Thursday, June 30, 2011

Đoản khúc của những cảm xúc: Tôi “sợ” Trung quốc

Thùy Linh - Không phủ nhận nền văn minh Trung hoa cũng là một trong ba nền văn minh sớm nhất của nhân loại, xuất hiện cách đây chừng 3000 năm. Người Trung hoa đã sáng chế ra nhiều những phát minh cống hiến cho con người: họ biết đến hệ số thập phân; phân số, quan hệ của 3 cạnh trong một tam giác vuông…Họ vẽ được bản đồ của 800 vì sao; làm ra lịch can-chi; sáng tạo ra súng, la bàn, nghề in…Và tuyệt vời là châm cứu và đông y mà ngày nay người Việt vẫn rất ưa thích dùng chữa bệnh…Nhân loại chưa bao giờ quên điều đó.


Nhưng chưa bao giờ đất nước này tạo cho tôi một cảm hứng, xúc động hay gì gì đó lay động tâm hồn, tình cảm của tôi? Không phải đến lúc này khi họ giở trò tiểu nhân trên biển Đông. Tôi cũng đã đến Trung quốc 3 lần trước đây, nhưng chả lần nào đi về mà thấy lưu luyến, kể cả chuyến hành hương viếng thăm mấy ngôi chùa cổ? Sao vậy nhỉ? Tất cả những gì tôi sắp liệt kê dưới đây hoàn toàn cá nhân nên đừng ai cố thuyết phục tôi là đúng hay sai. Tình cảm, suy nghĩ tự nhiên, không vụ lợi, vậy thôi.

Tôi không thích và rất ít xem phim lịch sử Trung quốc. Tôi không học lịch sử bằng cách đó. Vì sao? Cứ xem thì thấy đất nước được TQ được mở rộng và viết nên trang sử của dân tộc mình từ những cuộc nội chiến tương tàn, xâm chiếm, tự mãn, tàn ác với kẻ yếu, hèn nhát với kẻ mạnh. Tôi không muốn chứng kiến cái vẻ tự mãn của các nhân vật lịch sử luôn coi mình là trung tâm của vũ trụ và được phép tàn sát các dân tộc khác tràn ngập trên màn ảnh. Người Trung Quốc cổ đại gọi các tộc lạc hậu ở phía nam là Man, ở phía đông là Di, ở phía tây là Nhung và ở phía bắc là Địch. Còn họ là quốc gia văn minh ở giữa nên được gọi là Trung Hoa hay Trung Quốc. Họ tát bôm bốp vào mặt mình để chứng tỏ sự trung thành, nhưng sẵn sàng trở mặt khi người ta vừa quay lưng. Cái đó đầy trên phim ảnh, tôi chả nói điêu. Còn nữa, trên phim đầy rẫy những thủ đoạn tàn độc nơi triều chính, cách con người trả thù nhau mà nhiều người ngộ nhận là những bài học về cách đối nhân xử thế nơi chính trường hay trong cuộc sống. Những loại phim đó không bao giờ mang lại mĩ cảm cho khán giả mà chỉ giúp họ thêm lọc lõi, thủ đoạn đối phó ở ngoài đời.

Những cuốn tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng của TQ thời cổ đại như Tam quốc chí, Thủy hử đều viết về các cuộc chiến tranh giành quyền lực với vô vàn thủ đoạn và dậy con người nuôi chí báo thù theo kiểu “oán phải trả” và “quân tử trả thù mười năm chưa muộn”…Tiếc là lại làm say mê bao người đọc ở Việt nam. Tính gây hấn và mưu mô nhiều không sao kể xiết ngấm vào tâm hồn người đọc lúc nào không hay. Tôi không khuyến khích các cháu tôi đọc những thứ này khi còn bé.

