Thursday, December 16, 2010

Nhân Quyền Một Nhu Cầu Quan Trọng Trong Đời Sống Chúng Ta

Nhân Quyền Một Nhu Cầu Quan Trọng Trong Đời Sống Chúng Ta / Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền

Bùi Văn Đỗ

Người Việt Nam phần đông còn có một quan điểm cũ cần thay đổi như, dậy con và hướng nghiệp thì chỉ mong muốn cho con có một nghề nghiệp, dựa nhiều vào truyền thống, vào ca dao tục ngữ như: “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”. Nghề, đây là một nghề nghiệp như: nghề hàn, nghề tiện, nghề thầy thuốc, nghề chữa răng, nghề dược, nghề luật sư, nghề xây cất, kỹ sư.

. . Nhưng không ai quan tâm đến nghề làm chính trị. Coi như làm chính trị không phải là một nghề nghiệp, và phần đông lại còn có ác cảm với người làm chính trị. Quan niệm thông thường cho là người làm chính trị phải lươn lẹo, gian dối, gạt gẫm, lừa đảo, phải triệt hạ đối phương bằng những phương pháp hạ đẳng như thủ tiêu, giết người để đạt mục đích.

Quan điểm về người làm chính trị xấu xa và tồi tệ như vậy, nên ở địa hạt này bị đại đa số công chúng Việt Nam khinh bỉ, đôi khi xa lánh.

Chính vì quan điểm sai lầm trên nên ở một số quốc gia còn chậm tiến, dân trí còn thấp đã bỏ ngỏ nghề nghiệp này, đôi khi có những quốc gia chưa có trường lớp đào tạo tử tế những người sẽ ra làm nghề hoạt động chính trị. Do đó, ở những quốc gia này là mầm mống cho các chế độ độc tài, độc đảng và độc tôn.

Khi dân tình chưa có ý thức về chính trị, sợ sệt, tránh xa thì những chế độ độc tài, độc đảng, độc tôn, càng tồn tại lâu dài như Bắc Hàn, Cu Ba, Miến Điện, Trung Quốc hay Việt Nam ngày nay. Sợ sệt, xa lánh hay tẩy chay không tham gia hoạt động chính trị. Nhưng chính trị vẫn hiện hữu, phải hiện hữu và tồn tại. Vì một đơn vị nhỏ như gia đình, hội đoàn, tổ chức, còn cần thiết phải có người cầm đầu, lãnh đạo, thì hỏi ở phạm vi quốc gia, dân tộc với cộng đồng dân số hàng triệu, chục triệu, trăm triệu, hàng tỷ dân, nếu không có người lãnh đạo, không có người chọn nghề làm chính trị thì hỏi quốc gia dân tộc đó sẽ đi về đâu. Tất nhiên là mất nước ngay.

Quan niệm sai nói chung của loài người, đã có từ lâu đời cho đến nay, cần phải sửa lại. Vì như mọi người đều biết, dù trong thời gian tiền sử của con người, con người đã sống thành những tập thể như bộ tộc, bộ lạc. Đã phải có tộc trưởng để lãnh đạo bộ tộc, có người làm trọng tài xét xử những điều sai trái, oan ức ở trong các bộ tộc, Dù thủa xa xưa ấy chưa có văn hóa, chưa có văn bản, nhưng đã có những luật lệ bất thành văn, để phân xử những truyện tranh tụng giữa bộ tộc này và bộ tộc khác về đất đai, quyền lợi. . . .Rồi đi dần trên con đường tiến hóa, loài người tiến xa hơn từ bộ lạc đến quốc gia, có vua chúa, quan quyền. Trong quan niệm của con người khi còn sơ khai, coi Vua là người lãnh đạo của toàn dân, và Vua là người được Trời đặt để lên để cai trị dân, nên thủa xưa người ta coi Vua như ông trời.

Mãi cho đến những thế kỷ gần chúng ta đây, con người mới nhận ra Vua không phải là ông Trời, cũng không phải Vua là người được ông Trời sai xuống để cai trị dân, mà Vua cũng chỉ là con người như chúng ta.

Trong các ngành nghề thì nghề học làm chính trị, hành nghề làm chính trị, cũng là một nghề nghiệp để cáng đáng, lãnh đạo đất nước như trăm ngàn nghề nghiệp khác.

