lý
Hiển Long đã nói tiếng nói của đồng bào mình, đâu dám tự cá nhân mình
đem sinh mênh của cả dân tộc gán ghép vào một quốc gia nào khác! Thể chế
nào đã tạo nên một lời nói có tư cách đó?
Đến bao giờ, người dân VN có thể nghe được, từ
những vị lãnh đạo đất nước, có lời nói đích thật là lời nói của Đất
Nước, lời nói của Tổ Quốc, lời nói của Dân Tộc, lời nói của Sức Mạnh
Chân Chính với tư cách một Quốc gia?
Hiếm hoi để có thể nghe một lời nói chân thật,
đúng sự thật, như được nghe lời xác định rành mạch của Bộ trưởng ngoại
giao Phạm Bình Minh, tuy không có vai trò lớn lắm của quốc gia : “…một
phần lãnh thổ thiêng liêng của đất nước vẫn còn bị nước ngoài chiếm
đóng, chủ quyền lãnh thổ vẫn còn nguy cơ bị nước ngoài xâm phạm, tạo nên
một thách thưc vô cùng lớn đối với nước ta..” Đúng như vậy, người đại
diện đã nói lên được sự thật với đối phương, và cũng nói lên được sự
thật với nhân dân. Việt Nam ngày nay chọn lựa lối đi nào trong bối cảnh
gay cấn nầy ? Đó là câu hỏi bức thiết cho mỗi người VN, cho toàn dân
Việt Nam. Đó cũng sẽ là một câu trả lời nặng nề dành cho Đảng CS VN,
những người đang gánh trên vai trách nhiệm lịch sử đối với dân tộc và
quốc gia của mình, trước kẻ thù xâm lược, lại vừa cùng chung với kẻ thù
một “nỗi niềm xhcn”. Hoặc là một quá khứ quá nặng nề vì tự ám ảnh. Thiết
nghĩ, cũng cần phải làm rõ cho nhân dân biết.
Ông Robert Templer, nhắc lời ông Hồ Chí Minh :
“(Tôi) thà ngửi chút phân của Pháp trong vài năm còn hơn ăn phân Tàu
trong ngàn năm tới”. (1) Câu nói làm nhức nhối tâm can của người VN
lương thiện. Một câu nói khác, tôi muốn nhắn gởi đến “người VN đang cùng
lo cho đại cục TQ”, và cũng dành sẵn cho những ai đó : “(Tôi) thà ngửi
chút phân của Tàu trong vài năm, rồi sau đó toàn dân sẽ ăn phân của Tàu
trong ngàn năm tới”.
Và như thế, một cuộc chiến phải được bắt đầu, một cuộc kháng chiến của toàn dân!
Hà Đình Nguyên (Blog Nguoilotgach)
————————————-
Ghi chú:
(1) Sách “Bóng và Gió” của Robert Templer, xuất
bản 1999. Câu nói được trích dẫn nầy của Chủ tịch Hồ Chí Minh , ở VN
chưa từng thấy sách nào ghi chép, có lẽ cũng dễ hiểu, vì tính “nhạy cảm”
của nó trong bối cảnh VN đang có “đảng anh em” và “16 chữ vàng”. Câu
nầy nói lên một tầm nhìn thấu suốt về tính nhân văn của một xứ sở ăn
thịt người, điều mà chưa từng được khám phá ở bất cứ bộ lạc nào trên thế
giới.
(*) bài viết này đã được BBC biên tập lại dưới tiêu đề:
(*) bài viết này đã được BBC biên tập lại dưới tiêu đề:
Việt Nam và quỹ đạo Trung Quốc
trong đó đã lược bớt một số đoạn quan trọng của bản gốc.
trong đó đã lược bớt một số đoạn quan trọng của bản gốc.

0 comments:
Post a Comment