Vào năm 211 TCN được coi là mốc TQ bắt đầu thống nhất, trở thành một đế chế rộng lớn do công của Tần Thủy Hoàng. Bắt đầu thời điểm này nền văn minh TQ được xác lập với ý thức hệ tư tưởng dựa trên Khổng giáo. Nhà Tần tận dụng học thuyết của Pháp gia (là một nhánh của Nho gia) để đặt trọng tâm vào sự tôn trọng tuyệt đối hệ thống pháp luật và quyền lực tuyệt đối của hoàng đế. Nhà Tần dùng những biện pháp tàn bạo để dẹp yên chống đối, thậm chí gồm cả việc đốt sách, chôn nho. Kết quả thật bạo tàn, nhưng những sáng tạo của phái Pháp gia nhà Tần đã được các triều đình Trung Hoa sau đó áp dụng. Cùng thời điểm này ở Ấn độ có vua Ashoka. Sau thời gian chinh chiến 9 năm, đã nhận ra sự vô nghĩa, tàn ác làm máu đổ quá nhiều nên quay đầu sám hối, lãnh đạo nước Ma kiệt đà bằng giáo lí từ bi của Đức Phật. Ông đã làm rạng danh trang sử cổ đại của Ấn độ. Dân chủ không bao giờ là vấn đề đối với người Trung Quốc như nó đã từng có ở các nền văn minh khác vào khoảng năm 200 TCN, đến giờ càng không…Đối với Hán Cao Tổ (Lưu Bang), triều đình tốt là triều đình có thể duy trì sự phục tùng đầy đủ của quan lại và dân chúng. “Cậy” có nguồn gốc nông dân, Lưu Bang tỏ thái độ khinh thị trí thức bằng cách đái vào trong mũ của một trí thức trong triều. Kinh chưa?

Năm 108 TCN vì muốn kiểm soát vùng đông bắc, Hán Vũ Đế chinh phục cả phía bắc lẫn phía nam. Về phía nam, theo quân đội là những người di cư Trung Quốc. Sau những trận chiến lớn, đội quân của Vũ Đế chinh phục phía bắc Việt nam, một vùng mà người Trung Quốc gọi là Annam hay “miền nam yên ổn”. Dân Trung Quốc kéo đến đây, một số đóng đô ở gần vùng núi miền trung Việt Nam. Chính người Việt Nam dạy người Trung Quốc dùng trâu, dùng cày kim loại và các công cụ khác(*), cách trồng lúa nước. Trung Quốc đã xoá bỏ chữ viết người Việt, mang đến chữ viết của mình(*). Tuy nhiên về tiếng nói, người Trung Quốc không thể đồng hóa được người Việt Nam. Và cứ thế rất nhiều thế kỉ sau, giữa VN và TQ đã xảy ra những cuộc thư hùng và lần nào VN cũng chiến thắng. Nhiều lắm, chả kể hết được đâu…Đến giờ vẫn chưa thôi tham vọng đó.

Tôi vẫn không thuyết phục mình được rằng TQ có các nhà triết học và nền triết học, kể cả Khổng Tử lừng danh mà TQ tự hào. Họ chỉ có các nhà tư tưởng chính trị, đạo đức. Khó có thể coi thuyết Âm-dương, Ngũ hành, Bát quái lại là triết học. Chỉ để bói toán là hợp nhất. Còn lấy đó để giải thích sự biến động của xã hội, lịch sử thì thấy mịt mờ tăng tít, dễ đưa vào mê trận chẳng biết lối ra, dễ tẩu hỏa, tư biện, giảo ngôn…Vậy mà trước đó, xa hơn cả nền văn minh Hoàng hà, trước cả thời Đức Phật đến hàng ngàn năm thì Ấn độ đã có Mamabharata và Ramayana, sau đó là Áo nghĩa thư, những tác phẩm tuyệt vời không chỉ dành cho người Ấn giáo mà còn chứa đựng những tư tưởng triết học sâu sa. Tiếp sau đó, những chân lí Giác ngộ của Đức Phật làm phong phú thêm kho tàng minh triết của đất nước hiền hòa này…

