Saturday, May 31, 2014

Xâm lăng TC và giải pháp Việt Nam

Xâm lăng TC và giải pháp Việt Nam

I. Sự thật 

CSVN rất sợ và tối kỵ sự thật vì họ đã bắt dân Việt: sinh ra trong lừa đảo, sống trong dối trá, chết vì lừa bịp. Vì thế trong bài này chúng tôi hoàn toàn tránh các mỹ từ, các văn chuơng khách sáo, các câu nhã nhặn đầy ý tứ để hiểu ngầm... Tôi mong rằng những ai muốn tranh luận, phản biện, muốn đóng góp... nên có một chủ đề vì "lòng yêu nước Việt Nam vì tồn vinh dân Việt và vì sự thật".

Tàn phá Độc lập - Tự Do Việt Nam. Lãnh đạo CSVN cúi đầu, phủ phục trước lệ thuộc TC, CSVN ngày nay đâu đã có thật sự Độc Lập thì hai chữ Tự Do hay Dân Chủ chỉ là cái ảo tuởng dùng dể lừa bịp dân mà thôi và đàn áp tất cả mọi nguời vì dám: chỉ trích, phân tách... chủ trương, đường lối của Lãnh đạo Độc Đảng CSVN.

Khi hai chữ Tự Do chỉ là bóng ma thì hai chữ Dân Chủđại bịp, là lưu manh ==> Đảng cử Dân bầu. Theo lịch sử nhân loại: nếu không có Độc Lập Tự Do, đất nuớc sẽ không bao giờ có Dân Chủ

Đảng CSVN là cá nằm trên thớt, đừng quên rằng hiện nay đâu còn Đảng CS Mãn Thanh, Đảng CS Nội Mông, Đảng CS Tây Tạng... tất cả đều đã bị diệt chỉ còn duy nhất Đảng CSTQ mà thôi. Đó là: "Hết thỏ thì TC sẽ giết chó săn (CS quốc nội)". Theo truyền thống chính trị Trung Hoa, dùng xong việc rồi thì phải giết những kẻ bán nuớc hại dân 

Nếu Đảng CSVN cứ tiếp tục dâng hiến đất, những người Việt yêu nuớc không có phản ứng tương xứng thì chúng ta nên nhìn sự thật: Mỹ, Nhật, Âu Châu, Australie... đương nhiên phải lo quyền lợi của chính họ trước. Trước sự việc này tuyên truyền chính trị của Đảng không còn nghĩa lý gì. Các Cụ đã nói: "Nhất sự bất tín, vạn sự bất tin" nay Đảng đang trở thành: "Vạn sự bất tín, nhất sự bất tin". Đó là lưu xú vạn niên cho Đảng và đảng viên. 

Trách nhiệm người Việt yêu nước. Mỗi chúng ta (hải ngoại, quần chúng, đảng phái chính trị, quân đội,..... đảng viên CS...) đều có nhiệm vụ trước hiểm họa này. Qua bao nhiêu năm chiến tranh “củi đậu nấu đậu”, "nồi da nấu thịt" đây là lúc phải có giải pháp cấp thời: vì quyền lợi đất nuớc, vì tồn vinh dân tộc chúng ta phải đi đến một quyết định chung. Chúng ta đều có sự khác biệt: tuổi tác, giải pháp, tham vọng, hiểu biết, chính trị, trình độ kiến thức... nên đến lúc hiểm họa tầy trời, các phe chống đối và Đảng viên yêu nước bất mãn vẫn chưa thoát được sự nghi kỵ, khác biệt, phản đối lẫn nhau... nên chúng ta chưa bao giờ đi đến giải pháp nào cho đất nước: kẻ bán nước cứ tùy nghi bán nước, buôn dân và đàn áp tàn bạo những người yêu nước. Đây là sỷ nhục cho toàn thể dân tộc Việt Nam: quỳ gối trước kẻ địch, đạp trên đầu Dân Việt. 

II. Giải pháp chận đứng Chính trị bành trướng TC về biển Đông: 

Mỗi chúng TA (hải ngoại, quần chúng, đảng phái chính trị, cán bộ, công an, quân đội, đảng viên CS...) phải nhìn sự thật vì quyền lợi đất nuớc, vì tồn vinh dân tộc dù không đúng ý mình, dù vì "vọng tuởng" hoặc "vọng ngã" của chính mình: 

a,- Trước việc xâm lăng TC, CSVN không đủ khả năng để tự giải quyết: đây là sự thật. Việt Nam bất lực về mọi mặt: quân sự; kinh tế; tài chánh; nhân sự...

b,- Để chống lại việc xâm lăng TC, CSVN cần có sự đồng thuận của các nước Á Châu, Mỹ, Úc...: đây là sự thật

Bành trướng TC về biển Đông gặp 02 trở ngại lớn nhất: Đài Loan và Việt Nam. 

Qua các biến chuyển quan trọng về tình hình đất nước và tình hình thế giới trong toàn vùng Biển Đông (géopolitique), nay đã đến lúc chúng ta cần phải nhìn thấy Sự thật trên bình diện quốc gia, Sự thật trên bình diện quốc tế, sau hết Sự thật trên bình diện tương lại của Việt Nam thương yêu của chúng ta. Tất cả thế giới: Mỹ, Nga, Âu Châu, Á Châu, Australie... đều không thể chấp nhận TC chiếm Biển Đông (Lưỡi Bò) 

** Giải pháp Đài Loan đã hình thành: đây là sự thật 

Trước sự bành trướng TC về biển Đông, Nhật và Mỹ đã ký kết một thỏa hiệp ngày 01.05.2006 về chỉ huy chung (commandement intégré) giữa Quân đội Nhật và Quân đoàn I của Mỹ với mục đích sát nhập 02 lực lượng để bảo vệ Nhật, các nước lân cận Nam Hàn và eo biển Đài Loan (nghĩa là Đài Loan). Vì hiệp ước này Thủ Tướng nhật J. KOIZUMI đã xin Quốc Hội Nhật sữa đổi quan trọng trong hiến pháp. 

"Conscients de la menace de l’expansion de la Chine communiste, le Japon et les Etats-Unis ont signé récemment, le 1er mai 2006 à Washington, un accord sur le commandement intégré - dans lequel sera intégré le quartier général du 1er corps d’armée américaine et traduit par une plus profonde intégration des forces d’autodéfense japonaise (avec une modification importante de la Constitution du Japon à la demande du premier ministre japonais de l’époque J. Koizumi) - dans le processus de défense aux zones limitrophes en cas de crise en Corée du Sud et dans le détroit de Taiwan (donc en cas d’attaque de cette grande île)". (Báo Le Monde) 

** Giải pháp Trung Lập Việt Nam đã đủ điều kiện: đây là sự thật 

Đúng là thiên thời vì quyền lợi quá to lớn của các nuớc Á-Châu, Mỹ, Úc... Vì Địa thế Việt Nam với biển Đông nên giải pháp Trung Lập Việt Nam sẽ giải quyết thật tốt quyền lợi thế giới và Việt Nam ==> đúng là địa lợi. Trước hiểm họa xâm lăng TC, tất cả người Việt yêu nước đã một lòng. Đây là sự đoàn kết của mọi tầng lớp dân Việt ==> đúng là nhân hòa. 

III. Giải pháp cho Việt Nam - Con đường lưu danh thiên cổ: CSVN phải thật sự tách rời TC đi con đường của Miến Điện: Trung Lập Vĩnh Viễn 

1,- Hiện nay Việt Nam đã trên con đường Trung Lập de facto rồi. Để chận đứng cấp thời TC xâm lăng Việt Nam (Việt Nam mất nước – Dân Việt nô lệ) và chuyển thành Trung Lập de jure Nhà Nước Việt Nam chỉ cần phải đưa ra cấp thời một tuyên ngôn long trọng (déclaration solennelle) và công khai trước LHQ (và Công Pháp Quốc Tế): Việt Nam Trung Lập không liên kết với TC. 

Sau đó Nhà Nuớc Việt Nam cho ra 01 chương trình vận động ngoại giao, dư luận quốc tế với: Âu Châu, Mỹ, Nga, Nhật, Ấn Độ, Nam Hàn, Đông Duơng, Thái Lan,.. Asean, vì TC rất sợ can thiệp Quốc tế nên lúc nào cũng áp đặt giải pháp đàn áp song phương (thay đổi). 

2,- Việt Nam nay là 01 nước Độc Lập, Tự Do và thành viên không thường trực của Hội Đồng Bảo An LHQ. Qua đó Việt Nam không cần qua các đường lối nào khác, tự do sửa đổi Hiến Pháp để trở thành 01 nước Trung Lập Vĩnh Viễn vì đó là nguyên tắc cơ bản tuyệt đối về Chủ Quyền Quốc Gia Độc Lập, Tự Do thành viên HĐ BA LHQ dựa theo nguyên lý cơ bản của lập hiến chế độ (le principe de la constitutionnalité). 

