Monday, April 2, 2012

Một lá thư trần tình hay nhất thế giới


Tháng 4 đen, năm 1975 và mãi mãi...

Ngày 21/4/1975, khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, trao quyền lại cho cụ Trần Văn Hương, tôi còn nhớ rõ lời ông Thiệu nói:

“Mất một Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, quân đội còn Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, đồng bào còn một chiến sĩ Nguyễn Văn Thiệu. Tôi nguyện sẽ chiến đấu kế bên anh em chiến sĩ”.

Lời tuyên bố của ông Thiệu đã gây cho tôi sự xúc động. Thế rồi lời tuyên bố ấy cũng đã bay theo gió, khi số lớn cấp chỉ huy trực tiếp điều hành guồng máy quốc gia đã vỗ cánh chim bay sang ngoại quốc, tìm nơi ẩn trốn an lành, bỏ mặc quê nhà, dân tộc và quân đội đang chết đuối trong cuồng phong súng đạn tơi bời, Thiếu Tướng Nam, Hưng, Hai, Vỹ, Phú. Nhắc đến đây tôi không ngăn nổi tiếng nấc nghẹn ngào.

Ôi tiếng súng nổ rền vang trên khắp lãnh thổ. Mùa hè năm 1972, nhà văn Phan Nhật Nam đã mệnh danh là mùa hè đỏ lửa. Mùa hè máu. Mùa hè cuối đầy yêu đương. Mùa hè tận cùng vực thẳm. Còn mùa hè 30/4/1975 bi thương thê thảm ngần nào? Chúng ta còn đủ ngôn từ để diễn tả tận cùng nỗi thương tâm kinh hoàng của sinh ly, từ biệt, cuống cuồng ấy không? Tin thất trận từ các Vùng 1,2,3 bay về dồn dập. Có những nơi chưa đánh đã bỏ cho địch tràn vào. Cũng có nơi quyết liều tử chiến. Thảm thương thay, cuộc rút quân hỗn loạn bi đát chưa từng có trong lịch sử và quân sử.




Đài VOA và BBC tuyên bố những tin thất bại nặng nề về phía QLVNCH khiến lòng dân càng thêm khiếp đảm. Những đoàn quân thất trận, tả tơi manh giáp, không người chỉ huy, cuống quýt chạy như đàn vịt bị săn đuổi. Tinh thần binh sĩ rối loạn hoang mang tột độ. Họ thì thào bảo nhau:

- “Tổng Thống Thiệu, Thủ Tướng Khiêm, Đại Tướng Viên đã cao bay xa chạy, còn đánh đấm gì nữa. Ông Tướng này, ông Tỉnh nọ, đã trốn đi ngoại quốc, chúng ta còn đánh làm gì”. Họ còn hỏi nhau:

- “Bao nhiêu năm chúng ta chiến đấu cho tổ quốc, hay chiến đấu cho tập đoàn tham nhũng? Hay cho cá nhân của ai đây?”




Mất người chỉ huy, những quân nhân như rắn không đầu, rối rít, tan rã. Lại có những câu hỏi:

- “Quân không Tướng chỉ huy thì sao?” Có những kẻ chủ tâm dè bỉu, thường chỉ trích chê bai:

- “Có những ông Tướng mà biết đánh giặc cái gì! Chỉ có lính đánh để các ông Tướng hưởng”.




Lời phê bình của những kẻ bất mãn hay những kẻ có tâm địa hạn hẹp, thật chẳng khác nào ếch ngồi đáy giếng. Cho dù có những vị Tướng bê bối, làm cho quân đội bị nhục, thì cũng có những vị Tướng trong sạch đức độ, lỗi lạc, tài ba, đáng cho dân quân khâm phục. Những phần tử bất mãn ấy đã vô tình hay cố ý không thấy việc tối quan hệ của sự hỗ tương, hỗ trợ, giữa các Tướng Lãnh, Sĩ Quan, và Binh Sĩ thật cần thiết cho quân đội và quốc gia như thế nào. Đối với những vị cao minh, hiểu biết giá trị hy sinh của những người tuẫn tiết, tôi trang trọng cúi đầu cảm tạ, tri ân. Có nhiều người đã nêu lên câu hỏi với tôi:



“Tại sao Tướng Nam , Tướng Hưng chết làm chi cho uổng? Tại sao các ông Tướng ấy không tiếp tục chiến đấu? Tại sao các ông không trốn sang ngoại quốc?”

Lại có người nghiêm khắc trách tôi:

“Bà thật dở. Nếu là tôi, tôi quyết liệt can ngăn không để cho các ông ấy chết. Vợ con như thế này, ông Hưng chết đành bỏ vợ con lại sao?”




Ngay cả vài vị phu nhân của các Tướng Lãnh, hoặc còn ở trong tù, hoặc đã an nhàn nơi xứ người, cũng thốt ra những lời chỉ trích tôi. Nghe những lời phê bình ấy, tim tôi đau nhói. Tôi tôn trọng sự nhận xét “theo tầm hiểu biết của họ”. Tôi ngán ngẩm không trả lời, chỉ mỉm cười lắc đầu. Nhưng hôm nay tôi phải lên tiếng. Lên tiếng để tạ ân những người đang âm thầm chiến đấu ở Việt Nam, để tạ ân những người hùng can đảm đã, đang, và sẽ tiếp tục đánh đuổi Cộng Sản cứu quê hương, để trả lời những người đã nêu lên nhiều câu hỏi đó. Tôi trân trọng xin những vị nào đã có những lời chỉ trích nên bình tâm suy nghĩ lại, trước khi phán đoán vì… những vị Tướng Lãnh bách chiến bách thắng lại lẽ nào chịu xuôi tay nhục nhã trước nghịch cảnh, trước kẻ thù? Những vị Tướng đã từng xông pha trong mưa đạn, bao lần thử thách với tử thần, với nhiều chiến công từ cấp bậc nhỏ lên tới hàng Tướng Lãnh, đã từng khắc phục gian nguy, xoay ngược thế cờ, chuyển bại thành thắng trên khắp mặt trận, lẽ nào những vị Tướng ấy chỉ nghe hai tiếng “buông súng” rồi giản dị xuôi tay tự sát hay sao?




Viết đến đây tôi mạn phép nêu lên câu hỏi:

- Thưa toàn thể quý vị sĩ quan QLVNCH. Ngày quý vị nhận lãnh chiếc mũ sĩ quan của trường Võ Bị, quý vị còn nhớ sáu chữ gì trên chiếc mũ ấy không? Sáu chữ mà quý vị trịnh trọng đội lên đầu là: “Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm”. Ngày mãn khóa sĩ quan với những lời tuyên thệ, quý vị hẳn nhớ? Cũng như những điều tâm niệm ai lại chẳng thuộc lòng? Những vị bỏ nước ra đi trước binh biến, những vị ở lại bị sắp hàng vào trại tù Cộng Sản, tôi xin tạ lỗi, vì thật tình tôi không dám có lời phê phán nào. Tôi chỉ muốn nói lên tất cả sự thật về cái chết của hai vị TướngNguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng . Hai vị Tướng này đã ba lần từ chối lời mời di tản sang ngoại quốc của viên cố vấn Mỹ, cương quyết ở lại tử chiến, bảo vệ mảnh đất Vùng 4. Viên cố vấn Mỹ hối thúc, đợi chờ không được, sau cùng chán nản và buồn bã bỏ đi.

Trước đó, vào ngày 29/4/1975, lời tuyên bố của Vũ Văn Mẫu và Dương Văn Minh trên đài phát thanh Sàigòn ra lệnh tất cả người Mỹ phải rời Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ, thì chính là lúc “kế hoạch hành quân mật của hai Tướng Nam Hưng đã hoàn tất.”

Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người thay thế Tướng Vĩnh Lộc vào những ngày giờ cuối tới tấp điện thoại về Cần Thơ. Ông Hạnh đã dùng tình cảm chiến hữu, dùng nghĩa đàn anh thân thuộc, khẩn khoản yêu cầu Tướng Hưng về hợp tác với Dương Văn Minh và Nguyễn Hữu Hạnh. Thâm tâm có lẽ ông Hạnh lúc đó muốn đò xét thái độ của hai Tướng Vùng 4 như thế nào. Nhiều lần, qua cuộc điện đàm với Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Tướng Hưng đã luôn khẳng định:





“Không hợp tác với Dương Văn Minh. Không đầu hàng Cộng Sản. Tử chiến đến cùng”

Khi Tổng Thống Thiệu từ chức, trao quyền lại cho cụ Trần Văn Hương, và rồi vì hoàn cảnh đắm chìm của vận mệnh đất nước, trước nhiều áp lực nên cụ Hương đã trao quyền lại cho Dương Văn Minh, để rồi “ông Tướng hai lần làm đổ nát quê hương, ố hoen lịch sử này, hạ mình ký tên dâng nước Việt Nam cho Cộng Sản.” Vị Tướng Lãnh trấn thủ một vùng, tùy hoàn cảnh đất nước, và tình hình chiến sự địa phương, trọn quyền quyết định, xoay chuyển thế cờ, không cần phải tuân lệnh một cách máy móc theo cấp chỉ huy đầu não đã trốn hết, thì còn chờ lịnh ai? Phải tuân lịnh ai? Tóm lại, lúc đó lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh và lời kêu gọi của Nguyễn Hữu Hạnh đã không được Tướng Nam và Tướng Hưng đáp ứng.




Viết đến đây, tôi xúc động lạ thường. Tôi nghẹn ngào rơi lệ nhớ đến một số sĩ quan binh sĩ đã bật khóc khi nghe lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh. Anh em đã ôm lá cờ tổ quốc, ôm khẩu súng vào lòng nức nở. Có những chi khu trưởng và những đồn trưởng nhất định không chịu đầu hàng. Họ đã tử thủ đến viên đạn chót. Và viên đạn chót dành để kết liễu đời mình. Cấp bậc của những anh em ấy không cao, chỉ chỉ huy khu nhỏ, hay một đồn lẻ loi, nhưng tinh thần tranh đấu của anh em cao cả và oai hùng thế đấy.

Trong khi Sàigòn bỏ ngỏ đầu hàng thì Cần Thơ vẫn an ninh tuyệt đối. Kế hoạch hành quân đã thảo xong. Vũ khí lương thực đạn dược sẵn sàng. Tất cả đều chuẩn bị cho các cánh quân di chuyển, sẽ đưa về các tuyến chiến đấu. Kế hoạch di quân, phản công, và bắt tay nằm trong lịnh mật quân hành đó. Vùng 4 có nhiều địa thế chiến lược, có thể kéo dài cuộc chiến thêm một thời gian. Bởi lúc đó, cho đến ngày 29 tháng 4 năm 1975, chưa có một đồn nào, dù ở quận lỵ xa xôi hẻo lánh ở Vùng 4 đã lọt vào tay giặc Cộng.

Nhưng, Cần Thơ, sáng ngày 30/4/1974, dân chúng nhốn nháo hoang mang. Đã có một số binh sĩ bỏ ngũ. Tại thị xã, cảnh náo loạn đáng buồn chưa từng có đã xảy ra. Từng nhóm đông đảo bọn ác ôn và thừa nước đục thả câu đã ra tay cướp giật tài sản ở các cơ sở Mỹ, và ở những nhà tư nhân đã bỏ trống, bất chấp tiếng súng nổ can thiệp của cảnh sát duy trì an ninh trật tự công cộng. Chúng cướp giật, đập phá, hò hét như lũ điên. Chắc chắn trong số này có bọn Cộng Sản nằm vùng có ý đồ gây rối loạn áp đảo tinh thần binh sĩ.




Lúc ấy Tướng Nam và Tướng Hưng vẫn còn liên lạc với các cánh quân chạm địch. Nhiều cánh quân nồng cốt được đưa về thị xã Cần Thơ để bảo vệ Bộ Chỉ Huy Quân Đoàn, nằm chung quanh vòng đai Alpha. Từ 2 giờ đến 4 giờ chiều ngày 30 tháng 4, giờ đã điểm. Đúng theo kế hoạch lệnh hành quân bắt đầu. Nhưng hỡi ôi, khi liên lạc đến các cấp chỉ huy của các đơn vị thì mới hay họ chưa biết tý gì về kế hoạch, chưa rục rịch chi hết, ngoài việc thay đổi các cuộc bố trí từ sáng đến giờ phút này.

Tìm kiếm Đại Tá an ninh, người đã lãnh nhiệm vụ phân phối phóng đồ và lệnh hành quân mật đến các đơn vị, thì mới vỡ lẽ ra vị sĩ quan này đã đưa vợ con tìm đường tẩu thoát sau khi ném tất cả mật lệnh vào tay vị Đại Úy dưới quyền. Ông này cũng đã cuốn gói trốn theo ông Đại Tá đàn anh, cho có thầy, có trò. Các phóng đồ và lệnh hành quân mật cũng đã biến mất. Thiếu Tướng Nam và Thiếu Tướng Hưng tức uất không sao tả nổi. Tôi không ngăn nổi tiếng nấc nghẹn ngào khi hồi tưởng lại vẻ bối rối của Thiếu Tướng Nam và sự đau khổ thất vọng của Hưng. Những đường gân trán nổi vòng lên, răng cắn chặt, biểu lộ sự đau đớn và chịu đựng kinh hồn. Người đập tay đánh ầm xuống bàn khi thấy kế hoạch sắp xếp thật tinh vi bị kẻ phản bội hèn nhát làm gãy đổ bất ngờ. Hưng ngước mắt nhìn tôi như muốn hỏi:

“Có đồng ý đem con lánh nạn không?”