Một thứ người TQ cất công xây dựng thành một thành tố của văn hóa mà người tây chả mấy quan trọng là ẩm thực, để lấy đó làm tự hào. Vua chúa thời xưa bao giờ cũng có trên bàn ăn mấy chục đến hàng trăm món ăn sơn hào hải vị. Tôi có xem phim về cuộc chiến tranh nha phiến thì phải…Việc nhà Thanh đầu hàng năm 1842 đánh dấu một tai họa mang tính quyết định và nhục nhã của Trung Quốc khi buộc phải chấp nhận thua trận và thừa nhận các yêu cầu của Anh, chấp nhận buôn bán với họ, đồng ý mức thuế quan “đúng mức và ổn định”, mở cửa các cảng ở Quảng châu, Hạ môn, Phúc châu, Ninh ba và Thượng hải cho các thương nhân nước ngoài. Họ trao cho người Anh bất kỳ sự nhượng bộ nào mà Trung Quốc đã từng trao cho các cường quốc khác. Trung Quốc chấp nhận trả cho Anh Quốc một khoản bồi thường 20.000.000 đô la bạc và nhượng đảo Hồng Kông cho Anh. Cuộc chiến tranh nha phiến lần 2 lại là một thất bại nặng nề khác của Trung Quốc. Người Anh ngỗ ngược yêu cầu tất cả các tài liệu chính thức của Trung Quốc phải viết bằng tiếng Anh và cho phép các tàu chiến Anh được đi lại không hạn chế trên các sông ngòi Trung Quốc. Nhưng tôi nhớ nhất một chi tiết trong phim mà quên tiệt cả phim. Số là trong một bữa tiệc chiêu đãi sứ giả Anh, nhà vua TQ chê bai miếng bít tết của người Anh sống sít như của kẻ man di. Hãy nhìn mâm cao cỗ đầy của họ để chớ mà coi thường. Sứ giả Anh cả cười mà rằng, trong lúc cả TQ tập trung trí tuệ để làm ra các món ăn thì họ dùng thời gian và trí thông minh chế tạo tàu chiến, súng ống, những thứ đã giúp người Anh chiến thắng TQ…Nẫu chưa? Còn người Ấn độ thì chưa bao giờ nặng nhẹ miếng ăn. Ăn chay với những món đơn giản, sống khổ hạnh, khiêm cung, không chìm đắm trong lạc dục vật chất là lẽ sống của họ.

Tôi chưa bao giờ “yêu” và đánh giá cao Khổng Tử cùng thuyết Nho gia do cụ sáng lập. Dù cụ có sống lại tôi vẫn nói như vậy mà không mong cụ tha thứ. Nho học chưa bao giờ là tôn giáo, càng chưa bao giờ là triết học. Đó chỉ là những tư tưởng, học thuyết về đạo đức, chính trị. Ông sinh ra muộn hơn Đức Phật ít năm, coi như hai người là cùng thời đại. Nhưng Đức Phật đã chứng ngộ Chân lý mà đến giờ vẫn thích hợp với thời hiện đại, không cần thay đổi, chỉnh sửa lại. Nho giáo không thể có vị trí đó.

Tôi không thích Nho giáo vì lẽ:

-Khổng Tử chủ trương cai trị quốc gia bằng Đức trị. Lí lụân về đức của ông nghe rất hay nhưng chả biết là làm cách nào để con người có đức? Chỉ nói là phải có nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Rồi mỗi thứ trong “Ngũ thường” đó lại là những luận lí hình thức, sáo rỗng. Ông kêu gọi làm người phải có đức mà nhân là gốc. Người cầm quyền phải lấy đức mà trị dân…Nói thế ai cũng nói được. Nhưng nâng lên thành “i-dờ-mờ” (ism) thì chỉ có Khổng Tử. Không thuyết phục. Còn Đức Phật nói về việc này giản dị mà nhiều kiếp chắc chưa tu nổi: con người nên dẹp bỏ tham-sân-si để trước hết sống được an lạc. Muốn dẹp bỏ thì hãy để tâm lắng xuống. Muốn tâm lắng xuống thì nên thiền định. Thiền định của Đức Phật là 16 hơi thở. Có cả đích đến lẫn con đường để bạn tự đi…Tâm bình thì thế giới bình. Giản dị như hơi thở.

-Nho giáo chấp nhận ý tưởng về số phận, hoặc “mệnh”, gọi là Thiên mệnh. Nhà vua là Thiên tử. Vua nhà Chu là Vũ Vương đã viện dẫn khái niệm Thiên mệnh để hợp pháp hóa vai trò cai trị của mình, một khái niệm đã ảnh hưởng đến mọi triều đại kế tiếp. Thảo nào dân đen cứ bị đè đầu cưỡi cổ cho đến lúc này mà cấm được phản đối? Có ai đi cãi với ông trời bao giờ…Còn Đức Phật bác bỏ thần thánh, thượng đế, bác bỏ người này cao hơn người kia. Bác bỏ có một thượng đế nào đó sinh ra và chi phối vạn vật, nhất là con người. Ngài đặt con người vào trung tâm của mối quan tâm.