Trước sự bành trướng tàn bạo TC, Việt Nam cần có giải pháp cấp thời hữu hiệu: (Statut) Quy Chế Trung Lập Vĩnh Viễn trong Hiến Pháp không trái lại Công Ước Quốc tế nghĩa là: 

1.- Không tham gia liên minh Quân Sự vào thời bình cũng như thời chiến để tránh bị lôi cuốn vào mọi xung đột tương lai. (Không có căn cứ quân sự Ngoại Quốc trong lãnh thổ Việt Nam) 

2.- Thành lập Thể Chế Trung Lập Vũ Trang để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và Quy chế Trung Lập Vĩnh viễn của mình. Nhiệm vụ chính của Quân Đội là tự bảo vệ đất nuớc. 

3.- Giao thương công bằng với mọi quốc gia khi xẩy ra xung đột. Vào thời bình Việt Nam sẽ hoàn toàn Tự Do vô hạn chế về ngoại giao và ngoại thương với toàn Thế Giới. 

4.- Quy Chế Trung Lập Vĩnh Viễn của Việt Nam sẽ được chính thức thừa nhận trong Hiến chương Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Khi các nước thành viên LHQ thừa nhận Quy Chế Trung Lập Vĩnh Viễn, họ sẽ phải tôn trọng và bảo vệ Việt Nam trước mọi đe dọa ngoại bang. 

A.- An Ninh Vietnam. 

Trước đe dọa Kinh Tế, xâm phạm lãnh thổ và bành trướng Quân Sự TC, Việt Nam cần phải dựa vào Công Pháp Quốc Tế (LHQ) và đóng góp của Thế Giới để tự vệ trước hiểm họa ngoại xâm. 

Ý thức được hiểm họa bành truớng TC, Nhật và Hoa Kỳ vừa qua đã ký kết Hiệp Ước Liên Minh Quân Sự ngày 01.05.06: Thành lập Cơ Quan Chỉ Huy Quân Sự Chung Mỹ Nhật để bảo vệ vùng biển Nam Hàn và eo biển Đài Loan nghĩa là Đài Loan. 

Là nạn nhân chính thật của TC, CSVN lại chỉ có phản ứng ngụy tạo?! Tại sao? Các Đảng viên yêu nước đâu cả? Quý vị đã chấp nhận “lưu xú vạn niên” hay sao? 

Đây là đất nước của tổ tiên để lại, là tương lai cho hàng hàng lớp lớp bao nhiêu thế hệ trẻ sau này. Ai trong chúng ta sẽ có khả năng hiểu nổi tình trạng này? 

Con đường lưu danh thiên cổ: CSVN phải thật sự tách rời TC đi con đường của Miến Điện: Trung Lập Vĩnh Viễn 

B.- Quy Chế Trung Lập Vĩnh Viễn Việt Nam. 

Trên bình diện chính trị toàn cầu, đã đến lúc cả Thế Giới nhận thấy tầm mức cực kỳ quan trọng của Quy Chế Trung Lập Vĩnh Viễn Việt Nam, mặc dù là nước nhỏ bé, nghèo nàn lạc hậu vì sai lầm chính trị. Trước sự bành trướng Quân Sự TC (expansionnisme chinois) trên đất, đảo, biển, đường giao thông... trên toàn biển Đông, Việt Nam đang trở thành hàng phòng thủ tối quan trọng cho cả Đông Nam Á và thế giới. 

Vì lý do trên, vì công pháp quốc tế, Thế Giới sẽ phải ủng hộ Chủ quyền Việt Nam về Quy chế Trung Lập và nền Ngoại Giao Trung Lập. Đây cũng là nguyện vọng "Độc Lập Tự Do" của đại đa số người Việt trong mọi thành phần (quân, dân, cán bộ, việt kiều, đảng phái v. v....). 

Quy Chế Trung Lập Vĩnh Viễn Việt Nam sẽ đem lại Hòa Bình trên toàn cõi Đông Nam Á và đối nội sẽ đưa đến phát triển Kinh Tế với sự Hợp tác giữa mọi thành phần chính thị và người Việt trong và ngoài nước. Đây là tương lai huy hoàng cho đất nước và hạnh phúc cho toàn dân. 

Quy Chế Trung Lập Vĩnh Viễn sẽ được ghi vào Hiến Pháp: Ngoại Giao Trung Lập – Thể Chế Trung Lập chính trị (régime politique de neutralité) trong nước: Dân Chủ Trực Tiếp có nghĩa rằng tất cả mọi xu hướng chính trị, tất cả tôn giáo, tất cả công dân và sắc tộc, tôn trọng luật pháp Việt Nam và luật phát Quốc Tế, đều đuợc chính thức thành lập đảng phái hoạt động chí trị. 

C.- Luật Pháp Việt Nam và Luật Pháp Quốc Tế. 

Đặt trên cơ bản Thể Chế Dân Chủ Trực Tiếp và để tránh mọi biến thể chính trị trong tương lai, Việt Nam (cũng như Thụy Sỹ) thi hành nguyên tắc như sau: 

** Trước thay đổi thường xuyên vì sự toàn cầu hóa, để thi hành Quy Chế Trung Lập Vĩnh Viễn của mình, Việt Nam luôn luôn chấp nhận mọi Luật Pháp Quốc Tế hiện hành và mọi sửa đổi trong tương lai, và sẽ ghi vào nền Luật Pháp Việt Nam Trung Lập như đã được định nghĩa nói ở trên. 

** Luật Pháp Quốc Tế đương nhiên được chuyển vào Luật Pháp Việt Nam không cần qua văn kiện chính thức đặc biệt nào cả. 

D.- Tiên quyết Luật Pháp Quốc Tế. 

Đây là nguyên tắc pháp lý tránh các lạm dụng sau này sửa đổi Luật Pháp Việt Nam do các đảng phái. Để bảo đảm Quy Chế Trung Lập Pháp Lý Vĩnh Viễn, mọi Luật Pháp mới hay mọi sữa đổi phải tôn trọng triệt để (sine qua non) 03 điều kiện sau đây ( theo kinh nghiệm Thủy Sỹ): 

1.- Sự Tiên quyết (la primauté) Luật Pháp Quốc Tế... nghĩa là khi được hình thành nội Luật Pháp Việt Nam không được vượt qua Luật Pháp Quốc Tế (*). 

2.- Sự Tất đúng (l’infaillibilité) Luật Pháp Quốc Tế... nghĩa là mọi dự án Luật Pháp Việt Nam lúc nào cũng phải tôn trọng Luật Pháp Quốc Tế. 

3.- Không có sự ngoại lệ vì Quy Chế Trung Lập VV Việt Nam được thành lập dưới sự bảo trợ LHQ để giữ gìn toàn vẹn tổ quốc về mặt đối ngoại và đối nội là Dân Chủ Trực Tiếp, Tự Do, Hạnh Phúc của toàn Dân. 

(*) Sự Tiên quyết Luật Pháp Liên Bang Âu Châu (Union Européenne) đối với các nước thành viên: Luật Pháp Liên Bang Âu Châu phải được ưu tiên tôn trọng và sẽ được chuyển vào Luật Pháp của mỗi Nuớc thành viên. 

Quy Chế Trung Lập Vĩnh Viễn Việt Nam được ghi trong Hiến Pháp sẽ được chính thức thừa nhận trong Hiến Chuơng Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. 

Kết luận: 

Quy chế Trung Lập Vĩnh Viễn Việt Nam sẽ Chận đứng Hiểm Họa bành trướng TC. 

Nếu Việt Nam tiến đến Thể Chế Dân Chủ Trực Tiếp, việc gì sẽ xẩy ra sau đó đối với xã hội mới? Tôi không giám đi xâu hơn nữa, vì thật ra cái "thay đổi mới" sẽ xây dựng trên tàn dư của xã hội cũ xụp đổ. Mọi việc sẽ trở nên khá phức tạp: pháp chế, quy chế, phong tục, tập quán... phần nào sẽ còn lại, phần nào sẽ tan biến? Đây sẽ là cuộc cách mạng toàn diện về: chính trị, luật pháp, kinh tế, xã hội, tư tưởng, nhân sinh, ngôn luận... cùng lúc sẽ có cái hay và không hay lan tràn khắp nơi, chúng ta không tìm thấy trong lịch sử trường hợp sẽ xẩy ra ở Việt Nam. 