Tôi cương quyết từ chối. Tôi không cầu an ích kỷ, tìm sống riêng, bỏ mặc người trong cảnh dầu sôi lửa đỏ. Tôi nhất định ở lại, cùng chịu hoạn nạn, cùng liều chết. Hưng hỏi tôi:

“Thành công là điều chúng ta mong ước, nhưng rủi thất bại, em định liệu lẽ nào?”

Tôi đáp:

“Thì cùng chết! Các con cũng sẽ thế. Em không muốn một ai trong chúng ta lọt vào tay Cộng Sản”.

Và để khỏi phải sa vào tay giặc Cộng, tôi bình tĩnh thu xếp cái chết sắp tới cho mẹ con tôi, đường giải thóat cuối cùng của chúng tôi. 4g45 chiều ngày 30/4/75, Tướng Hưng rời bỏ văn phòng ở Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 4, về bộ chỉ huy phụ, nơi chúng tôi tạm trú.




Hưng không muốn chứng kiến cảnh bàn giao ô nhục sắp tới giữa Thiếu Tướng Nam và tên Thiếu Tá Việt Cộng Hoàng Văn Thạch. Năm giờ rưỡi chiều khi Hoàng Văn Thạch tiến vào Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn là lúc Hưng gọi máy liên lạc với Tướng Mạch Văn Trường, ra lệnh đưa hai chi đội thiết giáp tới án ngữ ở dinh Tỉnh Trưởng để bảo vệ Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 21 mới về đóng nơi đây. Sau đó Hưng tiếp tục liên lạc với các đơn vị đang tiếp tục chạm súng ở các tiểu khu. Đồng thời Hưng mời Tướng Mạch Văn Trường cùng các đơn vị trưởng ở chung quanh vòng đai thị xã Cần Thơ về họp. 6g30 chiều, khi các vị sĩ quan vừa ra đến cổng, có một toán thân hào nhân sĩ quen biết tại Cần Thơ đang chực sẵn, gồm khoảng 10 người. Họ xin gặp Tướng Hưng, với tư cách đại diện dân chúng thị xã, yêu cầu:




“Chúng tôi biết Thiếu Tướng không bao giờ chịu khuất phục. Nhưng xin Thiếu Tướng đừng phản công. Chỉ một tiếng lệnh của Thiếu Tướng phản công, Việt Cộng sẽ pháo kích mạnh mẽ vào thị xã. Cần Thơ sẽ nát tan, thành bình địa như An Lộc. Dù sao, vận nước đã như thế này rồi, xin Thiếu Tướng hãy vì dân chúng, bảo toàn mạng sống của dân, dẹp bỏ tánh khí khái, can cường…”.




Nghe họ nói, tôi cảm thấy đau lòng lẫn khó chịu. Tôi cũng không ngạc nhiên về lời yêu cầu đó. Bởi mới tuần lễ trước, Việt Cộng đã pháo kích nặng nề vào khu Cầu Đôi, cách Bộ Tư Lệnh không xa, gây thiệt hại cao về nhân mạng và tài sản của đồng bào. Dân chúng Cần Thơ còn khiếp đảm. Hưng như đứng chết lặng trước lời yêu cầu ấy. Một lát sau, Hưng cố gượng nở nụ cười trả lời:

“Xin các ông yên lòng. Tôi sẽ cố gắng hết sức để tránh gây thiệt hại cho dân chúng”.

Toán người ấy ra về. Hưng quay sang hỏi tôi:

“Em còn nhớ tấm gương cụ Phan Thanh Giản? Bị mất ba tỉnh miền đông, rồi cũng vì dân chúng mà cụ Phan đã nhún mình nhường thêm ba tỉnh miền tây cho quân Pháp. Cụ Phan không nỡ thấy dân chúng điêu linh và cũng không để mất tiết tháo, không thể bó tay làm nhục quốc sĩ. Cụ Phan Thanh Giản đành nhịn ăn rồi uống thuốc độc quyên sinh”.

Trầm ngâm vài giây, Hưng tiếp:




“Thà chết chứ đâu thể bó tay trơ mắt nhìn Việt Cộng tràn vào”.

6g45 chiều ngày 30 tháng 4, Tướng Nam điện thoại cho Hưng, hỏi tình hình các nơi. Hưng báo với Tướng Nam về việc đại diện dân chúng thị xã đến yêu cầu thẳng với Hưng. Hưng cũng cho Tướng Nam biết đặc lệnh truyền tin mới nhất sẽ giao cho người tín cẩn phân phối. Tướng Nam cho Hưng hay là ông đã cho thu băng lời kêu gọi dân chúng và lời yêu cầu này sẽ cho đài Cần thơ phát thanh. Nhưng mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Thêm một lần nữa, sự gây đổ đau lòng. Đài Cần Thơ bị nội ứng trước đó, khoảng một giờ, viên giám đốc đài bị uy hiếp, thay vì phát thanh cuốn băng của Thiếu Tướng Nam trước, chúng thay cuốn băng có lời kêu gọi của Thiếu Tá Cộng Sản Hoàng Văn Thạch. Khoảng mười phút sau, đài mới phát thanh cuốn băng của Tướng Nam. Muộn màng rồi. Không còn níu kéo được sự tin tưởng nơi dân chúng và binh sĩ được nữa. Hàng ngũ các đơn vị đã thưa thớt lại càng thêm thưa thớt.




7g30 tối ngày 30 tháng 4, Hưng gọi tôi lên văn phòng làm việc. Đây là giờ phút nghiêm trọng nhất, không có ai hiện diện hết. Sau khi kể cho tôi nghe hết sự đổ vỡ từ trưa đến giờ phút đó, Hưng nhấn mạnh:

“Hoàng, em đã hiểu sự thất bại do các nguyên nhân sau đây: Vị Đại Tá không tuân lệnh, nên giờ chót không điều động quân về các vị trí chiến lược, trù liệu theo kế hoạch. Việc níu kéo sự tin tưởng của dân chúng và binh sĩ không thành. Lời kêu gọi trễ tràng của Tướng Nam không có tiếng vang. Cũng như lời yêu cầu của dân chúng thị xã Cần Thơ”.

Quắc đôi mắt sáng, Hưng nhìn tôi dằn giọng:

“Em phải sống ở lại nuôi con”.

Tôi hoảng hốt:

“Kìa mình, sao mình đổi ý?”

“Con chúng ta vô tội, anh không nỡ giết con.”

“Nhưng không thể để con sống với Cộng Sản. Em sẽ thay mình làm chuyện đó. Chỉ cần chích thuốc ngủ cực mạnh cho con. Chờ em một chút, chúng ta cùng chết một lúc”.

“Không thể được. Cha mẹ không thể giết con. Anh van mình. Chịu nhục, cố sống. Ở lại thay anh, nuôi con trở thành người công chính. Phú quý vinh hoa địa vị hãy đề phòng, những thứ đó dễ làm mờ ám lương tri. Nhớ, giang san tổ quốc là trọng đại hơn hết. Gắng chịu cúi lòn, nhục nhã để nuôi con và cũng nuôi luôn ý chí để có ngày còn phục hận cho đất nước chúng ta”.

“Nếu vì con, mình thương con, sao mình không đi ngoại quốc?”

Hưng đanh mặt lại, nghiêm khắc nhìn tôi trách móc:

“Em là vợ anh. Em có thể nói được câu ấy sao?”

Biết mình vụng về, lỡ lời xúc phạm đến người, tôi vội vàng tạ lỗi:

“Xin mình tha thứ. Chẳng qua vì quá thương mình nên em mới nói thế”.




Giọng Hưng thật nghiêm trang mà cũng thật trầm tĩnh:

“Nghe anh nói đây. Người ta trốn chạy được. Chớ anh không bao giờ trốn chạy. Mấy ngàn binh sĩ dưới tay, hồi nào sinh tử có nhau, giờ bỏ mặc họ tìm sống riêng mình sao? Anh cũng không đầu hàng. Bây giờ thì rút cũng không kịp nữa, vì vào mật khu mà không có nguồn tiếp liệu vũ khí, đạn dược, lương thực thì không cầm cự được lâu. Đã muộn rồi. Việt Cộng đang kéo vào đừng để anh không dằn được nổ súng vào đầu chúng, thì gây thiệt hại cho dân chúng và anh em binh sĩ. Anh không muốn thấy bóng dáng một tên Việt Cộng nào”.

Tôi phát run lên hỏi:

“Nhưng mình ơi, còn em? em phải làm gì trong lúc này?”

Nắm chặt tay tôi, Hưng nói:

“Vợ chồng tình nghĩa bao nhiêu lâu, anh hiểu em và em hiểu anh. Em tuy chỉ là con cá nhỏ nhưng biết mang ý chí kình ngư. Gắng chịu nhục. Dù phải chịu trăm ngàn sự nhục nhã để nuôi con, để phục hận cho quê hương. Cải trang, cải dạng, len lỏi mà sống. Anh tin em. Vì anh, vì con, vì nợ nước, tình nhà, em có thể chịu đựng nổi! Nghe lời anh đi. Anh van mình, anh van mình”.

Tôi không sao từ chối được trước ánh mắt van nài, trước những lời tha thiết ấy:

“Vâng, em xin nghe lời mình”.

Hưng sợ tôi đổi ý, tiếp lời thúc giục:

“Em hứa với anh đi. Hứa một lời đi”.

“Em xin hứa. Em xin hứa mình ơi. Nhưng xin cho em hai điều kiện. Nếu Cộng Sản bắt em phải sống xa con, nếu giặc Cộng làm nhục em, lúc ấy em có quyền tự sát theo mình chứ?”

Hưng suy nghĩ giây lâu, gật đầu đồng ý, và ra lệnh cho tôi:

“Em mời má và đem các con lên lầu gặp anh”.

Tôi quay đi. Ánh mắt bỗng chợt đập vào lá cờ vẫn dựng ở góc phòng. Tôi vội vàng đem cờ đến bên người. Tôi nói:

“Bao nhiêu năm chiến đấu để bảo vệ tổ quốc. Bây giờ mình hãy giữ nó”.

Chúng tôi nhìn nhau cảm thông. Hưng ôm lá cờ, áp vào mặt, đôi mắt Hưng chợt ướt. Sau cùng Hưng cũng rán đứng lên hối tôi:
“Mau mời má và mấy đứa nhỏ lên”.

Khi mẹ tôi và các con lên văn phòng, Hưng nói rõ cho mẹ tôi hiểu vì sao người phải chết và tôi phải sống. Vâng lệnh Hưng, tôi mời tất cả sĩ quan binh sĩ còn tụ họp dưới nhà lên văn phòng. Mọi người đứng xếp hàng nghiêm trang và vô cùng cảm động. Giờ phút từ biệt sanh ly giữa những người từng bao ngày sống chết bên nhau. Hưng dõng dạc nói:

“Tôi không bỏ các anh và đưa vợ con trốn sang ngoại quốc. Như các anh đã biết, cuộc hành quân chưa chi đã bị gẫy đổ nửa chừng. Tôi không phản công vào phút chót là vì dân chúng. Tôi không muốn Việt Cộng pháo kích bừa bãi, biến Cần Thơ thành An Lộc thứ hai. Tôi cũng không chịu nhục đầu hàng. Các anh đã từng cộng tác với tôi, những lúc các anh lầm lỗi, tôi rầy la. Rầy la không có nghĩa là ghét bỏ. Rầy la để mến thương nhau, để xây dựng nhau.





Mặc dầu đất nước ta bị bán đứng, bị dâng cho Cộng Sản, nhưng các anh không trực tiếp chịu tội với quốc dân. Chính những người trực tiếp nắm vận mệnh các anh, mới chính là những kẻ trọng tội. Xin các anh tha thứ cho tôi những lỗi lầm, nếu có. Tôi bằng lòng chọn cái chết. Tướng mà không giữ được nước, không bảo vệ được thành, thì phải chết theo thành, theo nước, chớ không thể bỏ dân, bỏ nước, trốn chạy, cầu an. Tôi chết rồi, các anh hãy về với gia đình, vợ con. Nhớ rõ lời tôi căn dặn: Đừng bao giờ để bị Cộng Sản tập trung các anh, dù tập trung dưới bất cứ hình thức nào. Tôi có lời chào vĩnh biệt các anh”.

Tướng Hưng đưa tay chào và bắt tay từng người một. Mọi người đều khóc. Đến bên Thiếu Tá Phương, Trung Úy Nghĩa, Hưng gởi gấm:

“Xin giúp đỡ giùm vợ con tôi. Vĩnh biệt tất cả”.




Mọi người đều đứng yên không ai nói lên được lời nào. Mẹ tôi nhào lại ôm chầm lấy người, xin được chết theo. Hưng an ủi mẹ tôi, yêu cầu mẹ tôi cố gắng chăm lo cho cháu ngoại. Hưng ra lệnh cho tất cả mọi người phải ra ngoài. Không ai chịu đi. Hưng phải xô từng người ra cửa. Tôi van xin:

“Mình cho em ở lại chứng kiến mình chết”.

Người từ chối. Nghĩa hoảng sợ bỏ chạy. Hưng quay vào văn phòng đóng chật cửa lại. Tôi gọi giật Nghĩa:

“Nghĩa trở lại với tôi”.

Tôi bảo Giêng tìm dao nạy cửa. Giêng bỏ chạy như bay. Nghĩa trở lên, đứng trước cửa chờ đợi. Có tiếng súng nổ nghe chát chúa.