-Còn con người nên chấp nhận Định mệnh. Với Nho giáo, định mệnh đóng vai trò rất quan trọng. Trong khi Phật giáo xem các biến cố xảy ra trong kiếp người là tạo tác của nghiệp cá nhân hay cộng nghiệp của tập thể, thì Nho giáo xem các biến cố ấy được quyết định bởi định mệnh, chứ không là kết quả của tình trạng có hay không có đạo đức. Đức Phật đề cao sự tự chủ cuộc sống của con người. Hai chủ thuyết như đêm và ngày, quá dễ thấy cái nào dở, cái nào hay…

-Nhà Nho thì nhất định phải lập danh – Chính danh. Khổng nói: “khi người quân tử xưng danh, danh ấy phải xứng đáng với phận của mình; người quân tử rất dè dặt trong lời nói, không tùy tiện nói theo ý thích của mình”. Có khác gì khuyên chớ nên nói thật? Lại nữa: “Người quân tử sợ ba điều: sợ mệnh trời, sợ bậc đại nhân, sợ lời nói của thánh nhân”. Thế thì với người bình thường, quân tử có thể cư xử sao cũng được ư? Dường như các chuẩn mực dùng để thẩm định hành động của cá nhân không dựa vào việc tạo hay không tạo phúc lợi xã hội…Càng tự tôn chính danh, con người càng chìm sâu vào bản ngã, không bao giờ hồn nhiên, tự tại, chân thật như khi thực tập Vô ngã mà Đức Phật đã chỉ ra. Theo Khổng Tử, quân tử “chẳng lo không có địa vị, chỉ lo sao không đủ tài đức để được địa vị đó. Chẳng lo không ai biết tới, chỉ mong làm thế nào đáng cho người đời biết tới”. Đến đây thì chán không muốn hầu chuyện cụ nữa…

-Xem cái Lễ (bao gồm quyền hành của người trị nước và cách tiết chế hành vi của người dân) của Khổng Tử nhé…Lễ được diễn tả trong năm vòng quan hệ của người đời, được tượng hình bằng năm vòng tròn vây bọc: quân thần (vua tôi); phụ tử (cha con); phu phụ (vợ chồng); huynh đệ (anh em); bằng hữu (bầu bạn). Ngoài Ngũ luân, Khổng Tử còn phân biệt dân chúng bậc trung thành hai hạng khác nhau: người quân tử và kẻ tiểu nhân. Ðó là sự phân biệt không chỉ liên quan tới địa vị xã hội mà còn bởi ý tưởng cho rằng có những người này phải sống theo các định chuẩn đạo đức cao hơn những kẻ kia. Còn Đức Phật xóa bỏ mọi định kiến giai cấp, coi con người đều bình đẳng. Ai cũng có Phật tính. Đức Phật là Phật đã thành, còn chúng sinh là Phật sẽ thành…Khổng nói miên man về Lễ, Phật giáo chỉ đúc kết Từ - Bi – Hỉ - Xả và lấy đó mà cư xử, đối đãi với bất cứ ai, khỏi cần phân biệt cao thấp, địa vị.