Đây là trách nhiệm chung của toàn thể Dân Việt: cũng có kẻ thờ ơ, cũng có người lợi dụng vì Quyền lợi cá nhân hoặc Đảng phái, cũng xẩy ra không ít "lưu xú vạn niên"... và cũng sẽ nhiều "công thành danh toại", cũng nhiều danh nhân trở nên "lưu danh thiên cổ". Ông Talleyrand (Charles Maurice de), nhà ngoại giao lừng danh đã cứu nước Pháp khỏi tan rã sau thất bại của Napoléon Ier, đã nói: "Mỗi dân tộc đều đáng với lịch sử của chính họ". 

Tất nhiên Chúng ta có thể tin rằng: Tương lai Đất Nuớc, Hạnh Phúc Nhân dân sẽ hoàn toàn nằm trong tay nguời Việt; nhưng trước mắt chúng ta sẽ có kẻ mạnh người yếu, người giàu, kẻ nghèo, người dại kẻ khôn... sự công bằng tuyệt đối sẽ không bao giờ có hoặc chỉ có trong tuyên truyền chính trị láo phét, bịp bợm hoặc sẽ đưa đến cưỡng bách, nô lệ... như vào thời CS trên thế giới. 

Vì lý tưởng quốc gia, vì hạnh phúc nhân dân, vì tôn trọng nhân quyền và dân quyền 02 chữ Trung Lập sẽ gôm cả Quy Chế Trung Lập Tôn Giáo. Qua Quy Chế Trung Lập này chánh phủ sẽ giữ địa vị Trung Lập đối với các tôn giáo do đó sẽ thỏa mãn các điều kiện tiên quyết: 

** Quốc gia không có tôn giáo (l'État n'a pas de religion) 

** Tự do tín nguỡng (liberté de religion) 

** Tự do tư tưởng và thờ cúng (liberté de conscience et liberté de culte) 

** Bảo đảm Nhân quyền (droits de l'homme) 

** Bảo đảm Tự do chính trị (liberté politique) 

** Dộc lập giữa văn hóa và tôn giáo (indépendance entre la culture générale et la culture religieuse. Ex: il n'y aura pas de texte sacré, ni de texte incréé ==> tout est humain). 

Vì các lý do này nên “Trung Lập Tôn Giáo” (la Neutralité religieuse) phải đứng trước “tục tính” (la laïcité) và đuợc đặt trên cả căn bản đức tin (la foi religieuse) xem ra chỉ có tính cá nhân chưa bao trùm tất cả các điều khoản ghi trên và trong địa bàn tổ quốc. Sự phân biệt này rất quan trọng đối với tương lai ôn hòa, hạnh phúc của dân Việt. 

Paris tháng 5, 2014 



________________________________________

Chú thích:

* Nguyên Thanh Tra Trung Ương Bộ Quốc Gia Giáo Dục VNCH 

* Nguyên Kỹ Sư đặc trách dự án của Schlumberger Industries (Pháp) 

* Thành viên Hiệp Hội – AEC – Association des Anciens Combattants – fondée en 1919 reconnue d'utilité publique (France) 

Shangri-La 2014: Trung cộng cầm cờ

Bụi thời gian lẫn gió Biển Đông đã xóa nhòa “lòng tin chiến lược” của những ngày này năm ngoái, làm tịt ngòi những quả pháo đại ở thông điệp đầu năm nay, đồng thời đang gặm nhắm cái bánh “hòa bình, hữu nghị viễn vông...” mới được ra lò hơn một tuần qua.

Thật ra chẳng ai lạ gì cái kiểu đốt pháo của CSVN từ T.Ư đến bản làng, từ cáo Hồ đến Trọng, Sang, Hùng, Dũng. Tuy nhiên cái tâm lý của những con người đang đói khát (nhất là đói khát dân chủ, tự do) khi nghe ngày mai có bánh (vẽ) thì suốt cả đêm trằn trọc không tài nào chợp mắt cứ mong cho trời mau sáng… và cơn đói lại càng hành hạ, tấn công nhiều hơn. Mặc dù trong thâm tâm luôn nghi ngờ là bánh vẽ nhưng vẫn hy vọng… Biết đâu! Cũng giống như một thầy lang tồi, chữa bệnh hết 90% là bệnh nhân phải chết, khi đến phiên vài người cuối cùng cũng vẫn hy vọng và biết đâu… chẳng lẽ chết hết? chứ không còn phương nào chạy được. Nói đến đây tôi bỗng nhớ đến cái xảo trá của tên gian hùng Tào Tháo. Trong một đợt chuyển quân qua cánh rừng già, đường dài mỏi mệt, cơn khát nước khô cổ họng hành hạ cả đoàn quân. Thế là Tào A Man cầm roi ngựa chỉ về cánh rừng phía trước mà rằng: - Ô kìa! Ráng đi một vài dặm nữa qua đến cánh rừng kia là cả một rừng mơ. Cả đoàn quân nhốn nháo vì thèm trái mơ chua mà chảy nước bọt. Cơn khát được tạm đẩy lùi và đoàn quân hăng say tiến bước.

Nhân dân VN gần thế kỷ qua đói tự do, khát nhân quyền. Những thứ đó đã bị đảng CSVN cướp đoạt từ khi mới sinh ra. Do đó bất cứ lúc nào, ở đâu lãnh đạo CSVN (kẻ ngồi trên đầu dân tộc) nói lên những ngôn từ cũ rích nhưng khi “nhai lại” được đánh bóng tô son, thêm mùi… thì cũng có khối người tạm tin, miễn cưỡng tin và cố mà hy vọng, biết đâu chừng… cũng giống như hoàn cảnh bệnh nhân với tên thầy lang tồi kể trên.

Đứng trước tình hình Biển Đông dậy sóng. Trung cộng ngang nhiên xem hầu như toàn bộ Đông Hải là của riêng mình. Do đó đầu tháng 5/2014 đã đem giàn khoan khổng lồ HD 981 cùng đoàn tùy tùng hùng hậu kể cả tàu chiến trang bị tên lửa yểm trợ và giàn khoan an vị trong vùng EEZ của VN rồi lần lượt di chuyển hết nơi này đến nơi khác, nơi nào chúng muốn cũng toàn trong lãnh hải của VN. Chúng cố tình tạo ra một tiền lệ để đưa mọi việc vô tình thế sự đã rồi và công nhiên trở thành lãnh thổ không tranh cãi, không khác được của TQ như Tp Tam Sa là điển hình. Trong thời gian này chúng hoàn toàn dùng sức mạnh cường quyền và tất nhiên mọi công ước QT, luật biển, luật pháp QT chúng đều bỏ bên lề cuộc chơi.

Về phía VN. Trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc, cái sợi dây siết cổ “ý thức hệ” xưa cũ, lỗi thời mà Trung cộng nắm đầu dây mấy thập kỷ qua. Chúng lôi đầu CSVN lên bờ xuống ruộng kể từ khi anh cả LX về với Marx. Từ đó đến rày CSVN chỉ biết có một con đường là ngoan ngoãn đi theo và khó mà thoát khỏi sợi dây cương, đồng thời trước mắt là các mật ước, mật chỉ từ thời Mao-Hồ đến Thành Đô rồi 10 văn kiện đầu hàng mà Trương tấn Sang vừa mới sang Bắc Kinh chầu tuân mệnh. Để xoa dịu sự phẫn nộ của toàn dân trước hàm cá mập xâm lăng của Tàu cộng mỗi ngày một công khai và ngang ngược. Hình như những công đoạn cuối của mật chỉ Thành Đô đã đi vào hồi kết. Đôi khi những điều tối mật đó cả bộ chính trị hiện thời cũng chưa hẳn đã hoàn toàn ai cũng bết rõ. Đảng CSVN tung ra những tràng pháo đầy màu sắc lung linh ẩn chứa sự điếm lừa.

Từ Shangri-La 2013 với “lòng tin chiến lược” rồi thông điệp đầu năm với “thành tâm chính trị” mang đầy màu sắc giả dối và hoàn toàn nghịch lại với dòng chảy ý thức hệ CS Ba Đình. Những viên pháo đại như “đổi mới thể chế, xóa độc quyền, nắm chắc ngọn cờ dân chủ”, “dân chủ và nhà nước pháp quyền là cặp song sinh trong một thể chế chính trị hiện đại”, rồi “nhà nước pháp quyền phải thượng tôn pháp luật, pháp luật phải đảm bảo được công lý và lẽ phải. Mọi hạn chế quyền tự do của công dân phải được xem xét cẩn trọng”.