Tôi đưa tay xem đồng hồ: 8g45 tối ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ngày kết liễu cuộc đời của chúng tôi. Lê Văn Hưng, anh đã chết. Giêng run run lấy dao nạy cửa. Cửa bật ra. Nghĩa lách mình nhường tôi chạy vào phòng trước. Hưng ngả người nằm trên, nửa người nằm dưới, hai cánh tay dang ra, cong lên và giật mạnh, toàn thân run rẩy từng cơn. Đôi mắt Hưng mở to căm hờn. Miệng Hưng há ra, đôi môi mấp máy. Tôi ôm chầm lấy Hưng hỏi:




“Mình, mình ơi! Mình còn lời gì dặn dò em nữa không?”

Hưng không còn trả lời được tiếng nào. Nghĩa gào lên nức nở:

“Thiếu Tướng! Trời ơi, Thiếu Tướng!”

Giêng chạy vào phụ Nghĩa đỡ lưng và chân, tôi đỡ đầu Hưng, đặt nằm ngay ngắn trên giường. Máu tim nhuộm thắm áo trận, ướt đỏ cả tấm drap trắng. Tôi đưa tay vuốt mắt cho người. Nghĩa vẫn gào khóc:

“Thiếu Tướng! Thiếu Tướng ơi!”

Tôi bảo Giêng:

“Nói Hòa đưa Hải, Hà, Quốc lên nhìn xác ba lần cuối. Dặn Phương cho Khiết, Hoàng giữ ở cầu thang, bất cứ giá nào cũng phải ngăn chận Việt Cộng”.

Tôi đi tìm đầu đạn và đuôi đạn. Còn khẩu súng, lạ lùng thay không biết ở đâu. Đến lúc tắm rửa người, thay drap dấy máu, tôi mới hiểu. Trước khi hồn lià xác, với ý chí cuối cùng, người còn bình tĩnh nhét khẩu súng, dấu dưới nệm. Có lẽ người sợ tôi quá xúc động, quên lời hứa, tự sát theo. Bé Hải lúc ấy năm tuổi, ôm hai chân ba, khóc than, kể lể thảm thiết. Bé Hà hai tuổi, thơ ngây ôm chai sữa, lên nằm trên bụng ba, bé mở tròn đôi mắt to, ngạc nhiên không thấy ba đưa tay bế bé như mọi khi.

Nghĩa điện thoại khắp nơi tìm Thiếu Tướng Nam , không thấy trả lời. Tôi vội vã mở đặc lịnh truyền tin, lên máy gọi liên lạc với Thiếu Tướng. Lúc ra máy, chỉnh tần số, tôi chỉ nghe những giọng nói rặc mùi Cộng Sản trên các tần số thuộc đơn vị của chúng ta. Lũ Việt cộng, ngày 30 tháng 4, tràn vào nhà. Phương cương quyết chận chúng ở cầu thang. Chín giờ rưỡi, 30 tháng 4, chuông điện thoại reo vang:




“Alô, Alô, ai đây?”

“Dạ thưa chị đó à? Hồ Ngọc Cẩn đây”.

Tôi bàng hoàng:

“Anh Cẩn! Có chuyện chi cần không?”

Tôi cố gắng giữ giọng nói cho bình thường, để Cẩn không nhận biết sự việc xảy ra. Trong điện thoại, về phía Cẩn, tôi có nghe tiếng súng lớn nhỏ thi nhau nổ ầm ầm. Cẩn hỏi:

“Thiếu Tướng đâu chị? Cho tôi gặp ông một chút”. Tôi lúng túng vài giây:

“Ông đang điều động quân ngoài kia”.

“Chị chạy ra trình Thiếu Tướng, tôi cần gặp. Trung Úy Nghĩa đâu chị?”

“Nghĩa đang ở bên cạnh Thiếu Tướng. Cẩn chờ một chút nhé”.

Tôi áp chặt ống điện thoại vào ngực. Mím môi, nhìn xác Hưng rồi nhìn sang Nghĩa tôi hỏi:

“Đại Tá Cẩn đòi gặp Thiếu Tướng, làm sao bây giờ Nghĩa?” Nghĩa lúng túng:

“Cô nói Thiếu Tướng chết rồi”.

“Không thể nói như vậy được. Đại Tá Cẩn đang cự chiến với Việt Cộng”.




Trí óc tôi chợt lóe sáng phi thường. Tôi muốn Cẩn chiến đấu anh hùng. Sống anh hùng. Chết anh hùng. Tôi đưa máy lên giọng quyết liệt:

“Thiếu Tướng không thể vào được. Cẩn cần gì cứ nói. Tình hình ở Chương Thiện ra sao? Anh còn đủ sức chiến đấu không? Tinh thần binh sĩ thế nào? Địch ra sao?”

“Tụi nó dần tụi tui quá. Tinh thần anh em vẫn cao. Chị hỏi Thiếu Tướng còn giữ y lịnh không?”

“Cẩn vui lòng chờ chút”.

Tôi lại áp chặt ống điện thoại vào ngực. Cắn chặt môi suy nghĩ. Tôi hiểu lời Cẩn hỏi. Trong tích tắc tôi biết khó cứu vãn tình thế. Nhưng tôi muốn Hồ Ngọc Cẩn phải luôn hiên ngang hào hùng. Tôi quyết định:

“Alô. Cẩn nghe đây: Lịnh Thiếu Tướng. Ông hỏi Cẩn có sẵn sàng tử chiến?”

Cẩn đáp thật nhanh:

“Lúc nào cũng sẵn sàng, chớ chị!”

“Tốt lắm, vậy thì y lịnh”.

“Dạ, cám ơn chị”.

Tôi buông máy gục xuống bên xác Hưng. Nước mắt trào ra, tôi kêu nho nhỏ:





“Vĩnh biệt Cẩn. Vĩnh biệt Cẩn!”

“Anh Cẩn ơi, hồn linh anh có phảng phất đâu đay, khi tôi ngồi viết lại những dòng này, nước mắt rơi trên giấy, Anh có biết cho rằng trả lời điện thoại với anh rồi, tôi đau khổ tột cùng không? Tha thứ cho tôi!”

Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, anh đã hiên ngang hào hùng đến giờ phút chót của cuộc đời. Hiểu rõ Hưng, hiểu rõ tôi, bên kia thế giới không thù hận, chắc anh hiểu rõ tâm trạng của tôi lúc bấy giờ, hẳn anh tha thứ cho tôi?




http://www.youtube.com/watch?v=etZXRohdsKc&feature=related

Kính thưa toàn thể quý vị thuộc thân bằng quyến thuộc của Đại Tá Cẩn. Kính thưa quý vị đã đọc những giòng chữ này. Xin quý vị chớ trách tôi sao dám quyết định. Ngộ biến tùng quyền. Tướng Hưng đã chết. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam chưa liên lạc được. Vợ người lính nghĩa quân trưởng đồn, khi Việt Cộng tấn công, chồng chị bị tử thương, chị đã thay chồng phản công ác liệt. Tôi không thể để một người như Hồ Ngọc Cẩn đưa tay đầu hàng, hạ mình trước Việt Cộng vào dinh tỉnh trưởng Chương Thiện.




11 giờ đêm ngày 30 tháng 4, 1975. Điện thoại lại reo. Lần này, chính giọng của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam :

“Alô, chị Hưng!”

Tôi vừa khóc, vừa đáp lời Thiếu Tướng:

“Thưa Thiếu Tướng…”

Giọng Tướng Nam buồn bã u uất:

“Tôi biết rồi, chị Hưng, tôi chia buồn với chị, nghe chị Hưng”.

Tôi vẫn nức nở:

“Thiếu Tướng nghĩ sao về kế hoạch đã gãy đổ?”

“Hưng đã nói với chị hết rồi hả? Đành vậy thôi. Không phải lỗi chúng ta hèn nhát hay bỏ cuộc. Sự sụp đổ không cứu vãn được vì lệnh hành quân không được Đại Tá… thi hành, phóng đồ và lệnh không tới tay các đơn vị trưởng, lời yêu cầu của dân chúng, lời kêu gọi của tôi quá muộn màng, không hiệu quả, khó cứu vãn nổi tình hình”.

Nói đến đây, Thiếu Tướng Nam hỏi tôi:

“Chị biết vụ đài phát thanh bị nội ứng chứ?”

“Thưa biết. Hưng cũng bảo tôi như Thiếu Tướng vậy. Bây giờ Thiếu Tướng định liệu lẽ nào, có định phản công không?”

“Chị quên còn dân chúng sao? Cộng Sản coi rẻ mạng dân, còn mình thì… Đàng chị thế nào?”

“Thưa Thiếu Tướng, chúng nó đã tràn đầy dưới nhà. Có vài tên định nhào lên, nhưng bị Giêng cương quyết đuổi xuống. Hiện chúng đang thu dọn tài sản”.

“Còn mấy chú đâu hết?”

“Chỉ có Nghĩa và vài ba người lính ở lại. Còn tất cả đã bỏ đi hết. Hưng đã chết rồi, tôi không màng đến tài sản. Miễn là chúng đừng đụng đến xác Hưng”

“Chị tẩm liệm Hưng chưa?”

“Thưa chưa. Vừa tắm rửa, thay quần áo xong thì Thiếu Tướng gọi tới”.

“Chị nên tẩm liệm Hưng ngay đi. Tôi sợ không còn kịp, chúng nó sẽ không để yên”.

“Thiếu Tướng còn dạy thêm điều gì không? Chẳng lẽ Thiếu Tướng chịu đầu hàng thật sao?”

Người thở dài trong máy. Người nói những lời mà đến chết tôi cũng sẽ không quên:

“Số phận Việt Nam khốn nạn thế đó, chị Hưng ơi! Tôi và Hưng đã sắp đặt tỉ mỉ, hoàn tất kế hoạch xong xuôi, còn bị phản bội giờ chót”.

Người chép miệng thở dài:

“Thôi chị Hưng ơi”.

Bỗng giọng người trầm xuống, ngậm ngùi:

“Hưng chết rồi, chắc tôi cũng chết! Chúng tôi làm Tướng mà không giữ được nước thì phải chết theo nước”.

Giọng người bình tĩnh và rắn rỏi:

“Cố gắng can đảm lên nhé chị Hưng. Chị phải sống vì mấy đứa nhỏ. Đêm nay có gì nguy cấp, nhớ gọi tôi. Nếu gọi không được, dặn Nghĩa gọi Thụy, lấy mật mã mới”.

“Dạ, cám ơn Thiếu Tướng”.

Nói chuyện với Thiếu Tướng xong, tôi bước ra lan can nhìn xuống. Dưới sân, sĩ quan và lính tráng đã đi hết. Trừ có Nghĩa còn ở lại. Cổng rào bỏ ngỏ. Gió thổi đong đưa cánh cửa rít lên những tiếng kẽo kẹt bi ai. Mảnh trăng cuối tuần 19 tháng 3 âm lịch chênh chếch soi, vẻ ảm đạm thê lương như xót thương cho số phận Việt Nam Cộng Hòa, cho trò đời bể dâu hưng phế.



Viết đến đây, tôi nhớ lại từng lời của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, của Đại Tá Tỉnh Trưởng tỉnh Chương thiện Hồ Ngọc Cẩn. Trọn đời tôi, làm sao tôi có thể quên giọng nói gấp rút của anh Cẩn, giọng trầm buồn của Tướng Nam.

7 giờ sáng ngày 1 tháng 5, năm 1975. Vừa tụng dứt đoạn kinh Sám Tỉnh Thế trong nghi thức cầu siêu cho Hưng, tôi nghe có tiếng nấc sau lưng. Quay lại, chính là Trung Tá Tùng, bác sĩ trưởng Quân Y Viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Ông đến thăm Hưng lần cuối. Ông cho biết phải trở lại Quân Y Viện ngay vì Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam đã tự sát, xác còn nằm tại Quân Y Viện. Tướng Nam đã bắn vào thái dương, lúc 6 giờ sáng ngày 1 tháng 5, 1975. Cho đến chết, mắt Tướng Nam vẫn mở trừng trừng, uất hận, miệng người há hốc, đớn đau. Sau cuộc điện đàm với người, tôi đã linh cảm, biết trước chuyện gì sẽ xảy ra. Nhưng khi nghe bác sĩ Tùng báo tin, tôi xúc động vô cùng, tôi quỳ xuống, hướng về Quân Y Viện, nơi Tướng Nam còn nằm đó, cầu nguyện:




Trung Úy Nghĩa thay tôi đến viếng xác người. Trung Úy Thành, vị ân nhân can đảm đặc biệt, đến với tôi trong giờ phút nguy nan đó. Thành đã mời được Trung Tá Bia đến tẩm liệm cho Hưng. Những vị ân nhân trong cơn biến loạn ấy, trọn đời tôi xin ghi khắc ơn sâu. 8 giờ sáng ngày 1 tháng 5, 1975, các sĩ quan quân đoàn, mặc thường phục, đến viếng xác Hưng. Mầu nhiệm thay, khi gặp lại những cộng sự viên cũ, trong thoáng chốc, mắt Hưng hé mở, nhìn lên. Và từ trong đôi mắt người chết, có hai giòng lệ chảy. Mặt người chợt đỏ bừng lên.

Người khóc cho quê hương đất nước bắt đầu đắm chìm trong điêu linh. Người khóc cho đám tàn quân khốn khổ. Cho đến lúc chết, hai Tướng Nam và Hưng chỉ phân tách nguyên nhân thất bại, làm hỏng kế hoạch của hai người chớ không ai lên tiếng nặng lời trách móc vị Đại Tá kia.