Ngày 10-12-1948 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền mới được ra đời, trong Tuyên Ngôn này gồm có 30 điều, ngay từ điều 1 đã được ghi rằng:

Điều 1: Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về phẩm giá và quyền hạn. Loài người là sinh vật có lý trí là lương tri, do đó phải đối xử với nhau trong tình anh em.

Điều 2: Tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, văn hóa, giới tính, tôn giáo, quan điểm, lập trường chính trị, nguồn gốc dân tộc, địa vị xã hội, hay bất cứ tiêu chuẩn gì khác, đều có quyền đòi hỏi cho mình các quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này.

Điều 3: Mỗi người đều có quyền sống, quyền tự do và quyền được bảo đảm an ninh cá nhân.

Điều 4: Không một ai có thể bị bắt giữ làm nô lệ hoặc thuộc quyền sở hữu của người khác. Mọi hình thức bắt giữ và buôn bán nô lệ đều bị cấm chỉ.

Điều 5: Không một ai có thể bị tra tấn, bị đội xử hay trừng phạt một cách tàn nhẫn vô nhân đạo hay làm mất nhân phẩm.

Điều 6: Mỗi người đều có quyền đòi hỏi được công nhận tư cách pháp lý tại bất cứ nơi nào.

Điều 7: Mỗi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền đòi hỏi được pháp luật bảo vệ như những người khác. Mỗi người đều có quyền đòi hỏi được bảo vệ một cách bình đẳng trước mọi sự phân biệt đối xử trái với quy định trong Bản Tuyên Ngôn này
.
Điều 8: Mỗi người đều có quyền đòi hỏi được cơ quan lập pháp sở tại bảo vệ trước mọi hành vi xâm phạm các quyền căn bản cá nhân được hiến pháp và luật pháp công nhận.

Điều 9: Không một ai có thể bị bắt bớ, giam cầm hay lưu đầy.

Điều 10: Mỗi người đều có quyền đòi hỏi một toà án độc lập, chí công vô tư, xét xử công khai về quyền lợi và trách nhiệm của mình, hoặc về một lời cáo buộc mình.

Điều 11: Một người bị cáo buộc có hành vi phạm pháp vẫn được coi là vô tội cho đến khi tội trạng của người ấy được xắc định qua một phiên tòa công khai và vô tư mà người ấy đã được hưởng đầy đủ các biện hộ cần thiết.
Không một ai có thể bị kết án về một hành vi hoặc lỗi lầm mình đã phạm vào thời điểm mà luật quốc gia hoặc luật quốc tế lúc ấy chưa coi là phạm pháp.

Điều 12: Không một ai có thể bị xâm phạm vào đời tư, gia đình, nơi cư trú hay sự trao đổi thư tín, hoặc bị xúc phạm tới danh dự và uy tín. Mỗi người đều có quyền đòi hỏi được luật pháp bảo vệ trước những xâm phạm và xúc phạm đó.

Điều 13: Mỗi người đều có quyền tự do di chuyển và tự do chọn lựa nơi cư trú trong lãnh thổ bất cứ một quốc gia nào. Mỗi người đều có quyền tự do ra đi hoặc trở lại bất cứ một nước nào, kể cả quê hương mình.

Điều 14: Khi bị bách hại vì lập trường hay quan điểm chính trị, mỗi người đều có quyền xin tị nạn tại một quốc gia khác. Nhưng những người bị truy nã vì tội danh không thuộc chính trị, hoặc bị truy bức vì có những hành vi trái với tôn chỉ và mục đích của Liên Hiệp Quốc thì sẽ không được hưởng quyền tị nạn chính trị này.

Điều 15: Mỗi người có quyền mang một quốc tịch. Không một ai có thể bị tước bỏ, cấm đoán hoặc cưỡng bức thay đổi quốc tịch.

Điều 16: Người nam, người nữ có khả năng kết hôn đều có quyền kết hôn và tạo lập gia đình mà không phải bị sự giới hạn nào về chủng tộc, quốc tịch, tôn giáo. Cả hai được bình quyền khi kết hôn, khi sống chung và khi ly hôn.Việc kết hôn phải dựa trên sự đồng ý và tự nguyện của các đương sự. Gia đình là đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội. Gia đình có quyền đòi hỏi được xã hội và quốc gia bảo vệ.

Điều 17: Mỗi người, một mình hay chung với người khác, đều có quyền tư hữu. Không một ai có thể tước bỏ quyền tư hữu của người khác.