Thật xấu hổ và mỉa mai thay khi tất cả những hình ảnh của những viên pháo đại kia được treo chung với những bức tranh phụ nữ VN trần truồng tung trước gió quyết đem cái khuông vàng mà sống mái một phen với chính quyền CSVN thẳng tay cướp đoạt đất đai nhà cửa. Cụ già dân oan phải chết lạnh nơi công viên giữa lòng thủ đô ngàn năm văn vật mà không một chiếc chiếu quấn lấy thân. 5 thanh niên lực lưỡng với tuýp sắt trong tay hành hung một phụ nữ yêu nước tay bế, tay bồng con thơ trên đường đi đòi nhân quyền cho dân tộc, chống bè lũ Tàu cộng xâm lăng. Giết chết không tha những người dân vô tội khi xui xẻo lọt vào đồn côn an rồi biến thành hành vi treo cổ tự tử. Hàng trăm côn an đàn áp người biểu tình yêu nước, kẻ khóa tay người kẹp cổ để cho tên khác thẳng chân đạp vào mặt. Rồi cảnh CSVN dùng gàu xe xúc đất để xúc dân oan đem nhốt vào tù. An ninh côn đồ đêm hôm rình rập ném mắm tôm, chất thải vào nhà khủng bố các nhà dân chủ đấu tranh cho nhân quyền. Cùng hàng vạn bức tranh với gam màu u tối thê lương khác.

Một chiêu bài mới là CSVN chuẩn bị đưa đơn kiện TQ ra tòa án Quốc Tế. Chúng nói thôi chứ ăn gan cóc tía cũng chẳng dám làm. Nếu vậy tại sao trước đây không xa, khi Philippines kêu gọi VN cùng họp tác với Phi trong hồ sơ kiện TQ mà CSVN ngoảnh mặt làm ngơ mà nhìn về phương Bắc? Bây giờ nước đã ngập đến mũi thì CSVN khóc than cầu cứ tứ phương, kêu gào trước thềm luật pháp QT. Nơi mà trước đây CSVN cười thầm, ngạo nghễ bỏ ngoài tai khi các tổ chức này kêu gọi VN tôn trọng nhân quyền? Thực thi điều luật cấm tra tấn, tự do ngôn luận, báo chí, tôn giáo… kể cả thời gian gần đây trong lúc những viên pháo đại đang nổ ở các diễn đàn quốc tế thì tại quốc nội côn an dã man đánh đập, bắt bớ khảo tra, sách nhiễu người yêu nước, biểu tình chống kẻ đang siết cổ CSVN. Có phải đảng CSVN đã chỉ thị tay chân thi hành theo lịnh của giặc Tàu? Hay do một đảng phái nào, thế lực thù địch nào như Việt Tân, Dân Chủ nào đó kích động làm xấu bộ mặt không phải người của chính quyền đảng CSVN?

Tráo trở, gắp lửa bỏ tay người là bản chất không thể nào thay đổi được. Thật không biết ngượng mồm, vừa qua trong phiên họp thường kỳ chính phủ ngày 29.5.2014 ông N.T.Dũng nói “về giải pháp đấu tranh pháp lý, chúng ta đã chuẩn bị hàng chục năm nay, còn thời điểm nào hợp lý thì bộ chính trị sẽ quyết định”. Ô hô! Bớ 3 hồn 9 vía 3 Ếch lai tỉnh lại đi. Trong cơn mê sảng ồm ộp những gì nghe quá nặng mùi… Trong lúc cái nội các của Ếch ở Ba Đình rối ren như canh hẹ, trống đánh xuôi - kèn thổi ngược. Kịch sĩ bi hài phó thủ Vũ đức Đam - người mà đã bật khóc hết cỡ volume khi thân xác chị Huyền chìm sâu mất tích dưới lòng sông Hồng lạnh giá, khiến cho mấy chị bán cá ở xóm vạn chài cũng sụt sùi theo. Kịch sĩ rằng: “Việc đưa nhau (TQ) ra tòa giống như bát nước đổ đi, lấy lại sẽ rất khó. Vì vậy, Việt Nam sẽ kiên định con đường ngoại giao để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình”. Một hũ mắm tôm pha kít hắn đã tạt vào mặt 3 Ếch. Đúng là giọng điệu của kẻ lòn trôn.

Shangri-La Tân Gia Ba đang trẩy hội… thế mà Ếch không dám nhảy ra khỏi hang để ồm ộp khoác lác một đôi lời như năm ngoái mà đành đẩy cho 2 hèn tướng, tớ thầy 20 tên mang mặt nạ, đội nón sắt sang chịu đòn. Bởi Ếch đã biết trước rằng phen này Trung cộng sẽ phất cờ ngược xuôi, đen trắng, đi tắt về ngang… trong ao đầm của Ba Đình phủ mà không e ngại cho dù là một con chó giữ nhà! Và một điều vô cùng nhạy cảm mà Ếch không dám nói ra trước e bầy tôi run sợ mà thối lui rằng: Phó hội chuyến này Trung cộng cho nữ tướng “Phàn Lê Huê” xuất trận. Với nội công thâm hậu và phép thuật của bà thì chỉ cần váy của bà xòe ra cũng đủ tung cả đám mạt tướng ăn hại nhà CSVN cùng lũ nô tài văng xa ra khỏi trái đất (phỏng ý của GS Thayer).

Không biết hôm nay, trước những con sóng dữ Biển Đông cùng luồng gió chướng cuốn sang từ Trung Nam Hải mà Đại tướng “Phùng Mang” trước dân oan, run chân trước hổ đói có nói hoặc phun ra được lời nào cho đỡ nhục khi xếp giáp qui hàng trước quân xâm lược Bắc Kinh???

Ngày 31/5/2014


Ý nghĩa chính xác "4 Tốt 16 Chữ Vàng"

Kính gởi bác Trọng và các đảng viên đảng cộng sản:

Thưa bác và các đồng chí của bác mà còn mơ hồ tin tưởng: “4 Tốt 16 chữ Vàng” nên đọc qua một lần để hiểu cho thật thấu đáo ý nghĩa của câu nói này trước khi trách móc tụi tàu không giữ đúng được câu nói này.

Theo như văn hóa phương đông của mình, thì câu nói “4 tốt – 16 chữ vàng” là lối nói của kẻ cả, lối nói của cha dạy con, lối nói của bậc đàn anh đàn chị nói với một người bên dưới. Nghĩa là các bác chỉ là tôi tớ, chỉ là đàn em, chỉ là con cái, chỉ là những người dưới, là những người dốt nát, cần phải được dạy dỗ. 

Ý tụi tàu nghĩ Bác và các đồng chí của bác (tụi mày) phải sống cho phải đạo, phải cho thật tử tế, phải có tôn tri trật tự, phải cho thật đàng hoàng với anh mày (tàu) nếu mà cứ hỗn xược lếu láo thì tao nẹt cho một trận, tao bợp cho mày một bợp tai. Ngược lại, thằng anh (tàu), thằng kẻ cả, nó muốn lật lọng, ăn nói cộc lốc, nó muốn giành giật cái gì ở trên tay thằng em (các bác) thì đó là quyền của nó, các bác phải lặng thinh, nín the mà lắng nghe. Nếu các Bác mà cứ cãi lại đòi bình đẳng, đòi thằng anh (tàu) đối xử tử tế như thằng em (các bác) đã từng tử tế, đã từng giữ đúng ý nghĩa như vậy thì chỉ có ăn thêm vài bạt tai nữa. Các Bác suy nghĩ coi sự diễn giải ý nghĩa của em có đúng như vậy không?

Vậy các bác đã hiểu thấu đáo được hết ý nghĩa khi Nghe tụi tàu nó cử rêu rao, nó cứ nhắc đi nhắc lại khi tiếp xúc với với Bác với các đồng chí của Bác bất cứ nơi nào. Đó là Ý tụi Tàu nó luôn luôn và muốn nhắc nhở các bác là phải tử tế và nghe thắm nhuần tư tưởng ấy đấy!

Vậy kể từ nay, mong Bác Trọng, và các Đồng Chí của bác, đừng bao giờ nhắc lại câu nói này trên diễn đàn của đất nước, trong những lúc họp quốc hội hay họp đảng và các Bác cũng đừng bao giờ mong mỏi tụi Tàu nó Đối Xử Tử Tế như các bác và các đồng chí của bác đã tử tế với chúng.

Đó là một sự Đòi Hỏi Viễn Vông!

Lâm Đồng: Biệt điện của Bí thư tỉnh ủy hoành tráng hơn cả dinh Toàn quyền Pháp tại Đông Dương

Biệt dinh triệu đô của ông Huỳnh Đức hòa, bí thư tỉnh ủy Lâm Đồng

  Báo Người cao tuổi trân trọng kính mời bạn đọc tham khảo bài “Cuộc phiêu lưu của lô đất vàng và biệt thự triệu đô của Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng” và chiêm ngưỡng dinh thự hoành tráng hơn cả Dinh thự toàn quyền Decoux ở thành phố Đà Lạt thuộc sở hữu của ông Huỳnh Đức Hòa, đương kim Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng cùng một số nhà đất khác của gia đình ông. 