Xin quý vị hiểu rõ giùm tôi. Tôi tôn trọng danh dự của hai ông, vợ con và gia đình hai ông. Trong hoàn cảnh căng thẳng của đất nước, khi lòng người mất niềm tin, hai ông cũng như nhiều người khác, thật sự đáng thương hơn đáng trách. Không hiểu hai ông có đi thoát, hay bị bắt ở lại.





Vận nước ngàn cân treo sợi tóc, một vài người dù đánh đổi cả vận mệnh cũng không nâng đỡ nổi tòa nhà Việt Nam đang sụp đổ tang thương. Nhưng, một ngày chúng ta còn mang trong người dòng máu của dân tộc Lạc Hồng, còn hít thở được khí trời, là một ngày chúng ta còn nợ nần quê hương. Đó là món nợ thiêng liêng và cao quý mà ngôn từ loài người chưa thể diễn tả được sát nghĩa, và thật đúng ý. Sao chúng ta không noi gương oanh liệt của tổ tiên, của cha ông, nối tiếp ý chí bất khuất của tiền nhân, để trang trải món nợ ân tình đó? Sao chúng ta cứ lo chê bai, công kích, hãm hại, đạp chà nhau, để rồi vô tình làm lợi cho bọn cướp nước Cộng Sản?





Đọc những gì tôi kể ở đoạn trên, những vị từng hỏi hay mỉa mai tôi, đã hiểu tất cả sự thật vì sao Tướng Nam và Tướng Hưng đã phải tự sát để bảo tồn tiết tháo. Không ai đem việc thành bại luận anh hùng. Cũng chớ bao giờ lấy tâm địa tiểu nhân để đo lòng người quân tử. Chúng ta, những người còn sống, những người Việt Nam ở trong nước hay lưu vong khắp bốn phương trời, chúng ta phải tự nêu lên câu hỏi: Chúng ta đã làm được gì cho đừng hổ thẹn với những người đã nằm xuống?.

Họ đã nằm xuống không phải là vì họ hèn nhát! Họ đã nằm xuống là vì muốn bảo toàn Sáu Chữ mà họ từng mang trên đầu: Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm.

Nếu chưa làm được gì cho quê hương, xin hãy thận trọng lời phê phán vô ý thức. Đừng vô tình, thành tàn nhẫn sỉ nhục những người dám chết cho Tổ Quốc.

















http://www.youtube.com/watch?v=Wozqf...eature=related


Bà Suu Kyi tuyên bố một 'kỷ nguyên mới' cho Miến Ðiện

Lãnh đạo đối lập Miến Điện Aung San Suu Kyi vẫy chào các ủng hộ viên khi bà rời khỏi Trụ sở chính
của Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) ở Yangon, ngày 2/4/2012

Nhân vật đấu tranh cho dân chủ Miến Điện, bà Aung San Suu Kyi, hôm nay tuyên bố một ‘kỷ nguyên mới’ cho Miến Điện, sau khi đảng của bà giành thắng lợi vang dội trong cuộc bầu cử quốc hội bổ sung diễn ra hôm Chủ Nhật.

Mặc dù phải vài ngày nữa mới có kết quả chính thức, đảng đối lập Liên minh Toàn quốc Đấu tranh cho Dân chủ, tuyên bố đã giành được ít nhất 43 trong số 44 ghế mà đảng này dự tranh. Con số đó bao gồm 4 ghế tại thủ đô hành chính Naypyitaw, nơi sinh sống của phần lớn tầng lớp nhân viên chính phủ và các quân nhân.

Bà Suu Kyi nói: "Chúng tôi hy vọng rằng đây là sự khởi đầu của một kỷ nguyên mới, nhấn mạnh hơn tới vai trò của người dân trong tiến trình chính trị thường nhật của đất nước. Chúng tôi cũng hy vọng rằng chúng tôi có thể tiến xa hơn trên con đường tiến tới tiến trình hòa giải dân tộc. Chúng tôi sẽ hoan nghênh tất cả các đảng muốn cùng tham gia với chúng tôi trong tiến trình mang lại hòa bình và thịnh vượng cho đất nước.”

Đảng Liên đoàn Đoàn kết và Phát triển, vốn được phe quân nhân cầm quyền thành lập trước khi phe này chuyển giao quyền lực trong một cuộc tổng tuyển cử hồi năm ngoái, sẽ tiếp tục chiếm giữ thế đa số áp đảo trong quốc hội.

Bà Suu Kyi nói tiếp: "Đây không hẳn là chiến thắng của chúng tôi mà là chiến thắng của những người dân đã đi tới quyết định rằng họ phải được tham gia vào tiến trình chính trị của đất nước. Vì thế, điều quan trọng không phải là chúng tôi giành được bao nhiêu ghế, dù chúng tôi hết sức hài lòng rằng chúng tôi giành được rất nhiều ghế, mà là người dân đã rất nhiệt thành tham gia vào tiến trình dân chủ.”

Các nhà quan sát từ Hiệp hội Các quốc gia đông Nam Á hôm nay đã ra một thông cáo nói rằng cuộc bầu cử đã được tổ chức một cách tự do, công bằng và minh bạch. Một số cư dân đã bày tỏ sự lạc quan rằng đất nước có thể tiến gần hơn tới dân chủ.

Nữ công dân này tỏ ý hy vọng sẽ có thay đổi vì trước đây bà Suu Kyi không được tham gia quốc hội, cô hy vọng rằng một khi bà ấy lọt vào quốc hội, đất nước sẽ thay đổi thêm một chút nữa. Sự thay đổi đó sẽ biến mọi thứ trở nên tốt hơn trước.

Liên minh Toàn quốc Đấu tranh cho Dân chủ đã thắng áp đảo trong cuộc tổng tuyển cử năm 1990, nhưng những người lãnh đạo của phe quân nhân lúc đó không chịu nhượng quyền và những người giành chiến thắng không được vào quốc hội. Bà Aung San Suu Kyi đã bị chính quyền quân nhân quản thúc dưới một số hình thức phần lớn thời gian trong 22 năm qua.

Những Con Số Về Quốc Hội Miến Điện

-Ngành lập pháp gồm 440 ghế Hạ viện, 224 ghế Thượng viện, 14 nghị viện khu vực.

-25% số ghế do quân đội chọn trong số các quân nhân.

-Đảng Đoàn Kết Thống Nhất và Phát Triển USDP chiếm 76% số ghế trong cuộc bầu cử năm 2010.

Bầu cử bổ sung ngày Chủ nhật 4/1/2012

-Các ứng viên tranh 45 ghế.

-160 ứng cử viên của 17 đảng và 8 ứng cử viên độc lập ra tranh kỳ này.

Ðảng của bà Suu Kyi giành thắng lợi vang dội

Các ủng hộ viên của lãnh tụ đối lập Aung San Suu Kyi ăn mừng chiến thắng

Các ủng hộ viên của lãnh tụ dân chủ Aung San Suu Kyi ăn mừng chiến thắng
trước Trụ sở của đảng NLD ở Yangon, ngày 1/4/2012

Lãnh tụ dân chủ Aung San Suu Kyi tuyên bố bà hy vọng thắng lợi của bà và đảng của bà trong cuộc bầu cử hôm qua sẽ mở đầu cho một 'kỷ nguyên mới' tại Miến Điện. Mặc dầu bà và Liên minh Toàn quốc Đấu tranh cho Dân chủ sẽ chỉ năm một phần nhỏ quyền hành tại Quốc Hội, họ trông đợi sẽ là một phe đối lập tích cực chống lại chính phủ được quân đội hậu thuẫn. Từ Rangoon, thông tín viên VOA Daniel Schearf gửi về bài tường thuật sau đây.

Hàng trăm ủng hộ viên và giới truyền thông tụ tập bên ngoài trụ sở Liên minh Toàn quốc Đấu tranh cho Dân chủ NLD của bà Aung San Suu Kyi sáng nay để nghe bà đọc bài diễn văn ngắn xác nhận chiến thắng.

Hôm qua, NLD loan báo bà và các ứng viên của đảng đã thắng ồ ạt trong cuộc bầu cử bổ túc tại Miến Điện, chiếm gần hết 45 ghế đưa ra dự tranh.

Nếu được xác nhận, kết quả sẽ là một lời khiển trách công khai dành cho đảng Liên đoàn Đoàn Kết và Phát triển được quân đội hậu thuẫn, hiện đang nắm một đa số áp đảo các ghế tại Quốc hội.

Khôi nguyên giải Nobel hòa bình cam kết rằng khi bà và đảng của bà vào chính phủ sau hơn 2 thập niên lưu vong chính trị, họ sẽ hợp tác với tất cả những người sẵn lòng làm việc cho hòa giải dân tộc.

Bà Aung San Suu Kyi gọi cuộc bầu cử hôm qua là một dấu hiệu đầy hy vọng cho dân chủ và hòa giải ở Miến Điện.

Bà Suu Kyi nói: “Chúng tôi hy vọng đây sẽ là mở đầu của một kỷ nguyên mới, nhấn mạnh nhiều hơn đến quyền cai trị của nhân dân trong chính sự hàng ngày của đất nước.”

Bà Aung San Suu Kyi nói một khi vào Quốc hội, NLD sẽ tiếp tục đẩy mạnh pháp trị, chấm dứt mọi cuộc xung đột sắc tộc và tu chính hiến pháp.

Tu chính bản hiện pháp do quân đội phác thảo sẽ là một thách thức cho NLD. Cho dù có thắng tất cả các ghế trong cuộc bầu cử hôm qua, NLD vẫn chỉ chiếm có khoảng 7 phần trăm trong số các ghế phần lớn trong tay quân đội và các ủng hộ viên của quân đội.

Các nhà lập pháp đó không có mấy lý do để ủng hộ các khoản tu chính hiến pháp. Hiến pháp hiện thời bảo đảm rằng quân đội tiếp tục thống trị chính phủ, dành cho quân đội 1 phần tư số ghế tại quốc hội.

Bà Suzanne DiMaggio, phó chủ tịch các Chương trình Chính sách toàn cầu của Hội châu Á, nói rằng bất kể thách thức gay go tại Quốc hội, thắng lợi của NLD vẫn có giá trị.

Bà DiMaggio cho biết: “Đặc biệt vào lúc này, ít nhất chúng ta có sự mở đầu của những tiếng nói đối lập bên trong Quốc hội – những tiếng nói đối lập đáng tin cậy – và tôi cho rằng đây là bước đầu của một điều sẽ chỉ phát triển thêm.”

Bà DiMaggio nói kết quả bầu cử cho thấy đã đến lúc Hoa Kỳ cứu xét việc bãi bỏ các biện pháp chế tài đối với Miến Điện.

Hoa Kỳ và Liên hiệp châu Âu EU, cùng với các nước khác, hạn chế thương mại với Miến Điện vì thành tích nhân quyền của nước này. Ủy viên thương mại EU hôm nay tuyên bố nếu cuộc bầu cử tỏ ra là tự do và công bằng thì khối này sẽ cứu xét việc bãi bỏ các biện pháp chế tài tại các cuộc họp ở Brussels vào ngày 21 tháng này.

Bầu cử Miến Điện, vấn đề Biển Đông gây chú ý tại thượng đỉnh ASEAN

Phó Thủ tướng và Bộ trưởng Thương mại Campuchia Cham Prasidh (trái) nói chuyện với Ủy viên Thương mại EU Karel De Gucht (phải), trong lúc Tổng thư ký ASEAN Tổng thư ký Surin Pitsuwan, lắng nghe tại lễ

Phó Thủ tướng và Bộ trưởng Thương mại Campuchia Cham Prasidh (trái) nói chuyện với Ủy viên Thương mại EU Karel De Gucht (phải), trong lúc Tổng thư ký ASEAN Tổng thư ký Surin Pitsuwan, lắng nghe tại lễ khai mạc hội nghị doanh nghiệp ASEAN-EU ở Phnom Penh, ngày 1/4/2012

Trong tuần này, các nhà lãnh đạo trong Hiệp hội các Quốc gia Đông nam Á họp tại Phnom Penh, nơi các vụ tranh chấp chủ quyền nhiều phần trong vùng Biển Ðông, cuộc bầu cử hôm qua ở Miến Điện, và kế hoạch phóng vệ tinh của Bắc Triều Tiên sẽ bao trùm các cuộc thảo luận. Từ thủ đô Campuchia, thông tín viên VOA Irwin Loy gửi về bài tường thuật sau đây.

Tiến trình cải cách chính trị của Miến Ðiện đã là mục tiêu nổi bật của khối ASEAN gồm 10 thành viên. Tháng 11 năm ngoái, nhóm này đã đồng ý để cho Miến Điện làm chủ tịch khối vào năm 2014 căn cứ vào các cải cách dân chủ của nước này.

Sau cuộc bầu cử bổ túc hôm qua, mà Miến Điện đã mời các đại diện ASEAN đến quan sát, Ngoại trưởng Indonesia Marty Natalegawa ca ngợi việc tiến hành cuộc bỏ phiếu.

Theo ông Natalegawa, Indonesia nhận thấy đó là một diễn biến rất tốt đẹp. Đó là một bước quan trọng trong việc giúp cho tiến trình dân chủ hóa ở Myanmar không thể đảo ngược được.