Điều 18: Mỗi người đều có quyền tự do về tư tưởng, lương tri và tôn giáo. Quyền tự do này bao gồm tự do thay đổi tôn giáo hoặc tín ngưỡng, tự do hoạt động một mình hay cùng với người khác tại nơi công cộng hoặc ở tư gia để xiển dương hay rao giảng về tôn giáo hoặc tín ngưỡng của mình qua tổ chức nghi lễ thờ phượng hoặc sống theo giáo lý.

Điều 19: Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận. Quyền tự do này bao gồm tự do phát biểu và bảo vệ ý kiến mà không bị ngăn trở; cũng như quyền tự do thu thập và truyền đạt tin tức và ý tưởng bằng mọi phương tiện và qua mọi biên giới.

Điều 20: Mọi người có quyền tự do lập đoàn thể và hội họp trong tinh thần ôn hòa. Không ai có thể bị cưỡng bách phải gia nhập một hội đoàn nào đó.

Điều 21: Mọi người đều có quyền trực tiếp, hoặc gián tiếp qua người đại diện, tham gia điều khiển sinh hoạt quốc gia. Mọi người đều được bình đẳng trong việc tham gia đảm nhận các trách vụ trong chính quyền của đất nước. Ý dân là nền móng quyền lực của chính quyền. Ý dân phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ được tổ chức một cách nghiêm túc và công bằng, mọi cử tri đều có quyền bỏ phiếu và tự do hoàn toàn khi chọn bầu người đại diện.

Điều 22: Là một thành viên của xã hội, mỗi người đều có quyền đòi hỏi được bảo đảm về an sinh xã hội.

Điều 23: Mỗi người đều có quyền lao động, quyền tự do chọn nghề, quyền được làm việc trong một môi trường xứng đáng, và quyền được bảo vệ khi thất nghiệp. Mọi người được hưởng thù lao như nhau cho những công việc giống nhau.

Điều 24: Mỗi người có quyền được nghỉ ngơi, quyền đòi hạn chế một cách hợp lý thời gian làm việc, quyền nghỉ phép một số ngày theo quy định mà vẫn hưởng lương.

Điều 25: Mỗi người đều có quyền đòi hỏi để ít nhất cũng có một mức sống tối thiểu, bảo đảm về sức khoẻ và sự an vui cho gia đình và cho bản thân. Người mẹ và đứa trẻ có quyền đòi hỏi những giúp đỡ và tương trợ đặc biệt.

Điều 26: Mỗi người đều có quyền được học hành. Các cấp sơ cấp và tiểu học phải được miễn phí. Giáo dục phải có mục đích mở mang kiến thức, phát triển nhân cách và tạo ý thức tôn trọng Nhân Quyền.

Điều 27: Mỗi người đều có quyền tham gia vào sinh họat văn hóa cộng đồng, được thưởng lãm nghệ thuật và được hưởng các tiến bộ khoa học. Nếu là tác giả, mỗi người đều có quyền được bảo vệ quyền lợi vật chất và tinh thần do công trình sáng tạo hoặc tác phẩm của mình đem lại.

Điều 28: Mọi người đều có quyền đòi hỏi một môi trường quốc gia và quốc tế thuận lợi cho sự thực thi trọn vẹn các quyền hạn và quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này.

Điều 29: Mỗi người chỉ có bổn phận đối với cộng đồng nào đã giúp mình phát triển nhân phẩm một cách tự do và trọn vẹn.

Điều 30: Không một cá nhân, một tổ chức hoặc một chính quyền nào được diễn giải lệch lạc các quy định trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền này rồi tự cho mình quyền huỷ bỏ các quyền hạn và quyền tự do của một người nào đó.

Vào những thế kỷ cận đại gần chúng ta, con người mới từ từ nhận ra tầm quan trong của chính trị, của Nhân Quyền trong đời sống, nó chi phối cuộc sống con người từ A tới Z, nếu chúng ta không có quan điểm đứng đắn về vai trò này. Vì xã hội con người luôn luôn xẩy ra cảnh kẻ mạnh hiếp đáp kẻ yếu, kẻ nắm được quyền hành ức chế kẻ cô thế. Điển hình là trong các thế kỷ 18, 19 con người còn bị mua bán, người có quyền hành, có tiền bạc còn có quyền mua bán người khác làm nô lệ, làm đứa ở, làm việc nhà, làm tôi mọi cho giới giầu có, giới chủ nhân. Người có tiền và có quyền tha hồ bóc lột người làm công, làm nô lệ cho mình. Lúc đó chưa có luật lệ nào bảo vệ quyền làm người cho người nô lộ, cho giới cùng đinh trong xã hội.