Bạn đọc kính mến!

Trong một số kì báo vừa qua, quý bạn đọc đã có dịp chiêm ngưỡng “Dự án gia đình”, biệt dinh của ông Trần Văn Truyền, cựu Tổng Thanh tra Chính phủ, một phần tài sản (theo kê khai) của ông Ngô Văn Khánh, Phó Tổng thanh tra Chính phủ; khối bất động sản “khủng” của ông Hà Văn Toại, cựu Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn, v.v…

Trong số này, Báo Người cao tuổi trân trọng kính mời bạn đọc tham khảo bài “Cuộc phiêu lưu của lô đất vàng và biệt thự triệu đô của Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng” và chiêm ngưỡng dinh thự hoành tráng hơn cả Dinh thự toàn quyền Decoux ở thành phố Đà Lạt thuộc sở hữu của ông Huỳnh Đức Hòa, đương kim Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng cùng một số nhà đất khác của gia đình ông. 

Điều đặc biệt là dinh thự của ông Hòa xây dựng trên lô đất có nguồn gốc như là một cuộc “phiêu lưu” đầy bí ẩn cùng với lô đất mặt tiền đã được đấu giá lên tới 7,7 tỉ đồng để rồi sau đó lại trở thành thảm thực vật và trồng hoa mặt tiền của dinh thự do ông Bí thư Tỉnh ủy thuê mới kì cục làm sao?
Theo một số cán bộ lão thành ở địa phương, ông Huỳnh Đức Hòa nổi tiếng giàu có vào loại hàng đầu ở tỉnh Lâm Đồng từ khi còn làm Giám đốc Công an tỉnh, chả thế mà con trai ông là Huỳnh Đức Khánh (sinh năm 1982) một thanh niên mới vào biên chế hai, ba năm đã sở hữu riêng một biệt thự lộng lẫy (ảnh 3). 

Một số cán bộ lão thành chua xót: “Nếu chỉ bằng tiền lương, thì 1.000 năm ông Huỳnh Đức Hòa may ra mới có được một khối tài sản”khủng” như thế!



Ngôi nhà 3 lầu mặt tiền phố (149 Phan Đình Phùng) theo nhiều người trị giá xấp xỉ 15 – 20 tỉ đồng ông Hòa cho thuê.




Cổng phụ thứ hai và phía sau dinh thự của ông Huỳnh Đức Hòa ở đường Khởi Nghĩa Bắc Sơn, TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.




Biệt thự hoành tráng (chưa có số nhà, biển hiệu) mới xây xong tại Khu Nghệ Tĩnh, Phường 7 TP Đà Lạt cho là của con trai ông Hòa sinh năm 1982 Huỳnh Đức Khánh.

Căn nhà tại Chợ trung tâm Đà Lạt được gia đình ông Huỳnh Đức Hòa cho thuê từ hàng chục năm nay.




Biệt dinh của ông Huỳnh Đức Hòa được đầu tư xây dựng gần 2 năm, phía trước là lô đất đã tổ chức đấu giá 7,7 tỉ đồng nhưng bất ngờ lại thành đất trồng hoa và bảo vệ mấy cây thông do ông Huỳnh Đức Hòa thuê đất tại đường Khởi Nghĩa Bắc Sơn, TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Bài: Vũ Phong – Ảnh: Mạc hồng kỳ

* So sánh biệt dinh của gia đình bí thư tỉnh ủy Lâm Đồng Huỳnh Đức Hòa với Dinh II - tức dinh Toàn quyền Pháp tại Đông Dương Jean Decoux:

Dinh II được xây dựng vào năm 1933 làm nơi nghỉ ngơi và làm việc của toàn quyền Pháp tại Đông Dương Jean Decoux. Dinh II nằm trên một đồi thông, cách trung tâm Đà Lạt 2 km, bên trong có tới 25 phòng.

Dưới thời Việt Nam Công Hòa, Dinh II là nơi làm việc của của gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm. Sau này được tướng Nguyễn Khánh chọn làm tổng hành dinh.  

Sau năm 1975, Dinh II trở thành nhà khách của Uỷ ban nhân dân tỉnh Lâm Đông, dùng để đón tiếp gia đình các quan chức cộng sản chóp bu đến Đà Lạt nghỉ mát.

Thôi rồi… Con sáo sang sông!?

'Ông Phùng Quan Thanh phát biểu tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore: “Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi”.

Quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Đông và đôi khi cũng có những va chạm gây căng thẳng [1].'...

Tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore -  Khi Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe nhấn mạnh sự ủng hộ với VN và Philippines.


Thì ông Phùng Quan Thanh phát biểu tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore: “Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi”.

Quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Đông và đôi khi cũng có những va chạm gây căng thẳng [1].


“Đang phát triển tốt đẹp” Lời BT/QP phùng Quang Thanh nói trên, khi trước đó một ngày lúc 16h chiều 30/5, chiếc tàu cá định mệnh ĐNa 90152 của ngư dân Đà Nẵng bị tàu Trung Quốc đâm chìm gần giàn khoan HD 981 hôm 26/5 đã được lai dắt về đến vùng biển Đà Nẵng. (Chiếc tàu chìm chỉ ló lên chóp mũi )

Nhìn những hình ảnh trên, cùng lời phát biểu của hai VIP Nhật Bản và CHXH/CSVN tại phiên họp quốc tế ngày 31/5 trong Đối thoại Shangri-La ở Singapore - Không cần phải bình luận, mà hãy để cho toàn dân tộc Việt Nam tự vấn.

Tuy nhiên có nên sửa lại lời này không? “Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng, lỡ người ta có qua nhà mình leo lên bàn thờ Tổ “ị” một đống thì mình cứ quét dọn lau chùi, bay mùi một chút, có sao đâu!?

Bởi trong bài diễn văn trước đó một ngày (30/05), Cụ thể về vấn đề tranh chấp căng thẳng hiên nay ở biển Đông, Thủ tướng Nhật Bản ông Abe nhấn mạnh về nhu cầu cần phải tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế ông nhấn mạnh về “3” nguyên tắc (nguyên văn):

- “Khi chúng ta nói về luật lệ trên biển thì điều đó có nghĩa gì. Nếu chúng ta lấy tinh thần cơ bản mà chúng ta đã đưa vào luật quốc tế qua năm tháng thì có thể thấy có ba nguyên tắc, và luật lệ trên biển là điều đơn giản và dễ hiểu.

- “Nguyên tắc thứ nhất các các nước tuyên bố và làm rõ chủ quyền dựa vào luật lệ quốc tế.

- “Nguyên tắc thứ hai là các nước không dùng vũ lực hay hăm doạ nhằm để khẳng định chủ quyền.

- “Và nguyên tắc thứ ba là các nước sẽ tìm cách giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình.”

Với tư cách một diễn giả chính, Thủ tướng Nhật Bản, ông Shinzo Abe nói Tokyo sẽ “ủng hộ tối đa” cho các nước Đông Nam Á, trong đó có một số nước có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc. Chúng tôi cũng ủng hộ Việt Nam trong nỗ lực giải quyết tranh chấp thông qua đối thoại.

Trong một diễn biến khác, tại diễn đàn về an ninh ngay sau khi kết thúc Diễn đàn Kinh tế Thế giới về Đông Á vừa qua ở Philippines, Đô đốc Samuel Locklear, chỉ huy Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ, Mỹ đang trong tiến trình xây dựng một khối đồng minh an ninh mới ở châu Á-Thái Bình Dương để đáp trả lại những hành động hung hăng của Trung Quốc trên biển Đông.

Tư lệnh quân đội Mỹ tại Thái Bình Dương Đô đốc Samuel Locklear.

Khối đồng minh an ninh mới sẽ bao gồm Philippines, Việt Nam, Úc và Nhật Bản, (trang tin chuyên về Trung Quốc China Topix của Mỹ dẫn lời các nguồn tin chính phủ Philippines.)

Và như để phản hồi cho các “tín hiệu” nói trên, BT/QP Phùng Quang Thanh trong lời khẳng định mở đầu bài phát biểu rằng: “Quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp”!?? - Ông ta lờ đi lời phát biểu thẳng thừng của ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tại hội nghị Diễn đàn kinh tế thế giới Đông Á, tại Manila, 21/05/2014 cón nóng hổi mới đây:


“Chúng tôi đã hết sức chân thành, thực tâm, thiện chí và kiềm chế, nhưng câu trả lời hiện nay là Trung Quốc ngày càng gia tăng sức mạnh, các hành động uy hiếp và xâm phạm, rồi liên tục vu khống và đổ lỗi cho Việt Nam. Những gì mà Trung Quốc đang làm khác rất xa những gì mà Trung Quốc nói”. (TT/ Nguyễn Tấn Dũng)

“TQ đang đe doạ nghiêm trọng hoà bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải ở Biển Đông “Thủ tướng Việt Nam kêu gọi cộng đồng quốc tế “ lên tiếng mạnh mẽ yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay các hành động xâm phạm, triệt để tuân thủ luật pháp quốc tế”. (TT Nguyễn Tấn Dũng) [1].