Chủ tịch ASEAN trong năm nay là Campuchia đã công bố một thông cáo gọi cuộc bầu cử ở Miến Điện là “thành công” và “hòa bình”, đồng thời hối thúc cộng đồng quốc tế cứu xét việc bãi bỏ các biện pháp chế tài kinh tế đã được áp dụng lâu nay.

Tổng thư ký ASEAN, ông Surin Pitwuwan nói ông lấy làm “phấn khởi” trước cuộc bầu cử ở Miến Điện, còn được gọi là Myanmar.

Ông Surin tỏ ý hy vọng sự kiện này sẽ góp phần giúp Myanmar hòa nhập hữu hiệu hơn vào cộng đồng toàn cầu và ASEAn sẽ có khả năng làm việc về các vấn đề khác có ý nghĩa hơn và góp phần nhiều hơn vào phúc lợi của dân chúng ở Myanmar, thay vì bị kệt về vấn đề ổn định và thiếu hòa giải chính trị ở Myanmar.

Trong cuộc họp thượng đỉnh giữa các nhà lãnh đạo vào tuần này, các vụ tranh chấp lãnh hải trong vùng Biển Ðông cũng dự trù sẽ là một vấn đề được nhiều người chú ý.

4 nước thành viên ASEAN, cùng với Trung Quốc và Đài Loan, đều đòi chủ quyền nhiều phần trong vùng biển Nam Trung Hoa.

Tại một cuộc họp giữa các bộ trưởng ngoại giao hôm nay, Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario hối thúc các đối tác của ông tiến hành các biện pháp cụ thể tiến tới một bộ quy ước ứng xử tập thể, còn gọi tắt là COC, để giải quyết vụ tranh chấp. Ông Del Rosario nói ông hy vọng ASEAN sẽ xác lập chủ trương của mình trước cuối năm nay, nhưng cũng thừa nhận rằng khối này vẫn còn chia rẽ về thể thức xúc tiến.

Ngoại trưởng Philippines cho rằng sự bất đồng ý kiến nằm trong sự kiện là Philippines thì tán đồng việc chuẩn bị sẵn một dự thảo COC trước khi ngồi xuống thảo luận với Trung Quốc. Các nước khác thì chủ trương phải mời Trung Quốc tham dự các cuộc thảo luận sơ khởi.

Các vị bộ trưởng ASEAN cũng bày tỏ sự quan ngại về thông cáo của Bắc Triều Tiên về một vụ phóng vệ tinh đã được hoạch định. Các quan sát viên nói hướng đi của hỏa tiễn có thể là về phía nam gần lãnh thổ của Philippines, Australia hay Indonesia.

Ngoại trưởng Indonesia Natalegawa kêu gọi Bắc Triều Tiên không nên phóng vệ tinh.

Ông Natalegawa nói Indonesia rõ ràng rất lấy làm quan ngại về triển vọng của vụ phóng vệ tinh, cả về mặt an ninh lẫn an toàn. Nhưng trên hết là về mặt vụ này sẽ gây rắc rối cho tình trạng thuận lợi của việc nối lại các cuộc đàm phán 6 bên.

Cuộc họp ngày hôm nay của các ngoại trưởng ASEAN diễn ra trước hội nghị thượng đỉnh chính của các nhà lãnh đạo vào ngày mai.

Nghịch lý ở Việt Nam về lãnh thổ và bạn vàng: Cái bẫy đưa dân vào tù?

Một lần, ngồi nói chuyện với một Trung tá an ninh tôn giáo về bài viết “Ba mươi năm chiến tranh xâm lược, đâu rồi lòng yêu nước” anh ta nói:

- Anh viết thế thì được lợi gì? Chẳng qua là Đảng và nhà nước ta tuyên bố vậy thôi, chứ với Trung Quốc, thì mãi mãi đảng và nhà nước ta vẫn xem là kẻ thù truyền kiếp, nhưng nói ra bây giờ không có lợi.

Mình bảo:

- Thế nghĩa là sao? Đảng và nhà nước vẫn tuyên bố 16 chữ vàng và 4 tốt. Chẳng lẽ đảng và nhà nước lại nói ngược sự thật? Nói dối cả dân tộc, cả 90 triệu dân?

- Thì anh phải biết là có những việc người lớn làm nhưng trẻ con không được biết.

- Thế hóa ra, chú coi đảng và nhà nước này mới là người lớn và gần 90 triệu người dân còn lại này là trẻ con cả sao?

- Ví dụ một vụ án hiếp dâm trẻ em thì không thể đưa ra công khai cho cả xã hội biết, như vậy thì tương lai đứa trẻ đó sẽ như thế nào?

- Chú không thể ví chuyện này với chuyện hiếp dâm. Chuyện hiếp dâm đứa trẻ khác với chuyện lãnh thổ đất nước. Chuyện hiếp dâm đưa ra, ảnh hưởng đến cuộc đời đứa trẻ, nhưng chuyện lãnh thổ đất nước, không đưa ra sẽ có không chỉ một triệu mà hàng triệu đứa trẻ và cả dân tộc bị ảnh hưởng vì mất nước.

Câu chuyện tranh cãi, cuối cùng chẳng đi đến đâu vì anh ta không thể lý giải được cuối cùng là vì sao không thể nói, viết về việc bảo vệ Tổ quốc và biên giới, biển đảo, vì sao lại sợ những vấn đề đó. Tất cả những câu trả lời chỉ là loanh quanh.

Không chỉ có một viên an ninh loanh quanh.

Quan sát những hành động của nhà cầm quyền Việt Nam gần đây, không khỏi thấy những lúng túng, không nhất quán cũng như sự bất nhất trong lời nói, hành động. Đặc biệt là sự không thống nhất trong nhiều lực lượng, cá nhân từ lãnh đạo đất nước đến các lực lượng chức năng.

Trước hết, từ những ngày xa xưa, thì Hiến pháp 1980 ghi rõ: “…chống bọn bá quyền Trung Quốc ở biên giới phía Bắc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mình”.

Thế rồi qua những cuộc họp bí mật có, công khai có, từ “bọn bá quyền Trung Quốc” trở thành bạn 16 chữ vàng và 4 tốt.

Cũng từ đó, người ta thấy rất rõ sự bất nhất trong lời nói và hành động của nhà cầm quyền Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc và nhất là trong đối xử với nhân dân mình.

Một thời gian dài, báo chí tuyệt đối không được nhắc đến Hiệp định biên giới Việt Trung được ký kết khi nào, ra sao và nội dung như thế nào. Rồi những cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược bị đẹp tan từ 2007. Rồi báo Du Lịch bị đình bản vì đăng bài viết về Trường Sa, rồi những ai mang dòng chữ Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam được đối xử như những tội nhân…

Thôi thì đành một nhẽ rằng là vấn đề lãnh thổ không được nói đến, không được nhắc đến. Cứ coi như là một lĩnh vực thuộc bí mật quốc gia và việc mất còn không còn thuộc về trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân nữa mà chỉ là vấn đề của đảng và nhà nước mà thôi. Mọi người cứ thế mà im lặng mặc cho Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc hay Đài Loan hoặc kể cả là của Nhật Bản, miễn là anh không nhắc đến nó là được.

Bỗng nhiên, gần đây một số lãnh đạo đất nước cũng nói rõ Hoàng Sa bị Trung Quốc xâm lược năm 1974, rồi Trường Sa cũng là của Việt Nam, rồi kiên quyết bảo vệ biển đảo… thì ra vậy, Trường Sa, Hoàng Sa vẫn là của Việt Nam.

Thế rồi báo chí lại được đăng về Trường Sa, Hoàng Sa. Rồi Người phát ngôn Bộ Ngoại Giao ra tuyên bố về việc Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Việt Nam rằng là “Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và lịch sử”.

Thế là người dân đi biểu tình chống Trung Quốc xâm lược.

Thế rồi nhân dân đi biểu tình bị đàn áp, bị đạp mặt, bắt bớ

Thế rồi ông Giám đốc Công an Hà Nội tuyên bố biểu tình có tính chất yêu nước.

Thế rồi Thành phố Hà Nội ban hành cái công văn không dấu, không số, không chữ ký (điển hình trong hệ thống pháp quyền) rằng không được biểu tình.

Thế rồi Thủ tướng chính phủ tuyên bố biểu tình yêu nước là tốt và cần có luật biểu tình để bảo đảm quyền công dân theo Hiến pháp quy định.

Thế rồi nhân dân đi biểu tình ủng hộ Thủ tướng liền bị bắt vào trại phục hồi nhân phẩm…

Quả thật, theo dõi những hành động của hệ thống cầm quyền Hà Nội, người dân sẽ choáng, sẽ mù đường, sẽ hoảng loạn vì không còn biết tin vào đâu, ăn làm sao nói như thế nào.

Tình cảnh người dân Việt Nam thời gian qua không khác đoạn văn dưới đây trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng:

- Như vậy thì ngoài bọn cộng sản và quốc gia thì thôi, còn cứ việc… bắt ráo cả!
– Bắt ráo! Cần nhất là phải bắt những kẻ kêu: “Nước Pháp dân chủ vạn tuế!” và “Chính phủ Bình dân vạn tuế!” Vì hai khẩu hiệu ấy xem chừng là xung đột với Vua Xiêm cả.

– Thế còn đối với những kẻ kêu “Quân chủ vạn tuế” hay là Nước Xiêm vạn tuế” thì có bắt hay không?

– Ấy thế mới chết đấy! Ðiều ấy tôi lại chưa hỏi kỹ ông Cẩm… À, nhưng mà cần gì phải hỏi quan trên? Mình cứ việc bắt chứ, vì quân chủ vạn tuế thì lại xung đột với nước Pháp dân chủ, nước Xiêm phát xít được vạn tuế thì lại cũng nguy hiểm cho nước Pháp có Chính phủ bình dân…

– Thư cửa quan, âu là ta làm thế này: Ðối với những kẻ nào đi đón hai nhà Vua mà đứng ngây mặt ra như tượng thì thôi, ta tha bắt cho, còn kẻ nào ra ý vui mừng mà hô khẩu hiệu, hoặc vạn tuế nước Pháp, hoặc vạn tuế nhà Vua, thì ta cứ việc bắt giam cả một lượt!
(Trích Số Đỏ – Vũ Trọng Phụng – Chương 18).

Có một điều chắc chắn rằng, nếu muốn vào tù hoặc ít nhất là vào trại cải tạo, thì thời điểm hiện nay là dễ dàng nhất cho người dân.

Chỉ cần ra đường hô to với khẩu hiệu “Trường Sa – Hoàng Sa là của Việt Nam” thì bạn sẽ bị bắt, bị đàn áp, sẽ được vào tù hoặc ít nhất là vào trại cải tạo.

Chỉ cần ra đường hô to khẩu hiệu “Trường Sa, Hoàng Sa là của Trung Quốc” thì bạn sẽ được mời vào đồn và ra tòa vì tội âm mưu bán nước.

Chỉ cần bạn tụ tập một nhóm người ăn nhậu vinh danh phụ nữ yêu nước, bạn sẽ được “mời” về đồn công an, và sau đó là nhiều vấn đề tiếp theo bạn phải chịu hậu quả.

Chỉ cần bạn tập trung mấy thanh niên “học tập và làm theo lời bác” trong việc rèn luyện thân thể, tổ chức đá bóng No-U lập tức bị giải tán.

Và có rất nhiều cách để được vào tù nghỉ ngơi chỉ liên quan đến vấn đề lãnh thổ, lãnh hải đất nước.

Những thế hệ đã qua, tất cả đều thuộc câu “Đất nước ta liền một giải từ Mục Nam quan đến Mũi Cà Mau”. Nhưng chính các thế hệ đó cũng đã từng phải trả giá cho những điều được học ở trên khi cất tiếng nói, câu hỏi có phải Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc đã rơi vào tay giặc? Cái giá phải trả đó là những năm tù đày.

Không những chỉ giai đoạn đã qua, ngay tại giai đoạn này, chính những hành động của nhà cầm quyền Việt Nam lại để cho người dân dễ dàng mắc bẫy phải vào tù.

Trong khi những người dân biểu thị tinh thần yêu nước bị bắt bớ như trên đã nói, thì báo chí ầm ầm kêu gọi “Góp đá cho Trường Sa” hoặc “Nước ngọt cho Trường Sa”. Trong khi nói đến biển đảo, Trường Sa – Hoàng Sa là của Việt Nam thì bị vào trại Phục hồi nhân phẩm, bị đưa đi cải tạo không cần án, thì nhà nước đưa Hoàng Sa, Trường Sa vào giáo dục cho học sinh, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Bộ Ngoại giao lại khẳng định Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam…

Nhỡ mai đây, khi các cháu đã được học tập đi ra khỏi trường lại hô toáng lên: “Trường Sa – Hoàng Sa là của Việt Nam”, các cháu sẽ được vào tù?

Nhỡ mai đây, những đoàn viên, những người dân đã góp đá, góp nước cho Trường Sa, lại hô to “Trường Sa – Hoàng Sa là của Việt Nam”, họ sẽ được vào trại cải tạo?

Và cứ thế, những hoạt động, những bài học kia phải chăng là cái bẫy đưa các công dân Việt Nam vào tù.

Và các cháu học sinh giỏi, những công dân mẫu mực, yêu nước sẽ trở thành nguồn phạm nhân tiềm tàng cho các nhà tù khi nhà cầm quyền vẫn loanh quanh về lãnh thổ và biển đảo đất nước?