Nếu có luật thì lại là luật bảo vệ người quyền thế, kẻ có tiền, giới chủ nhân. Từ ngày có cao trào tranh đấu đòi quyền làm người của Mục Sư Luther King cho người da đen ở Mỹ, lúc đó việc mua bán nô lệ trên thế giới mới từ từ được chấm dứt. Khi chưa có Tuyên Ngôn Quốc Tế về Nhân Quyền, người yếu thế da đen ở các nước Châu Phi bị mua bán ngang hàng như thú vật.

Gandhi (1869-1948) còn có tên gọi là Mahan das Karamchand, chính trị gia và triết gia Ấn Độ, người đã đề xướng phương pháp “tránh đấu bất bạo động, bất hợp tác”, đã áp dụng phương pháp ấy để tranh đấu cho nước Ấn được độc lập khỏi sự đô hộ của người Anh. Nelson Mandela đứng dậy đòi quyền bình đảng giữa người da đen và người da trắng, đòi phân chia đất đai một cách công bằng; cuộc tranh đấu bất bạo động, nhưng lâu dài, đã đem lại quyền bình đẳng cho châu Phi. Là những tấm gương làm chính trị thật trong sáng, đem lại công lý cho người bị phân biệt đối xử, cho quyền làm người.

Những tôn giáo có ảnh hưởng lớn tới nền văn minh của nhân lọai, cũng đã nhận ra tầm quan trọng của việc tham gia vào môi trường chính trị, không những đã khích lệ người tín hữu của mình phải tham gia môi trường này, mà còn viết thành văn bản để làm tài liệu hướng dẫn như trong Hiến Chế về người Tín Hữu Giáo Dân số 42 có viết:
“ Đức ái để yêu thương và phục vụ con người không được tách rời khỏi đức công lý: cả hai theo cách riêng biệt của mình đòi buộc mọi người phải hoàn toàn công nhận thực sự các quyền lợi của con người, vì xã hội với các cơ cấu và thể chế được đặt ra vì con người. Để đem đời sống Kitô hữu vào trật tự trần thế , nghĩa là đem (đem đạo vào đời) theo ý nghĩa là phục vụ con người và xã hội, các tín hữu giáo dân tuyệt đối không thể từ chối tham gia vào “Chính trị” , nghĩa là vào các hoạt động nhiều sắc thái, kinh tế, xã hội, lập pháp, hành chánh, văn hóa, có mục đích cổ võ công ích một cách có cơ chế. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã nhiều lần qủa quyết điều này: mọi người và mỗi người có quyền lợi và bổn phận phải tham gia vào chính trị; việc tham gia này mang nhiều hình thức khác nhau và bổ túc cho nhau, trên nhiều mức độ khác nhau cũng như trong các bổn phận và trách nhiệm khác nhau. Chúng ta thường nghe những nhà cầm quyền, quốc hội, giai cấp cai trị và các đảng phái chính trị bị tố cáo là những kẻ lợi dụng thời cơ, thờ lạy quyền bính, ích kỷ tham nhũng; rồi chúng ta cũng thấy dư luận quần chúng đó đây bảo chính trị chỉ là nơi vô luân lý; tất cả lời khinh khi này không cách nào bào chữa được cho người công giáo trốn tránh chính trị, nghi ngờ việc chung”.


Từ Hiến Chế này đã dần dần đưa đến việc thiết lập Văn Phòng Công Lý và Hòa Bình, rồi từ văn phòng này được nâng lên thành như một cấp Bộ tại Giáo Triều ở Roma, và ngày nay đã lan toả ra khắp thế giới. Tại quốc gia nào có người Công gíáo, có Hội Đồng Giám Mục là có một vị Giám Mục được chỉ định phụ trách Ủy Ban Công Lý và Hòa Bình. Việt Nam là một nước Cộng Sản, trong kỳ Họp Đại Hội từ 04 đến 08/10/2010 của HĐGMVN cũng đã cử Giám Mục Nguyễn Thái Hợp, GM. Địa phận Vinh phụ trách Ủy Ban này. Dù có trễ cũng còn hơn không, vì nơi đâu chưa có Công Lý, còn bất công thì ở đó chưa có Hòa Bình. Đây là những việc làm cụ thể của các tôn giáo lớn, có ảnh hưởng đến nhân loại quan tâm đến vai trò chính trị trong cuộc sống của con người.