Trước đó, trong cuộc phỏng vấn với BBC hôm 30/5, giáo sư Carl Thayer, từ Học viện Quốc phòng Úc, đã dự đoán cho rằng bài phát biểu của tướng Thanh ngày 31/5 tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore “Sẽ không có bất cứ ảnh hưởng nào đến tình hình hiện nay trên Biển Đông, Tôi đã nói chuyện với nhiều chuyên gia về Hoa Kỳ và Trung Quốc từ khi đến Singapore. “Giới chức Việt Nam thường có thói quen nói chung chung và không đi vào cụ thể” - Dự đoán của chuyên gia nước ngoài cứ y như rằng và còn hơn thế nữa:

“Quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp... BT/QP Phùng Quang Thanh”

“Thôi rồi con sáo sang sông” - Không biết có nên nói như vậy không? Kính thưa quý bạn đọc!



_________________________________

Chú thích:

Phản biện 6 luận điểm của Ngô Viễn Phú

Luận điểm số 1: Đoạn thứ nhất trong “Tuyên bố lãnh hải”, mà chính phủ Trung Quốc đã công bố vào tháng 9 năm 1958, đã nói rất rõ rằng, phạm vi bao quát trong 12 hải lý của lãnh hải Trung Quốc là thích dụng cho tất cả lãnh thổ của Trung Quốc, trong đó, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa.

Công hàm Phạm Văn Đồng đã rất rõ ràng “ghi nhận và tán thành” với tuyên bố về lãnh hải của chính phủ Trung Quốc, thì trước hết chính là thừa nhận và tán thành chủ trương về lãnh thổ của Trung Quốc, bởi vì chủ trương về lãnh hải có gốc là chủ quyền lãnh thổ, lãnh thổ không tồn tại thì lãnh hải cũng không có căn cứ.

Công hàm Phạm Văn Đồng không đưa ra bất cứ quan điểm bất đồng hay ý kiến bảo lưu nào về Tuyên bố Lãnh hải của chính phủ Trung Quốc, thì theo lô-gich, là cho thấy chính phủ Việt nam tán thành với toàn bộ nội dung của Tuyên bố Lãnh hải do chính phủ Trung Quốc đưa ra, trong đó, có bao gồm cả chủ trương “quần đảo Tây Sa, quần đảo Nam Sa thuộc vào lãnh thổ Trung Quốc”

Tác giả Ngô Viễn Phú - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Pháp luật Việt Nam  (Đại học Dân tộc Quảng Tây), từng là du học sinh của Đại học Quốc gia Việt Nam.

Phản biện số 1: Trong tuyên bố của nước có tên Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH) tại điểm 1 nói rằng:

“Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Điều lệ này áp dụng cho toàn bộ lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bờ biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa và các đảo khác thuộc Trung Quốc”

Một khi cho rằng công hàm Phạm Văn Đồng “ghi nhận và tán thành” toàn bộ “tuyên bố” này là của nước có tên CHNDTH, ông Ngô Viễn Phú buộc phải làm rõ cụm từ “...và các đảo khác. Bởi vì, ông Phạm Văn Đồng không chỉ “ghi nhận và tán thành” các đảo có tên cụ thể mà còn “ghi nhận và tán thành” “các đảo khác”. Một “tuyên bố” tầm cỡ quốc gia không bao giờ được phép dùng chữ với ý nghĩa mơ hồ. 

Với tư cách là một tiến sĩ luật nổi tiếng, hẳn ông Ngô không thể và không nên từ chối yêu cầu đảm bảo tinh thần “học thuật” và “luật học”? Một khi, việc làm rõ này chưa xảy ra, nghĩa là “bản tuyên bố” của nước có tên CHNDTH chưa có đủ căn cứ khoa học để bảo đảm giá trị như tự thân của nó muốn, bởi toàn bộ “bản tuyên bố”một thể thống nhất, không cắt rời.

Luận điểm số 2: Vào thời gian này, tình hữu nghị Việt - Trung tốt đẹp là sự thực, nước Mĩ lại là kẻ thù chung của hai nước Việt - Trung, Việt Nam lên tiếng ủng hộ Trung Quốc trên trường quốc tế chính là lí do tình cảm đó. Thế nhưng, trong vấn đề không thể hàm hồ là giao thiệp về chủ quyền lãnh thế như thế, cứ tự nói “ý nguyện” là thế này thế kia, để mà lật lại câu “ghi nhận và tán thành” rành rành trên giấy trắng mực đen, thì trong quan hệ quốc tế vốn trọng chứng cớ văn bản, sẽ không được người ta tin tưởng và công nhận đâu!

Phản biện số 2: Theo trên, thời điểm thập niên 1950, ông Ngô cho rằng “tình hữu nghị Việt – Trung tốt đẹp là sự thực...”. 

Cả hai nước này công nhận lẫn nhau là sự thực. Nước có tên Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) tuyên bố thành lập ngày 02/9/1945. Nước có tên CHNDTH tuyên bố thành lập ngày 01/10/1949. Cả hai thời điểm “lập quốc” cũng là sự thực. Tuy nhiên, “sự thành lập” của hai quốc gia này không xuất phát từ việc người dân bầu cử tự do và hợp pháp - đây là một sự thực thứ ba.

Do đó, khi ông Ngô đề cập đến chữ “hữu nghị”, có lẽ phải nói rõ ràng trước toàn dân Việt Nam và toàn dân Trung Hoa cũng như các sắc dân khác hiện đang sinh sống tại nước có tên CHNDTH (đương nhiên trong đó có cả người Tây Tạng và người Tân Cương) rằng: “Tình hữu nghị đó” là riêng, giữa nước có tên CHNDTH và nước có tên VNDCCH.

Luận điểm số 3: Cách biện luận này có ngầm ý sau: nếu không ở vào hoàn cảnh chiến tranh, nếu không cần sự viện trợ của Trung Quốc, thì Việt Nam sẽ không thừa nhận Tuyên bố Lãnh hải của Trung Quốc, không phát sinh (sự kiện) công hàm Phạm Văn Đồng. Thế nhưng, loại biện luận như thế này chỉ là miêu tả lại một sự thực đã xảy ra, không thể, dù một chút xíu, phủ định được hiệu lực của công hàm Phạm Văn Đồng.

Thêm nữa, không có bất cứ chứng cớ nào chứng minh việc Trung Quốc đã lợi dụng Việt Nam ở vào hoàn cảnh khó khăn đang cần sự giúp đỡ của Trung Quốc để dồn ép chính quyền Việt Nam phải nuốt bồ hòn làm ngọt mà thừa nhận chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc. Bản thân công hàm đã gửi cho chính phủ Trung Quốc và nội dung của nó cho thấy: tất cả đều là quyết định tự chủ tự nguyện của chính phủ Việt Nam.

Nói ngược lại, giả như ở vào thời điểm đó, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ trương rằng quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, thì từ lập trường dân tộc chủ nghĩa vững chắc và nhất quán của người Việt Nam, chính phủ Phạm Văn Đồng sẽ không gửi công hàm đó cho Trung Quốc, hoặc chí ít thì trong công hàm sẽ bỏ quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa ra bên ngoài.

Lại thêm nữa, cộng với chứng cớ là việc trước năm 1975, trong nhiều trường hợp (nói chuyện giữa nhân viên ngoại giao với nhau, bản đồ, sách giáo khoa), Việt Nam đều chủ trương rằng quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc, thì có thể chứng minh rằng, việc thừa nhận trong công hàm Phạm Văn Đồng rằng quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa thuộc lãnh thổ vốn có của Trung Quốc chính là cách suy nghĩ thực sự của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Phản biện số 3: Dù ông Ngô nói rằng “...không có bất cứ chứng cớ nào chứng minh việc Trung Quốc đã lợi dụng Việt Nam ở vào hoàn cảnh khó khăn đang cần sự giúp đỡ của Trung Quốc để dồn ép chính quyền Việt Nam phải nuốt bồ hòn làm ngọt mà thừa nhận chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc...”, song le, ông lại chấp nhận điều mà ông gọi là “ngầm ý” rằng “...nếu không cần sự viện trợ của Trung Quốc, thì Việt Nam sẽ không thừa nhận Tuyên bố Lãnh hải của Trung Quốc, không phát sinh (sự kiện) công hàm Phạm Văn Đồng...” và Ngô Viễn Phú tự thân công nhận “...biện luận [đó]... là miêu tả lại một sự thực đã xảy ra...”, điều này có nghĩa: VNDCCH, lúc bấy giờ rất “túng thiếu” là điều có thật. Ôi chao! Sự thật mới quan trọng làm sao, phải không tiến sĩ Ngô?