31/3/2012

J.B Nguyễn Hữu Vinh

Tàu Cá TQ Lập Đoàn 15 Chiếc Vào Biển VN Vét Cá Ban Đêm

Tàu cá VN liên tục bị hải quân TQ chận bắt, cướp hải sản…

HANOI(VietBao) – Trong khi báo Thanh Niên cho biết một tàu cá VN từ Quảng Ngãi đã bị lính Trung Quốc chận lại, cướp 6 tạ hải sản rồi đuổi đi… báo Tuổi Trẻ nói rằng tàu cá TQ thường xuyên tập họp thành đoàn cả chục chiếc để vào biển VN đánh cá ban đêm.

Trong khi đó, một đài phát thanh TQ bằng Việt ngữ, với trang mạng CRI, ghi lời vuốt ve của Phó Thủ tướng CSTQ Lý Khắc Cường về hòa bình Biển Đông khi tiếp Phó Thủ tướng CSVN Hoàng Trung Hải…
Báo Tuổi Trẻ hôm Thứ Bảy cho biết:

“Sáng 30-3, theo báo cáo của bộ đội biên phòng TP Đà Nẵng trong năm 2011, lực lượng bộ đội biên phòng Đà Nẵng đã phát hiện trên 140 lượt tàu cá Trung Quốc vi phạm chủ quyền nhằm đánh bắt hải sản, thăm dò tài nguyên, khoáng sản với các cách thức: tổ chức thành từng tốp 10-15 chiếc, ban đêm vào sâu vùng biển Việt Nam, ban ngày rút ra xa, cản trở các hoạt động sản xuất của ngư dân Việt Nam trên biển…”

Báo Thanh Niên hôm 31-3-2012 viết bản tin nhan đề “Một tàu cá bị Trung Quốc lấy hải sản” cho biết:

“Tối 30.3, trao đổi với PV Thanh Niên, ông Nguyễn Thanh Hùng – Phó chủ tịch UBND xã Bình Châu, H.Bình Sơn (Quảng Ngãi), xác nhận thông tin về trường hợp tàu cá QNg-90576 TS của ngư dân Nguyễn Tấn Tư (ở thôn Châu Thuận, xã Bình Châu), trên tàu có 14 ngư dân, khi đang hành nghề hợp pháp trên vùng biển quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đã bị lực lượng chức năng Trung Quốc lấy khoảng 6 tạ hải sản rồi xua đuổi vào trưa 22.3.

Dù vậy, ông Tư cùng các ngư dân vẫn kiên quyết bám biển Hoàng Sa đánh bắt, đến chiều 30.3 mới trở về cập cảng Sa Kỳ (xã Bình Châu) và báo cáo vụ việc với cơ quan chức năng. Theo ông Hùng, trong vòng hơn 1 tháng qua, đã có 2 tàu cá của ngư dân địa phương bị phía Trung Quốc lấy và đập phá tài sản. Trước đó, vào chiều 22.2, do có sóng to, gió lớn nên thuyền trưởng Đặng Tằm cho tàu cá QNg-90281 TS chạy vào đảo Xà Cừ (quần đảo Hoàng Sa) núp gió liền bị tàu của phía Trung Quốc mang số hiệu 789 tấn công, ném hải sản, ngư cụ xuống biển, gây thiệt hại hơn 300 triệu đồng.”

Bản tin tiếng Việt của đài CRI của Trung Quốc ghi rằng:

“Ngày 31 tháng 3 tại Bác Ngao Hải Nam, Trung Quốc, Phó Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường nói, hai nước Trung-Việt phải xuất phát từ tình hình lớn và lâu dài, áp dụng biện pháp hữu hiệu, xử lý ổn thoả vấn đề Nam Hải, giữ gìn quan hệ hai nước phát triển lành mạnh ổn định…”

Ông họ Lý nói như thế khi tiếp Phó Thủ tướng CSVN Hoàng Trung Hải đến dự Hội nghị thường niên năm 2012 Diễn đàn châu Á Bác Ngao trong cùng ngày.

Điều bi hàì là, trong khi ngư dân Việt bị lính TQ cướp bóc, Bắc Kinh vẫn vuốt ve là cần hòa bình.

Ảnh địa chỉ nhà - Photo of an address


Xin mời xem hình ảnh nhà nếu biết địa chỉ
Ảnh địa chỉ nhà
Photo of an address

Hay lắm muốn tới nhà ai cũng được ,kể cả bên Việt-Nam.


Quý Anh Chị Em và các Bạn thân mến ,
Cái link dưới đây cho phép nhìn thấy ảnh nhà riêng. Chỉ cần bấm vào cái link đó, khi cửa sổ hiện ra thì ghi một địa chỉ vào đó là sẽ thấy ảnh địa chỉ nhà đó
Thật huyền diệu !
Just click on the link above and write one address in the window that appears, you will see "automagically" the photo of that address !!!
Cliquez sur le lien ci-dessus et inscrivez une adresse vous verrez instantanément apparaître "automagiquement" la photo de cette adresse !!!

Phép màu giá bao nhiêu

Một cô bé tám tuổi nghe cha mẹ mình nói chuyện về đứa em trai nhỏ.
Cô bé chỉ hiểu rằng, em mình đang bị bệnh rất nặng và gia đình cô không còn tiền.
Chỉ có một cuộc phẫu thuật rất tốn kém mới cứu sống được em trai cô bé, mà cha mẹ em lại không tìm ra ai để vay tiền.
Do đó, gia đình em sẽ phải dọn đến một căn nhà nhỏ hơn, vì họ không đủ khả năng tiếp tục ở căn nhà hiện tại sau khi trả tiền bác sĩ.
Cô bé nghe bố nói với mẹ bằng giọng thì thầm tuyệt vọng: “Chỉ có phép màu mới cứu sống được Andrew”.
Thế là cô bé vào phòng mình, kéo ra một con heo đất được giấu kỹ trong tủ. Em dốc hết đống tiền lẻ và đếm cẩn thận. Rồi cô bé lẻn ra ngoài bằng cửa sau để đến tiệm thuốc gần đó.
Em đặt toàn bộ số tiền mình có lên quầy.
Người bán thuốc hỏi: “Cháu cần gì?”
Cô bé trả lời: “Em trai của cháu bệnh rất nặng và cháu muốn mua phép màu.”
- Cháu bảo sao? – Người bán thuốc hỏi lại.
- Em cháu tên Andrew. Nó bị một căn bệnh gì đó trong đầu, mà ba cháu nói chỉ có phép màu mới cứu được nó. Phép màu giá bao nhiêu ạ?
- Ở đây không bán phép màu, cháu à. "Chú rất tiếc" – Người bán thuốc nở nụ cười buồn và tỏ vẻ cảm thông với cô bé.
- Cháu có tiền trả mà. Nếu không đủ, cháu sẽ cố tìm thêm. Chỉ cần cho cháu biết giá bao nhiêu?
Trong cửa hàng còn có một vị khách ăn mặc thanh lịch.
Sau khi nghe câu chuyện, ông cúi xuống hỏi cô bé: “Em cháu cần loại phép màu gì?”
- Cháu cũng không biết nữa – Cô bé trả lời, rơm rớm nước mắt – Nhưng em cháu rất cần phép màu đó. Em cháu bị bệnh nặng lắm, mẹ cháu nói rằng em cần được phẫu thuật, và hình như phải có thêm loại phép màu gì đó nữa mới cứu được em cháu. Cháu đã lấy hết số tiền để dành của mình để đi tìm mua phép màu đó.
- Cháu có bao nhiêu? – Vị khách hỏi.
Cô bé trả lời vừa đủ nghe: “Một đô la mười một xu.”
Người đàn ông mỉm cười: “Ồ! Vừa đủ cho cái giá của phép màu”.
Một tay ông cầm tiền của cô bé, tay kia ông nắm tay em và nói:
“Dẫn bác về nhà cháu nhé! Bác muốn gặp em trai và cha mẹ cháu. Để xem bác có loại phép màu mà em cháu cần không.”
Người đàn ông thanh lịch đó là Bác sĩ Carlton Armstrong, một phẫu thuật gia thần kinh tài năng.
Ca mổ được hoàn thành mà không mất tiền, và không lâu sau Andrew đã có thể về nhà, khỏe mạnh.
Mẹ cô bé thì thầm: “Mọi chuyện diễn ra kỳ lạ như có một phép màu. Thật không thể tưởng tượng nổi. Thật là vô giá!”
Cô bé mỉm cười. Em biết chính xác phép màu giá bao nhiêu.
- Một đô la mười một xu, cộng với niềm tin chân thành của một đứa trẻ, và lòng tốt của người bác sĩ.

Lời hay ý đẹp

Mai Vàng
Không ai sinh ra là hạnh phúc ngay, nhưng chúng ta đều được sinh ra với khả năng tạo hạnh phúc.
Bốn ý tưởng hay cho cuộc sống :
Nhìn lại đàng sau & có kinh nghiệm !
Nhìn đàng trước & thấy hy vọng !
Nhìn xung quanh & tìm ra thực tại !
Nhìn bên trong & tìm thấy chính mình!
Mai Miến Điện
Tại sao lại cằn nhằn ai đó trong đời mình:
Người tốt mang Hạnh Phúc cho ta...
Người xấu cho ta Kinh Nghiệm...
Người tệ nhất thì cho ta một Bài Học...
Mai vàng năm cánh
Cách hay nhất trong cuộc sống là hãy lắng nghe mọi người và học nơi mọi người, vì không ai là biết tất cả và mỗi người biết một điều gì đó.
Mai chủy (mai ru`ng)
Người bạn là người biết ta rất tường tận, am hiểu gốc gác ta, chấp nhận chỗ đứng của ta và vẫn dịu dàng để cho ta tiến tới.
Mai động, mai Sẻ
Khi ta tìm một người bạn đừng đặt tiêu chuẫn hoàn hảo mà chỉ nên tìm một tình bạn.
Mai vàng imadagascar
FRIEND:
F- few: vài
R- relations: mối quan hệ
I- in: trong
E- earth: trái đất
N- never: không bao giờ
D- die: chết
Mai nhọn
Những lời nhân từ tử tế có thể ngắn và dễ nói song âm vang của chúng thật còn mãi.
Mai Vàng
Chạy trốn một vấn đề khó chỉ làm cho việc giải quyết lùi xa thêm mà thôi ! Cách dễ nhất để thoát khỏi vấn đề khó là giải quyết nó.
Mai vàng Indonesia
Sự thật lý thú về cái lưỡi của con người : Dùng 3 năm để học cho biết sử dụng nó nhưng phải dùng cả đời người để học sử dụng nó Ở ĐÂU & KHI NAO.
Mai giao
Không ai có thể làm tổn thương ta được nếu ta không cho phép.
Mai giảo
Tâm trí được an bình không cần hao tốn chi nếu ta đừng:
Criticizing: chỉ trích
Comparing: so sánh
Complaining: phàn nàn.
Mai vàng Châu Phi
Ba quy luật vàng của cuôc sô'ng :
- Ai giúp ta- Đừng quên họ.
- Ai yêu thương ta- Đừng ghét họ.
- Ai tin tưởng ta- Đừng lừa gạt họ

VIẾT CHO THÁNG TƯ ĐEN: HỒI KÝ CỦA MỘT TÙ BINH

Chiều 30 tháng 4 năm 1975, tôi và T. đứng trên lầu 9 cao ốc ở đường Nguyễn Huệ nhìn xuống đường Tự Do. Bộ đội miền Bắc – những người vừa chiến thắng trong cuộc nội chiến, ngoại khiển, đang diễn hành trên đường phố Sàigòn với chiến xa bọc thép của Liên Sô dẫn đầu. Những người lính miền Bắc ốm yếu, xanh xao, ngụy trang sơ sài cho có lệ. Bánh xích xe tăng Liên Sô và dép râu bộ đội miền Bắc đang cán và giẫm lên đường Tự Do.

Phía dãy nhà đối diện, dân chúng túa ra xem mỗi lúc một đông. Những người Việt gốc Hoa cầm cờ Trung Cộng và cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam vẫy vẫy chào mừng đoàn quân chiến thắng.

Tôi bỗng ứa nước mắt!

T. cầm tay tôi, nói:
“Thôi mình đi xuống, anh.”

Tôi và T. đi xuống.
Tôi biết mình đang bước xuống tầng đầu địa ngục.

*

Tôi và T. trở về Vĩnh Long trên một chiếc xe cam-nhông trước kia dùng để chở heo, vì mùi phân heo còn nồng nặc. Mụ chủ xe tham tiền đã rước khách không còn có chỗ để ngồi. Ai cũng muốn trở về quê quán sau cuộc binh đao để xem gia đình còn mất ra sao. Trước đó mấy ngày, tôi đã thờ ơ nhìn những người tất tưởi, lũ lượt đi về phía bến Bạch Đằng. Sau này tôi mới biết, ở đó, có một chuyến tàu cuối cùng đưa hàng ngàn người rời khỏi Việt Nam, đó là chiếc tàu Trường Xuân do thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy điều khiển.

Những ngày ở Vĩnh Long tôi như người bị ốm đứng. Buổi trưa, có tiếng lựu đạn nổ ở Cầu Lầu: một nghĩa quân đã rút chốt lựu đạn tự sát. Buổi tối, có tiếng những bước chân chạy đuổi sau nhà: “cách mạng” đang truy đuổi bọn phản động.

Tin từ Khám Lớn: một Đại tá của quân lực Việt Nam Cộng Hòa tự sát vì bị bạc đãi.

Một tháng để tất cả các quân nhân, công chức “ngụy” trình diện học tập đã hết.