Chính trị là một nghề, một nghệ thuật lãnh đạo đất nước, để đưa đất nước đó đi lên tạo ra nhiều môi trường tốt hơn để phụ vụ con người. Người làm việc và hoạt động trong môi trường chính trị có trong sáng, mới quyết tâm phục vụ công ích, mới hành xử quyền công dân khi xử dụng lá phiếu một cách sáng suốt, và người đắc cử mới làm tròn trách nhiệm người đại diện do dân và vì dân, họ mới biểu quyết ra những luật lệ ích quốc lợi dân; quản lý đất nước một cách nghiêm minh trong sáng, tránh không còn tham ô hối lộ. Người Việt Nam chúng ta đang có mặt ở nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là những người trẻ, nên tích cực quan tâm đến vấn đề chính trị ngay nơi các quốc gia sở tại. Tham gia bầu cử một cách tích cực, và còn ra ứng cử khi có những điều kiện thuận lợi, để có cơ hội nói lên nguyện vọng của mình, đòi lại những quyền lợi cho những người thấp cổ bé miệng ngay trong xã hội chúng ta đang sống. Đòi lại những công sản, những quyền lợi mà mỗi người khi sinh ra mặc nhiên đã được thừa hưởng như trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đã ban hành ngày 10-12-1948. Đối với người Việt Nam ở trong nước thì cho đến ngày nay, ngay ở thành phần lãnh đạo các tôn giáo, nhiều vị lãnh đạo vẫn còn quan điểm, làm chính trị là một nghề không tốt, không lương thiện; một nghề phải dùng đến những thủ đoạn, gian dối, lừa gạt và tệ hơn nữa là thanh trừng người khác. Chính vì quan điểm đó các ngài sợ sệt không dám dây dưa, lên tiếng trước những bất công oan trái mà người dân hay chính các đồng đạo của họ phải chịu. Tệ hơn nữa còn can gián những người dấn thân vào địa hạt này. Đúng ra họ phải được các chính quyền độc tài ân thưởng vì đã tiếp tay giúp họ chấn áp, bóc lột người cô thế mạnh hơn, giúp họ độc tài và tham nhũng mạnh hơn với người dân dưới quyền

Cái hậu qủa của Việt Nam hôm nay, cũng do người Việt Nam chúng ta thờ ơ với vấn đề chính trị, cứ sợ rằng, người làm chính trị là nhúng tay vào máu như Hồ Chí Minh, nên ta tìm cách tránh xa, để HCM và đảng do ông lập ra thả dàn hủy hoại đất nước trên mọi lãnh vực. Nếu mọi người Việt Nam cùng có quan tâm đến vấn đề chính trị thì nhà cầm quyền độc tài của Việt Nam không thể nào cai trị đất nước này lâu dài từ 1954 đến nay. Không thể nào có một quốc hội bù nhìn từ ngày đó đến giờ, và đất nước bị suy đồi về luân lý, đạo đức như hôm nay.

Người Việt Nam ở trong nước, đã phải sống dưới chế độ hà khắc này, ở miền Bắc đã gần trọn thế kỷ, ở miền Nam đã 35 năm, thời gian qúa lâu cho một chế độ độc tài chuyên lừa dối, đầy mưu mô xảo trá. Thời gian qúa đủ để cộng sản thuần hóa người dân thấp cổ bé miệng, đến cả những người được mệnh danh là giới lãnh đạo tinh thần của các tôn giáo, vì Cộng Sản khéo lừa đảo nên ai cũng mắc mưu, khi đã mắc mưu rồi thì không làm không yên với chúng, đến nỗi Cộng Sản sai bảo họ đến với cộng đồng hải ngoại để ngửa tay xin tiền họ cũng làm.