Có khi nào, một người có “của ăn của để” lại cần phải “cầm cố” một tài sản mang giá trị là “bảo vật” được truyền lại nhiều đời không nhỉ? Trong khi đó, chưa chắc “bảo vật” đó là của riêng anh ta mà của cả gia đình giòng tộc, chẳng qua vì anh ta túng quá bèn lén “xách nó” đi... làm bậy. “Tiệm cầm đồ” nào đó, dù biết rõ giá trị (tinh thần thiêng liêng và cả vật chất) món hàng được mang ra “cầm cố” trong lúc “thiếu thuốc”, lại vẫn vui vẻ “cầm” với “giá bèo” cùng lãi suất “cắt cổ” thì “tiệm cầnm đồ” đó có vi phạm đạo đức làm người và pháp luật không nhỉ (?). Nếu tiến sĩ Ngô đủ tự tin Hoàng Sa thuộc nuớc có tên CHNDTH, sao ông không tư vấn ngay cho nhà nước có tên CHNDTH giành lấy chủ động kiện ra tòa án quốc tế ?

Hãy nghe nhà luật học nói tiếp: “...chí ít thì trong công hàm sẽ bỏ quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa ra bên ngoài...”. Một “tuyên bố” thống nhất - không thể cắt rời - mang tầm quốc gia, lại được một ông tiến sĩ luật - Viện trưởng (cả một viện nghiên cứu về luật pháp) coi nó như... “một ổ bánh mì”, thích thì cắt, khoái thì xé ra “từng miếng” thế sao (?). Tiến sĩ Ngô tỏ ra không chỉ xem thường “tình hữu nghị” mà ông gọi là “sự thực” của nước có tên VNDCCH, nguy hại hơn ông Ngô đang mạ lỵ vào nước có tên CHNDTH mất rồi. Rất tiếc, suy nghĩ như thế, có vẻ không xứng lắm với một tiến sĩ luật (!).

Luận điểm số 4: Trước năm 1975, tức là trước khi chính quyền miền Bắc giành chiến thắng để thống nhất hai miền Nam Bắc, miền Bắc một mực tuyên bố mình là chính thống, là đại diện hợp pháp duy nhất cho Việt nam, và gọi chính quyền miền Nam là “bù nhìn”, là “chính quyền ngụy” phi pháp, cần phải tiêu diệt. Ở thời điểm đó, trên trường quốc tế, một số quốc gia có quan hệ tốt với miền Bắc, trong đó có Trung Quốc, đều thừa nhận miền Bắc là đại diện hợp pháp duy nhất cho Việt Nam; và phía Trung Quốc, vào ngày 18 tháng 1 năm 1950, thể theo đề nghị của chính quyền miền Bắc, đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với miền Bắc, hai bên cùng cử đại sứ (tới Hà Nội và Bắc Kinh). Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ những sự thực lịch sử không thể chối cãi đó, chính phủ Việt Nam hiện nay chính là nhà nước kế tục của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước đây, sau khi chiến thắng và thống nhất hai miền Nam Bắc, lẽ ra phải giữ vững chuẩn tắc cơ bản trong quan hệ quốc tế, cũng tức là tín nghĩa cho nền chính trị của quốc gia, giữ vững lập trường quốc gia trước sau như một, đằng này, tại sao lại vì lợi ích vốn không nên có, mà “qua cầu rút ván”, bội tín phản nghĩa?!

Nếu theo quan điểm đã nhắc đến ở trên của các học giả Việt Nam thì, miền Bắc là “bên thứ ba ở ngoài không liên quan”, như vậy, sẽ có nghĩa là thừa nhận địa vị hợp pháp của chính quyền miền Nam, và thế thì, những cái gọi là “bù nhìn” hay“chính quyền ngụy” chỉ là cách gọi càn, và việc “giải phóng miền Nam” của chính quyền miền Bắc chính là hành động xâm lược. Theo nguyên tắc của luật quốc tế, bên xâm lược không có quyền “kế thừa” lãnh thổ và tất cả các quyền lợi của bên bị xâm lược, thế thì, chính quyền Việt Nam hiện nay, vốn là kế tục của chính quyền miền Bắc trước đây, sẽ không có quyền lấy tư cách người kế thừa của chính quyền miền Nam để mà đưa yêu cầu về lãnh thổ đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa.

Phản biện số 4: Việc một nhà nước không do dân bầu cử tự do và hợp pháp, thừa nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với một nhà nước cũng tương ứng tình trạng như thế, hoàn toàn không nói lên nguyện vọng của nhân dân hai xứ sở Trung Hoa - Việt Nam. 

Thông thường, những nhà nước không chính danh lại thích nhân danh “dân chủ” hoặc liều mạng lấy (đại) tên nước là“cộng hòa nhân dân...”. Người Việt Nam có tục ngữ “giấu đầu lòi đuôi”.

Nước có tên VNDCCH chiến thắng năm 1975 là sự thực. Không có gì bàn cãi. Tuy nhiên, lẽ nào tiến sĩ luật học Ngô Viễn Phú không biết nhà nước đó đã vi phạm hầu hết và vi phạm thô bạo hiệp định Paris 1973? 

Từ biến cố này, nhà nước có tên “cộng hòa nhân dân Trung Hoa” lẹ tay dùng kế “sấn hỏa đả kiếp” để mà hành động cướp ngay Hoàng Sa của Việt Nam. Lẽ nào một nhà luật học lại không hay không biết điều này? 

Nếu tiến sĩ Ngô đủ tự tin sử dụng thành ngữ Việt Nam: “qua cầu rút ván”, “bội tín phản nghĩa” đối với những tên “thiếu thuốc” lỡ đến “tiệm cầm đồ” gán nợ cho kẻ tham tiền, sao không tiện thể mắng luôn những kẻ nào với lòng tham lam vô độ đã ra lệnh xối đạn vào 74 người lính Việt Nam đang bảo vệ Tổ Quốc của họ, vào năm 1974, tại Hoàng Sa của Việt Nam? “Tín” nào và “nghĩa” gì đây nhỉ? Phải chăng đó là “chữ tín” và “chữ nghĩa” xuất phát từ sự đồng lõa của đôi bên cái gọi là “nhà nước” không phải do dân bầu lên?

Luận điểm số 5: Tháng 7 năm 1954, các nước tham dự Hội nghị Giơ-ne-vơ đã kí Hiệp định đình chiến cho Việt Nam, trong Hiệp định có qui định rằng “thông qua bầu cử phổ thông tự do, thực hiện việc thống nhất hai miền Nam Bắc”. Thế nhưng, chính quyền miền Bắc lấy lí do rằng hiệp định này được kí kết dưới sự dàn xếp của chính phủ Trung Quốc, đã làm tổn hại đến lợi ích của Việt Nam, không đại diện cho lập trường của miền Bắc, cho nên ngay từ đầu đã không muốn tuân thủ hiệp định. Tiến triển lịch sử về sau này cũng cho thấy cả chính quyền miền Bắc và chính quyền miền Nam đều không hề có ý tiến hành cuộc tổng tuyển cứ phổ thông tự do trên toàn quốc thông qua các cuộc tiếp xúc, cũng không đạt được bến bất cứ thỏa thuận làm việc nào, mà cả hai chỉ tự mình tuyên bố mình là “chính thống”, qua đó cho mình trở thành chính quyền “mang tính vĩnh cửu” mà không phải là lâm thời. Cả hai đều xây dựng cơ cấu chính quyền quốc gia hoàn chỉnh, như có quốc hội, chính phủ và các cơ quan bộ.

Luận điểm số 5 ở trên đã bị sự thực lịch sử phủ định, không còn sức thuyết phục nữa.

Phản biện số 5: Đúng như tiến sĩ Ngô nói: “...cả chính quyền miền Bắc và chính quyền miền Nam đều không hề có ý tiến hành cuộc tổng tuyển cứ phổ thông tự do trên toàn quốc thông qua các cuộc tiếp xúc, cũng không đạt được bến bất cứ thỏa thuận làm việc nào, mà cả hai chỉ tự mình tuyên bố mình là “chính thống”, qua đó cho mình trở thành chính quyền “mang tính vĩnh cửu” mà không phải là lâm thời. Cả hai đều xây dựng cơ cấu chính quyền quốc gia hoàn chỉnh, như có quốc hội, chính phủ và các cơ quan bộ...”. 