Tôi trở lên Sàigòn, về Biên Hòa để gặp lại ông nội tôi trước khi đi trình diện học tập cải tạo 10 ngày theo lệnh của Ủy Ban Quân Quản thành phố Hồ Chí Minh là tên mới của Sàigòn.(Sàigòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên!) Ông nội tôi đã nhìn tôi, rồi thở dài: “Vậy mà nội tưởng vợ chồng con đã đi…” Đó là câu nói cuối cùng của ông nội tôi – người đàn ông vợ chết từ năm 40 tuổi vẫn ở vậy nuôi con, nuôi cháu cho nên người.

*

Trại tù “cải tạo” đầu tiên trên đường bước xuống tầng đầu địa ngục là thành Ông Năm ở Hốc Môn. Cùng với những người tù khác, tôi đã phải học những bài học:“Đế quốc Mỹ, tên sen-đầm quốc tế – Ngụy quân, ngụy quyền, tay sai của đế quốc Mỹ.” Và nhiều bài học khác mà tôi đã quên tên. Tôi đã cặm cụi chép vào quyển tập học trò những câu khẩu hiệu: “Sống, chiến đấu, học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại – Học, học nữa, học mãi – Lao động là vinh quang…” Và còn nhiều câu khẩu hiệu mà tôi không còn nhớ, cũng như không dám nhớ!

Như đa số các tù binh, tôi thuộc loại “ngậm miệng qua sông.” Để chứng tỏ mình đã có tiến bộ về mặt tư tưởng, vào những ngày 19 tháng 5, ngày 2 tháng 9, ngày Tết Âm lịch, tôi đã sáng tác thơ ca tụng “cách mạng” gửi đăng “báo tường”.

Chính ở nơi đây, tôi đã cay đắng nghe viên thiếu úy bộ đội miền Bắc mà các “cải tạo viên” thường gọi là “anh hai thơ” (vì lúc nào anh ta cũng ngâm nga thơ của Tố Hữu), đọc cho nghe câu thơ mà anh ta bảo là của một chị phụ nữ miền Nam. Câu thơ như sau:

“Có chồng bộ đội là tiên
Có chồng quân ngụy đảo điên cửa nhà!”

Cũng chính nơi đây, chúng tôi đã dở khóc, dở cười khi được các “đỉnh cao trí tuệ” dạy dỗ. Chuyện mới nghe tưởng chừng như chuyện tiếu lâm mà lại là sự thật, tôi xin được kể lại như sau:

Sau một thời gian học tập, chúng tôi được phát giấy để làm bản tự kiểm. Thôi thì đủ thứ tội tình phải cố nhớ ra để mà “tự kiểm”: Trong thời gian phục vụ trong hàng ngũ ngụy quân đã đốt bao nhiêu cái nhà? Đã hãm hiếp bao nhiêu phụ nữ? Đã giết bao nhiêu “cách mạng”?

Viết xong phải thông qua tổ, đội rồi nộp lên Ban Chỉ huy trại.

Sau đó, tất cả các tù binh được lệnh xếp hàng ngồi dưới đất để nghe Ban Chỉ huy trại gọi vào hạch sách về những điều mình đã tự khai.

Chỉ huy trại là một người miền Nam tập kết, cấp bậc Đại úy mà các tù binh vẫn quen gọi là “ông Răng Vàng” vì nguyên hàm răng trên của ông là “kim loại màu vàng” – nói theo cách nói của “cách mạng”.

Một tù binh khai: “Cấp bậc: Đại úy, chức vụ: Quyền Tiểu Đoàn Trưởng” bị “ông Răng Vàng” đập bàn, hét:
“Me bố, quân ngụy các anh là láo lếu: ai chẳng biết các anh là Đại úy, là có quyền, còn bày đặt khoe khoang.”

Nói xong, ông ta lấy viết gạch bỏ chữ “Quyền” trước ba chữ “Tiểu Đoàn Trưởng”.

Một tù binh khác khai: “Cấp bậc: Đại úy. Binh chủng: Biệt Cách Nhảy Dù” bị “ông Răng Vàng” chỉnh:
“Mẹ bố, ngụy các anh là ưa khoe khoang: ai chẳng biết các anh “biết cách” nhảy dù.

Nói xong, “ông Răng Vàng” lấy viết sổ toẹt hai chữ “Biệt Cách”.

Một tù binh khác khai địa chỉ: “… đường Huỳnh Tịnh Của – Đa Kao”, đã phải dở khóc, dở cười khi bị một ông sĩ quan bộ đội người miền Trung “dạy dỗ” như sau:
“Ngụy các anh là ưa rắc rối: “Huỳnh Tịnh – Đa Kao” là người ta hiểu rồi. Còn bày đặt là “Huỳnh Tịnh của Đa Kao” làm gì cho rắc rối.”

Nói xong, ông ta bèn gạch bỏ chữ “Của” một cách ngon ơ!

Cùng với những tù binh khác, sau đó chúng tôi được đưa đến Long Giao, rồi về trại cải tạo Suối Máu ở Biên Hòa. Tôi vẫn tiếp tục “ngậm miệng qua sông” và làm thơ ca tụng “cách mạng” vào những ngày lễ lạc của những người thắng trận , với hy vọng là được “cách mạng” biết là mình đã “học tập, lao động tốt và đã có tiến bộ về mặt tư tưởng!”

Năm 1977, cùng với những người tù khác, tôi đã lênh đênh trên tàu Sông Hương lưu đày ra miền Bắc.

Tầng địa ngục thứ tư mà tôi phải đi qua là trại Nghĩa Lộ nằm trong một thung lũng là trại cải tạo đầu tiên tôi đặt bước chân lưu đày ra miền Bắc. Đêm đầu tiên mặc bộ đồ tù màu xanh có sọc trắng, các tù nhân trông giống như những đạo tì đi khiêng quan tài người chết.

Chính nơi đây, những người tù miền Nam mới thực sự biết đến cái đói. Mỗi bữa ăn chỉ được một miếng bột mì đen khuấy chín để đặc lại với vài cọng rau muống luộc chấm mắm tôm khuấy lỏng.

Mỗi ngày tù nhân phải leo lên núi chặt giang, đốn củi.

Ở đây, tôi cũng lại tiếp tục “ngậm miệng qua sông” để mà sống. Có ai đó đã vô cùng có lý khi nói rằng: “Thà làm con chó sống hơn là làm con sư tử chết!”

Cái đói là đòn cân não tàn phá nhân phẩm của những người tù. Người ta giành nhau từng phần chia lớn, nhỏ. Tù nhân đã phải tìm bắt tất cả những con vật động đậy có thể ăn được. Bỏ cấp bậc, lon lá xuống, mặc vào bộ quần áo tù, rất dễ nhận ra nhân cách của mỗi người. Có những người để lập công chuộc tội đã lén lút báo cáo người này có tư tưởng phản động, kẻ kia có âm mưu chống đối.

Ở trại Nghĩa Lộ, người nằm cạnh tôi là anh Trương Văn Tuyên (hiện định cư tại Canada), là người bị cấm thăm nuôi ở trại Suối Máu. Theo lời anh ta thì anh ta tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh,cấp bậc Trung úy, cựu Quận trưởng quận Hoài Nhơn, Bình Định.

Chuyện anh ta bị cấm thăm nuôi thì có nhiều chuyện lắm. Như chuyện anh ta “khoe” là “có quen với cán bộ quản giáo, nhưng chỉ quen cái lưng vì lúc đánh nhau anh ta đã rượt mấy ông bộ đội chạy có cờ.” Chuyện anh ta kể với tôi nguyên nhân chính là do lần anh ta kể chuyện chính quyền Việt Cộng gửi công hàm đòi chính phủ Thái Lan phải trao trả các phi cơ mà các phi công của miền Nam lấy và bay qua Thái Lan. Chính phủ Thái Lan đã gửi công hàm trả lời và trong công hàm chỉ vỏn vẹn có ba chữ viết tắt “B.C.T.”. Anh ta đố mọi người có biết ba chữ viết tắt này nghĩa gì không. Người thì cắt nghĩa ba chữ “B.C.T.” là “Bộ Chính Trị”, kẻ thì bảo là “Ban Cải Tạo”. Cuối cùng, khi mọi người chịu thua, Tuyên cười khì khì bảo ba chữ B.C.T. là viết tắt của ba chữ “Bú C. Trừ.” Sau đó, có người đi báo cáo để lập công nên anh ta bị cấm thăm nuôi.

Ở đây, anh ta lại tiếp tục chống đối. Khi viên Trại phó tên Điền, cấp bậc Đại úy ra lệnh tập họp các tù nhân ở hội trường và phổ biến quy định các trại viên khi gặp các cán bộ phải nói: “Kính thưa Ngài Trại Trưởng, Kính thưa Ngài Trại phó, Kính thưa Ngài cán bộ quản giáo…” Khi trại phó Điền ra lệnh giải tán lớp học, gặp tôi trên đường về lán trại, Tuyên khoanh tay, cúi đầu, nói lớn:
“Kính thưa Ngài trại viên”
rồi cười lớn làm tôi hoảng quá.

Buổi chiều, nhân lúc rửa chén ở dưới suối, tôi có nói với anh ta không nên chống đối ra mặt chỉ thiệt cho thân mình. Tôi nói xa, nói gần với anh ta về chuyện Hàn Tín lòn trôn giữa chợ, về chuyện “mang thiên quá hải”. Từ đó, anh ta thân với tôi hơn và anh ta thay đổi rõ rệt.

Trong thời gian này, trại phát động làm báo tường. Những trại viên có bài vở đóng góp sẽ được nghỉ lao động một ngày. Mỗi ngày lên rừng chặt, cột, vác về trại 15 cây giang rất là nặng nhọc đối với một người ốm yếu như tôi; do đó, tôi đã làm bài thơ “Đại dương trong lòng con sóng nhỏ” ca tụng công đức của ông Hồ Chí Minh để được nghỉ lao động một ngày

Bài thơ như sau:

“Con chưa khóc Bác một lần
Để nghe biển lớn vỗ nâng tâm hồn
Con chưa hát bản Kết Đoàn
Bác đưa tay bắt nhịp tràn yêu thương
Kiếp xưa đã lỡ cung đường
Nên con sóng nhỏ đau thương lạc loài
Trên cao Bác vẫn vẫy tay
Gọi con sóng nhỏ về đây nhập nguồn
Xa rồi thung lũng đau thương
Hạt mưa sa đã về nguồn yêu thương
Muôn vàn cảm tạ công ơn
Tấm lòng biển lớn bao dung ngất trời

(quên mất 2 câu)
Bác ơi! Ơn Bác tái sinh
Trên đường sống lại, trăm năm ghi lòng!”

Trương Văn Tuyên là người biết về âm nhạc, anh ta đã đem bài thơ phổ nhạc và đem hát trong buổi lễ sinh nhật của ông Hồ Chí Minh.

Hôm sau, lúc xuống suối rửa chén, gặp đại úy Hồ Bác Ái là người làm việc chung Phòng với tôi ở Bộ Tổng Tham Mưu, anh ta đã hỏi tôi một cách mỉa mai:
“Ông anh đổi họ hồi nào vậy, ông anh?”

làm tôi ngượng chín người. Từ lúc đó, tôi cố ý tránh gặp mặt anh ta. Tôi là người tham sống, sợ chết. Tôi là kẻ ngậm miệng qua sông. Tôi đã muối mặt ca tụng Bác, Đảng với mục đích duy nhất là chứng tỏ mình đã có tiến bộ về mặt tư tưởng để được Đảng và Nhà Nước khoan hồng, để được sớm đoàn tụ với gia đình, theo như lời phủ dụ của các cán bộ quản giáo. Có điều tôi đã không bước trên xác đồng đội mà đi, tôi chưa làm cái việc đốn mạt là làm “ăng-ten” báo cáo người này, người nọ để lập công.

Cuối năm 1977, trong đêm, chúng tôi, những tù nhân thuộc các diện Chiến Tranh Chính Trị, Cảnh Sát, Tình Báo tức các loại được Việt Cộng gọi là ác ôn được chất lên những chiếc molotova có mui che bằng lá gồi chuyển trại.

Tầng địa ngục thứ năm của chúng tôi là trại cải tạo Tân Lập ở Lào Kai. Ở đây tôi ở đội 4 rồi sau đó được đưa qua đội 5 của phân trại K.4 phụ trách việc làm gạch.

Mỗi ngày chỉ tiêu được giao cho 3 tù nhân là đạp nhuyển đất để làm thành một cối đất để đóng thành 200 viên gạch.

Cái đói ở đây thật khủng khiếp. Ăn ít như tôi mà đêm nào tôi cũng phải uống thêm nửa “gô” nước cho đầy bụng để cố dỗ giấc ngủ.

Mỗi ngày ra hiện trường lao động, tôi được hai anh em cùng cối đất giao công tác là lén bứt rau tàu bay rửa sạch, bỏ vào ống vầu (một loại giống như tre ở miền Nam), lén đặt vào đống lửa, sau đó lấy ra chia nhau ăn cho đầy bụng để mà đạp đất giữa trời.

Dù đã được các cảnh vệ cảnh cáo là ăn rau tàu bay sẽ bị mất máu, các tù nhân vẫn lén lút ăn rau tàu bay để có đủ sức mà hoàn tất chỉ tiêu, để khỏi bị phê bình là chây lười lao động.