Nhưng những người đã chạy thóat ra được hải ngoại, được tiếp xúc với thế giới tự do, chúng ta cần phải có quan điểm rõ ràng về vấn đề chính trị. Về quyền làm người, về những quyền mỗi người khi đã được sinh ra, mặc nhiên được hưởng, chứ không phải xin người cầm quyền mới ban cho. Khi nhận ra những nhân quyền đó, chúng ta không còn sợ hãi như người ở trong nước, không còn bị ru ngủ với những lời lẽ: “Các anh làm gì cũng được, đừng đụng đến vấn đề chính trị là yên”. Xắc định lại lập trường của mình, để không tiếp tay dưới mọi hình thức cho chế độ độc tài phi dân chủ, phi đạo đức, cứu lấy dân tộc Viện Nam của chúng ta.

Người Việt ở hải ngoại trên 54 quốc gia, với hơn ba triệu người, chúng ta chỉ cần có lập trường chính trị rõ ràng, cùng chung một quan điểm, không đồng tình, không chấp nhận chế độ phi nhân Cộng Sản Việt Nam, đoàn kết với nhau thì cho có mười nghị quyến 36 của đảng Cộng sản, chúng cũng không thể lay chuyển nổi lập trường chống cộng của chúng ta. Cộng Sản có gởi ra nước ngoài hàng trăm đoàn văn công, chúng có hát múa mỏi cổ cũng mua lấy thảm bại lỗ lã khi về nước.

Người tỵ nạn luôn nhớ và tâm niệm rằng, chúng ta đã bị đảng lột sạch, lột hết chỉ còn cái quần đùi khi vượt thoát được đến vùng trời tự do. Chúng ta đừng để Cộng Sản lột thêm nữa, khi ở xứ sở này chúng ta phải phấn đấu, học tập và làm việc vất vả mới có ngày hôm nay. Chúng ta phải hy sinh, chịu khó nuôi dậy con cái nên người ở xứ sở này bằng mồ hôi và sự nhẫn nại, chứ không đi ăn cắp, đi hối lộ hay đi lượm được đô la ở ngoài đường, nên nhất định không nghe những lời ủy mị ngọt lịm tình quê hương, như cho chúng ta là “Khúc ruột ngàn dặm”, Khúc ruột ngàn dặm này trước đây 30 năm khi trốn đi vượt biên bị bắt lại, chúng ta có không bị tra khảo, đánh đập, bỏ tù và bị kết án là đồ “phản quốc” hay không ? Ngày đi vượt biên chúng ta là tội nhân, ngày nay chúng ta lại là “ khúc ruột ngàn dặm” là “ Việt Kiều yêu quái”, cũng cái mồm, cái miệng cộng sản nói ra mà sao chúng ta không tỏ rõ lập trường chính trị là dứt khoát không với Cộng Sản.

-Chuyển hướng du lịch đến các quốc gia khác để có tầm nhìn rộng hơn.

-Chỉ giúp đỡ những nhu cầu thật cần thiết với người thân.

-Tẩy chay không coi văn nghệ Việt Cộng, mà là tố giác những tên đội nốt visa du lịch đi hát chui, hát lậu.

-Có mặt ở bất cứ nơi đâu khi có phái đoàn của Cộng Sản Việt Nam vác mặt tới

Người Việt ở hải ngoại trên toàn thế giới, có lập trường chính trị, chúng ta cùng nhau đứng lên tẩy chay chế độ độc tài thì chế độ sẽ bị cáo chung. Chỉ khi đó dân tộc Việt mới không còn nghèo đói, trẻ em mới được cắp sách đến trường học tập tử tế, bệnh nhân nghèo mới có nơi nằm trong bệnh viện và được chăm sóc, thế hệ trẻ mới khỏi bị đi làm thuê làm mướn, ở đợ, làm đĩ cho các dân tộc lân cận.

Ý thức tầm quan trọng của chính trị trong cuộc sống, dứt khoát không với chế độ độc tài cộng Sản Việt Nam, với ngần ấy người Việt ở hải ngoại đủ giật sập chế độ phi nhân bản, phi đạo đức đang bị ruỗng nát từ thượng tầng đến hạ tầng vì bất công và tham nhũng. Đòi lại những quyền căn bản đã được ghi trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, đã được ban hành và nhìn nhận từ 62 năm trước (10-12-1948).

Là người Việt Nam có mặt trên hành tinh này hôm nay, chúng ta không thể thờ ơ với vấn đề Nhân Quyền./-

BÙI VĂN ĐỖ


0 comments:

Powered By Blogger