Lịch sử tang thương của Việt Nam cũng là sự thực. Do đó, công hàm Phạm Văn Đồng tiếp tục “có giá trị” bởi cái gọi là“chiến thắng” năm 1975. Liệu nước có tên VNDCCH có thể “thắng cuộc” nếu thực thi nghiêm chỉnh Hiệp định Paris 1973? Những người sẵn sàng “ký và xé” tất cả mọi điều hứa chẳng lẽ là những người mà nước có tên CHNDTH yêu mến và đáng “chơi” cùng với “16 chữ vàng” và “4 tốt”?

“Tell me who your friends are and I will tell you who you are.” - có lẽ tiến sĩ Ngô hẳn biết câu tục ngữ phương Tây này?

Tác giả cuốn “A Bitter Peace: Washington, Hanoi, and the Making of the Paris Agreement”, Pierre Asselin, phó giáo sư lịch sử ở Đại học Hawaii Pacific cho rằng:

“Hà Nội chiến thắng cuộc chiến Việt Nam, đó là điều chắc chắn, tuy nhiên họ cũng không thắng dựa trên các điều khoản của mình, là thắng một cách vô điều kiện.

Việc vi phạm Hiệp định Paris, điều mà phía Mỹ ít nhất đã cố gắng tôn trọng ở mức độ không đưa quân trở lại miền Nam, đã phá vỡ hình ảnh nạn nhân của chiến tranh chỉ muốn độc lập và hòa bình mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã dựng lên hơn một thập kỷ qua. Điều đó, cùng với những tình huống khác, đã làm giảm sự đáng tin của Hà Nội trong mắt thế giới, và một phần nào đó giải thích tại sao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam lại bị quốc tế bỏ rơi hồi năm 1980. Hiệp định Paris không phải là một “thắng lợi vĩ đại” của Hà Nội; nó là một sự hòa bình cay đắng và cần thiết để tạo những điều kiện dẫn đến chiến thắng nhanh chóng nhưng đầy rắc rối năm 1975” (trích từ wikipedia)

Một thứ “chiến thắng” không phải xuất phát từ Chính Nghĩa đã đủ đáng xấu hổ với cả thế giới, dám nói chi có quốc gia, mang tên “cộng hòa nhân dân...” lợi dụng hoàn cảnh tan nát của “một gia đình” để mưu lợi. Nhất định những kẻ trục lợi trên đau khổ người khác họ không thể hiểu được từ Hán - Việt: Vô Lương Tâm.

Luận điểm số 6: Có học giả Việt Nam cho rằng đây là chỗ quan yếu nhất để chứng minh công hàm Phạm Văn Đồng vô hiệu, do đó, đây cũng là lí do không thể bác bỏ. Thế nhưng, ở bài này, tôi cho rằng, sự việc thảy đều không chắc như đinh đóng cột như họ nói đâu, có thể phản luận từ hai phương diện: lô-gich pháp luật, sự thực lịch sử.

Thứ nhất, công hàm Phạm Văn Đồng không phải là điều ước ngoại giao, cũng không phải là tuyên bố đơn phương từ bỏ chủ quyền lãnh thổ, nên không cần sự phê chuẩn của quốc hội. Năm 1958, chính phủ Trung Quốc công bố Tuyên bố Lãnh hải, mục đích của nó không phải là tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc chỉ riêng cho một mình Việt Nam. Chính phủ Việt Nam và ông Phạm Văn Đồng đã giao công hàm này cho phía Trung Quốc, cũng không phải là từ bỏ chủ quyền lãnh thổ của nước mình, mà là, từ xác tín trong nội tâm, đã “ghi nhận và tán thành” chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải của Trung Quốc. Bởi vì nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngay từ đầu đã thừa nhận “quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa từ xưa đã là lãnh thổ của Trung Quốc”, về cơ bản, không có vấn đề Việt Nam từ bỏ chủ quyền lãnh thổ của mình.

Vào thời điểm đó, giữa Trung Quốc và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có tranh chấp lãnh thổ, công hàm Phạm Văn Đồng là xác nhận sự thực của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là xác nhận ngoại giao về văn bản mà Trung Quốc đã đưa ra, là thuộc phạm vi quyền hạn ngoại giao của chính phủ Việt Nam, không cần có sự phê chuẩn của quốc hội.

Thứ hai, Việt Nam lúc đó không có quốc hội chính thức, cũng không có hiến pháp chính thức. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại quảng trường Ba Đình, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 6 tháng 1 năm 1946, Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành bầu cử toàn dân tại vùng mà mình quản lí được, đưa tới sự ra đời của “quốc hội soạn thảo hiến pháp” mang tính lâm thời, soạn ra hiến pháp. Thế nhưng, do quân xâm lược Pháp đang từ Hải Phòng tiến về uy hiếp Hà Nội, thời gian ngắn của hòa bình tạm thời đã bị phá bỏ, lại bắt đầu chiến tranh kháng Pháp, dự thảo hiến pháp tuy đã được thông qua nhưng chưa được đem ra công bố. Sau khi sứ mệnh soạn hiến pháp của “quốc hội soạn thảo hiến pháp” đã hoàn thành, nếu quốc hội chính thức được sinh ra một cách trái luật, thì hoạt động bình thường của quốc hội ấy sẽ càng không có gì để nói đến nữa. Do đó mới có “Quốc hội giao quyền cho chính phủ căn cứ theo nguyên tắc đã xác định của hiến pháp mà thực thi quyền lập pháp”. Tình trạng này kéo dài đến năm 1960. Sau này, phía Việt Nam xác định nhiệm kì của Quốc hội khóa I là từ năm 1946 đến năm 1960, với độ dài nhất là 14 năm, đủ để chứng minh là thời kì bất thường: (quốc hội) tồn tại tương đối khó khăn, chính quyền chưa thể thực hiện được các hoạt động một cách bình thường. Hiến pháp chính thức đầu tiên của Việt Nam là Hiếp pháp năm 1959.

Thông qua khảo sát về lịch sử hiến pháp và quốc hội của Việt Nam, có thể nghiêm túc nói rằng, trước và sau năm 1958, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa có hiến pháp, cũng chưa có quốc hội. Chính phủ căn cứ vào qui định của “quốc hội soạn thảo hiến pháp” mang tính lâm thời mà có được quyền lập pháp, điều đó có nghĩa, trên thực tế, chính phủ có cả quyền lực của quốc hội. Việc chính phủ của ông Phạm Văn Đồng gửi công hàm đó cho chính phủ Trung Quốc là hoàn toàn nằm trong phạm vi quyền hạn hợp pháp của chính phủ.

Phản biện số 6: Những lý luận của tiến sĩ Ngô nhằm phản biện lý luận từ phía nước có tên CHXHCNVN rằng: “Theo nguyên tắc của hiến pháp, tất cả tuyên bố về với chủ quyền lãnh thổ mà chính phủ đưa ra đều phải có được phê chuẩn của quốc hội thì mới có hiệu lực. Công hàm Phạm Văn Đồng không thông qua quốc hội để được phê chuẩn, cho nên không có hiệu lực về pháp luật”. 

Lý luận của Ngô tiến sĩ là một lý luận thuộc phép ngụy biện “lợi dụng chữ nghĩa”. Ngô Viễn Phú cho rằng ông Phạm Văn Đồng có toàn quyền quyết định trong việc “xuất bản” ra công hàm mà không cần phải thông qua quốc hội.

Những chữ “quốc hội”, “chính phủ”, “hiến pháp”, “luật pháp”, hoàn toàn vô nghĩa không chỉ đối với nước có tên VNDCCH mà còn đối với nước có tên CHNDTH. 

Những khái niệm này cũng trở nên vô nghĩa trong “quan hệ bang giao” của riêng 2 nước này đối với nhau, chỉ một lý do duy nhất: Hai nước có cùng một chế độ - độc tài toàn trị. Một chế độ như thế, thử hỏi “hiến pháp” hay “quốc hội” còn có vai trò gì để cho một tiến sĩ luật mạnh miệng viện dẫn như một “nhà luật học” cần phải hấp thụ văn hóa văn minh và học hỏi thêm từ nền giáo dục nhân bản và khai phóng?

Kết 

Tóm lại, 6 luận điểm của tiến sĩ thuộc nước có tên CHNDTH hoàn toàn bị gãy đổ. Dù sao, Ngô Viễn Phú cũng giúp dân tộc Việt Nam và dân tộc Trung Hoa hiểu rõ thêm được tại sao Mao Trạch Đông gọi “trí thức là cục phân”.



__________________________________

Bài phản biện này hoàn toàn dựa theo đúng toàn bộ nội dung bằng tiếng Việt của trang dannews.info

Powered By Blogger