Ở đây có một số anh em tù ở trại K.1 chuyển vào. Có người đã dè bĩu chuyện một ông Tướng, khi anh em chia thức ăn làm rớt một cọng rau muống xuống đất, ông này đã nhặt lên, không cần phủi bụi, đưa vào miệng ăn. Tôi thì tôi chỉ thấy chua xót.

Ở đây tới Tết, tôi có làm bài thơ để tặng T. Bài thơ có cái tựa dài thoòng như sau:

Thơ cổ đề tranh bốn mùa
trong phòng người vợ cô đơn

Mai:
Gió đông nói với mai vàng
Xuân này thiếp đã vắng chàng ba xuân.
Lan:
Mùa hè hoa lựu đỏ cành
Như lan vương giả thiếp đành cô đơn.
Cúc:
Mây mùa thu biếc tủi hờn
Cúc hiu quạnh nở trong vườn nhà ai.
Trúc:
Mùa đông xám vẫn còn đây
Ngựa qua rừng trúc lưu đày mù sương.

Viên trung sĩ công an phụ trách đội nhà bếp là một tay sính thơ văn. Không biết ai giới thiệu với anh ta là tôi biết làm thơ, anh ta cho gọi tôi lên văn phòng, chỉ mấy bức tranh mai, lan, cúc trúc và ra lệnh cho tôi làm mấy câu thơ và hứa sẽ “bồi dưỡng” cho tôi một ký mật. Đúng là buồn ngủ lại gặp chiếu manh. Tôi lại cố chứng tỏ mình đã được:

“Đảng cho sáng mắt, sáng lòng
Xin làm một giọt máu hồng về tim!”

bằng cách sửa bốn câu lục bát viết cho T. thành những vần thơ ca tụng công ơn trời biển của Bác, Đảng và nhân dân, như sau:

“Mai:
Mai vàng nở khắp muôn phương
Đảng đưa ta tới một vườn đầy Xuân
Lan:
Nhờ ơn Bác với nhân dân
Mùa Hè thơm nức hương lan đại đồng.
Cúc:
Mùa Thu cách mạng thành công
Cúc vàng khoe sắc, muôn lòng nở hoa.
Trúc:
Đông về, Bác bận đi xa
Trúc rừng Pắc Bó thiết tha ơn Người!”

Dù đã tìm mọi cách để chứng tỏ mình đã “sáng mắt, sáng lòng” tới như vậy, nhưng lúc Trung Cộng và Việt Cộng đánh nhau, tôi cũng như những người tù khác bị còng chung chiếc còng “made in Vietnam xã hội chủ nghĩa” làm bằng kẽm gai, leo lên xe molotova của Liên Sô, giã từ Phố Lu:

“Đoạn đường ta đã kinh qua
Mùa Đông buốt giá thịt da ngỡ ngàng.”

về trại cải tạo Cây Dừa ở Hạ Hòa thuộc tỉnh Vĩnh Phú. Hạ Hòa nổi tiếng với câu ca dao:

“Thương nhau cho thịt, cho xôi
Ghét nhau đem đến Mai Côi, Hạ Hòa.”

Ở đây, may mắn tôi được biên chế vào đội nhà bếp. Ngày ngày “đốt lửa lên em” để nấu bo bo, bắp xay, sắn duôi, sắn khúc. Chứng bệnh hiểm ác: tràn dịch màn tinh hoàn bắt đầu hành hạ tôi. Ngày nào, tôi cũng xách cái bìu dái sưng đỏ lên phòng y tế xin thuốc, mà thuốc ở phòng y tế thì có gì đâu ngoài thuốc xuyên tâm liên.

Tôi càng khủng hoảng hơn khi mượn quyển Tự Điển về y học của anh Lê Đình Ái mà người nhà đã đem vào cho anh khi còn ở trại Suối Máu ở trong miền Nam. Quyển sách ghi rõ về bịnh tình của tôi như sau: “Tràn dịch màn tinh hoàn: do bị thương ở hòn tinh lúc nhỏ, bị phát ra khi cơ thể suy nhược. Đông y không có cách chữa. Chỉ có thể chữa bằng cách giải phẩu. Nếu để lâu sẽ tuyệt tự.” Cái kiểu này là “chết ngộ dồi!” Tôi mới cưới vợ có sáu tháng, chưa có con cái là phải khăn gói gió đưa lên đường… cải tạo. Bây giờ lại bị cái bệnh có nguy cơ tuyệt tự thì còn biết nói thế nào.

Ở phân trại K.4 còn gọi là trại Cây Dừa có thằng tù hình sự tên Hùng-lợn vì bị tội ăn cắp một con lợn mà bị tù đã 7 năm, từ trại tù thiếu nhi đến trại tù người lớn, tối ngày vừa vác củi, gánh rau vừa ư ử ngâm nga câu thơ của ông Thiếu tá công an Bùi Văn Chiếu. Sở dĩ tôi biết được tên họ của ông giám thị trại giam này vì thấy có đóng dấu, ký tên trong “Giấy Ra Trại” mà tôi được cấp vào tháng 4 năm 1980:
K 4 đó rộn ràng biết mấy…”

Một bữa, nó vừa đặt gánh rau muống xuống bếp trại, ngồi bệch xuống đất, vê một “bi” thuốc lào vừa ư ử: “K.4 đó rộn ràng biết mấy…”. Tôi, lúc đó, mặt mày đầy mồ hôi, mồ kê vì đang chụm lửa để nấu nước, bèn thêm vào:
“Chỉ thấy người vào, chẳng thấy người ra.”

Hùng-lợn trố mắt nhìn tôi:
“Ông anh này… kinh nhỉ! Chỉ thấy người vào chẳng thấy người ra!”

Thực tình lúc đó tôi chỉ muốn chết. Đêm mùa Đông bệnh nó lại hành hạ tôi không sao ngủ được. Cả trại đặt cho tôi cái tên tục tĩu chịu không nỗi: Thằng Dái Bò!

Lúc Trung Cộng đánh nhau với Việt Cộng, anh đội trưởng đội nhà bếp là anh Trần Hòa Bình và các anh Lâm Đại Tòng (hiện định cư tại Canada), Đỗ Tài (hiện định cư tại San Jose) là những người Việt gốc Hoa bị đưa ra khỏi đội nhà bếp. Tôi được chỉ định làm đội trưởng đội nhà bếp.

Tháng 4 năm 1980, tôi có tên trong danh sách được xét tha theo diện “quan tha, ma bắt.” Trong số 120 người tù được tha, tôi lại là người mạnh khoẻ nhất, chỉ có kẹt một nỗi là cái bìu dái sưng đỏ, đau nhức chịu không nỗi. Những người khác, kẻ thì bị bệnh teo cơ, kẻ thì bại xuội, người thì bị ho lao, phải chống những cây gậy “tự biên, tự diễn” tức là tự mình “sáng chế” ra mà lếch trở về với đời.

May mắn khi tôi trở về, T., vợ tôi, vẫn còn:

“Ngày anh xa vắng, em không trang điểm đợi chờ
Nửa đêm đốt ngọn đèn mờ
Khuê phòng thổn thức cô liêu…”

Chúng tôi lại cùng nhau nhắc chuyện ngày xưa:

“… Giữa Sàigòn bỗng tình cờ gặp em
Lầu cao mỉm nụ cười duyên
Nhìn lên anh bỗng nghe thèm yêu đương
Anh – đời dạn gió phong sương
Em – hoa khuê các dậy hương xuân thì
…”

(trích trong “Tiếng hát từ hố thẳm nhân gian” thơ Nguyễn Thiếu Nhẫn)

để cùng ngâm lại những câu thơ cổ nói về hôn lễ của nhà thơ Viên Linh:

“Hôm nay ngày của hai người
Có khung cửa nhỏ khép đời chung quanh
Có ơn cha mẹ sinh thành
Có anh em đến chúc mình bền lâu
Tim hồng, ý biếc ơn nhau
Ngón tay ơn nhẫn, đêm thâu ơn đèn…”

Bệnh tôi được chữa khỏi nhờ người anh bà con bên vợ là bác sĩ Dương Minh Trí, chủ nhiệm khoa Niệu của bệnh viện Bình Dân. Tôi có hai đứa con trai. Khi vợ tôi mang thai đứa thứ hai thì tôi bị tiếp tục đi tù vì tội “hoạt động tình báo kinh tế, móc ngoặc cán bộ, lũng đoạn tài sản xã hội chủ nghĩa” chỉ vì tôi mua xà phòng bán đi, bán lại kiếm lời để nuôi sống gia đình. Ở phòng hỏi cung, viên công an điều tra lật qua, lật lại tờ khai lý lịch mà tôi đã nộp theo lệnh khi xin về địa phương cư trú, vỗ bàn hét lớn:
“Mày là Đại úy Tổng Tham Mưu Trưởng?”

Tôi đã nhỏ nhẹ trả lời:
“Thưa tôi chỉ là đại úy làm ở Bộ Tổng Tham Mưu. Còn Tổng Tham Mưu Trưởng là đại tướng Cao Văn Viên.”

Viên công an hỏi cung đập bàn, đứng dậy và trong lúc bất ngờ nhất y tống vào mặt tôi một cú đấm. Tôi đưa hai tay bị còng chùi máu ứa ra ở khoé miệng. Viên công an gầm gừ:
“Tao không cần biết mày là cái gì. Tao sẽ đưa mày trở lại mấy cái chỗ mà mày đã cải tạo để cho mày biết thân.”

Viên công an đã không thực hiện được lời nói là đưa tôi trở lại sáu tầng địa ngục mà tôi đã đi qua. Tôi được đưa tới hai tầng địa ngục khác còn cay đắng hơn nhiều là trung tâm tạm giam huyện Long Hồ và sau đó là trung tâm tạm giam tỉnh Cửu Long, tức Khám lớn của tỉnh Vĩnh Long ngày trước.

Tôi lại phải đánh những sợi lát thành dây bính, nghe nói là để xuất khẩu qua Liên Sô, vẹo cả hai ngón tay trỏ trong hai năm. Sau đó, được thả ra vì “xét thấy là không cần thiết phải truy tố.”

Lúc tôi được ra tù, đứa con thứ hai đang bị sốt xuất huyết đang nằm ở nhà thương. Rời nhà giam, tôi lại tới nhà thương để nuôi con.

Sau đó, tôi tìm mọi cách để ra đi, vì biết mình không thể nào sống cùng những người cộng sản. Họ có chịu cho mình “hòa giải, hòa hợp” với họ đâu. Trăm thứ tội tình cứ đổ trên đầu thằng “ngụy.”

May mắn mà tôi và đứa con trai 5 tuổi được tới đảo Bidong sau khi chiếc tàu vượt biển bị cướp hai lần.

Tháng 3 năm 1987, tôi và đứa con tới định cư ở Des Moines, thủ phủ của tiểu bang Iowa thuộc miền Trung Tây nước Mỹ.

Ở đảo tỵ nạn tôi bắt đầu viết quyển hồi ký “Những Trại Biến Hình” với những câu lục bát mở đầu như sau:

“Hốc Môn nhát cuốc bắt đầu
Long Giao đất đỏ lệ trào chứa chan
Đường về Suối Máu gian truân
Đường ra Nghĩa Lộ muôn phần đắng cay
Lạnh lùng sương trắng Lào Kai
Đường về Vĩnh Phú tương lai mịt mù
Ra tù rồi lại vào tù
Long Hồ, Khám Lớn mịt mờ tương lai.”

với ý định “tố cáo chế độ Hà Nội giết người chậm nhưng hữu hiệu.”

Phần đầu quyển hồi ký đã đăng tải trên tạp chí Sóng ở Canda và tuần báo Sáng ở Nam California.

Quyển hồi ký, sau đó, đã được đăng tải trên bán tuần báo Quê Hương ở San Jose với cái tựa “Hồi Ký Tù, Viết Ngoài Đời”.

Quyển hồi ký đã hoàn tất, nhưng tôi không có ý định xuất bản vì tôi nghĩ rằng những người Mỹ có thẩm quyền đều biết những điều đó – nhưng những đau thương đó không phải là của họ! Những người Việt tỵ nạn đi trước thì đang lo gầy dựng lại tương lai ở xứ người.

Sau này, tôi có tìm đọc những quyển hồi ký về tù cải tạo thì thấy những người này không viết về chính mình mà lại viết về những người khác mà lại nghe qua những lời kể lại.

Anh em tù cải tạo qua Mỹ theo diện H.O. ngày một nhiều. Cảnh đời của mỗi người còn bi đát hơn tôi nhiều. Thôi hãy để đau thương được lắng im!

Tôi viết “HỒI KÝ CỦA MỘT TÙ BINH” chỉ có mục đích trình bày những yếu đuối của bản thân trong thời gian “cải tạo”. Với tôi, sống bình thường trong các trại tù “cải tạo” của Việt Cộng đã là … “anh hùng” lắm rồi! Phần khác, cũng để trình bày vì sao đã không thể có sự hòa giải, hòa hợp giữa những người miền Nam bại trận và những người miền Bắc thắng trận; Bởi, những người thắng trận có bao giờ chịu đưa bàn tay ra bắt với những người miền Nam như những người anh em, đồng bào của họ. Lúc nào, đối với họ, những người bại trận miền Nam cũng là những “thằng nguỵ”!

NGUYỄN THIẾU NHẪN
(Trích trong “Người Đàn Bà Mang Thai Trên Biển Đông”, tập truyện của Nguyễn Thiếu Nhẫn, Tiếng Dân xuất bản năm 2007)
http://nguyenthieunhan.wordpress.com

Powered By Blogger