-Nho giáo hạ thấp vai trò của đàn bà và coi thường tính dục (ở bề mặt). Với Nho giáo, tình dục có giá trị ứng dụng duy nhất là sinh con đẻ cái, đặc biệt con trai để nối dõi tông đường, làm vẻ vang dòng họ và cúng giỗ ông bà tổ tiên cha mẹ mà Nho giáo đặc biệt đề cao. Đủ thứ qui định cho nam nữ để tránh “thụ thụ bất thân” với việc hạ thấp người đàn bà. Nhưng ai cũng biết, vua chúa TQ thì ăn chơi tàn bạo thế nào biết rồi. Đám hoàng hậu, mỹ nữ, cung phi loạn luân ra sao cũng kể nhiều ở các phim lịch sử rồi…Có lẽ hiếm có đất nước nào lại nhiều mỹ nữ “quái chiêu” nổi tiếng trong lịch sử như ở TQ: mối tình hoang dâm giữa Triệu Cơ và Lao Ái. Đát Kỷ bất hòa với thân thuộc của vua là Tỷ Can, bắt ông này phải moi tim ra cho bà xem. Bà này bị coi là yêu cơ. Hạ Cơ thì sử sách thuật lại là có thuật “hoàn tân” sau khi ăn nằm với ai và còn có cả bí quyết “hấp tinh đại pháp”. Võ Tắc Thiên là hoàng hậu duy nhất của lịch sử TQ thì tàn ác thôi rồi. Vì ác nên dù Khổng giáo cấm đàn bà làm việc bên ngoài mà bà ta vẫn thu quyền bính về tay mình. Bao Tự thì chỉ thích nghe xé lụa và đốt lửa để mua vui khiến tan nhà nát cửa…Sau này thì có Từ Hy Thái Hậu và thời hiện đại thì có Giang Thanh. Đều kinh khiếp hãi cả. Vậy thì những qui định Nho giáo kia thực chất là vô giá trị, nó chỉ áp dụng khi người ta cần, nhất là giới cai trị. Còn thì người ta giả dối và tìm cách che dấu…Thế mà thời Đức Phật còn tại thế, Ấn độ đã có hàng ngàn nữ tu xuất gia theo Ngài sống đời phạm hạnh. Bên tăng có 10 vị đại đệ tử của Đức Phật thì bên ni cũng có như vậy. Có tác phẩm “Trưởng lão tăng kệ” thì bên ni cũng có “Trưởng lão ni kệ” còn đến ngày nay.

-Ai cần Nho giáo? Nho giáo trọng lễ giáo, đề xướng “quân quân thần thần”, tức ai nấy nên tôn ti trật tự, chớ “vượt rào”, nên giới cai trị thích và cần Nho giáo nhất. Khổng Tử nói rằng: “Vua lấy lễ sai khiến bề tôi, bề tôi lấy lòng trung để thờ vua”. Thế thì ông quan cai trị nào mà chẳng thích? Còn lấy lễ để sai khiến như thế nào thì chịu?…Có sao cứ đổ là Thiên tử nên phải tuân theo Thiên mệnh là xong…
ect (nhiều quá không thể kể hết)

Văn minh Trung hoa như đứa trẻ vừa mở mắt chào đời thì đã được nuôi nấng bằng dòng sữa của Nho học nên mọi tính nết sai trái như giả dối, ích kỉ, độc ác, chuyên quyền, mù quáng, tự phụ, ngụy biện, gây hấn, tranh đua…từ đó lộ diện và phát triển. Tiếc cho tư tưởng của Mặc Tử (coi như cùng thời với Khổng Tử) đã không chen chân vào được xã hội này. Biết đâu nhờ thế TQ phát triển sẽ theo một hướng khác tốt hơn? Vì Mặc Tử tiệm cận gần hơn với quan điểm Phật giáo hiền hòa. Ðối với người theo Mặc gia, cái thiện cao nhất là hiến thân cho mọi người. Họ biện hộ lối sống kham khổ và hoàn toàn chống đối chiến tranh cùng mọi hình thức gây hấn. Tuy sẵn sàng liều chết bảo vệ thành trì, chống lại kẻ xâm lăng, nhưng họ kiên quyết không chấp nhận bất cứ hành động xâm lấn nào. May mà Phật giáo đã du nhập vào TQ (tuy muộn hơn VN) nhưng đã góp phần làm tan loãng chút ít “dòng sữa” đặc quánh Khổng giáo đã kết thành cặn, bám chắc trong suy nghĩ và hành xử của người TQ từ bao đời.

Cuối cùng tôi thử điểm lại một số hành động vô cùng “quái dị” và “độc chiêu” của người TQ từ cổ chí kim xem sao:

-Đốt sách, chôn nho của Tần Thủy Hoàng…

-Đái vào mũ của người trí thức trong triều của Lưu Bang…

-Đàn bà có tục bó chân để gợi tình đời Tống…Bàn chân bé đến quái dị.

-Để “show hàng” với Trịêu Cơ, Lã Bất Vi sai Lao Ái sỏ dương vật của lỗ bánh xe để chạy…
ect…(dài rồi không kể nữa)

-Sau này có cải cách ruộng đất, giết rất nhiều những nông dân làm ăn giỏi mà họ gọi là địa chủ.

-Đại cách mạng văn hóa: tiêu diệt trí thức ; xóa bỏ truyền thống…

-Bắt và dịêt chim sẻ…

-Cả nước làm gang thép…

-Xui Khơ me đỏ diệt chủng trên quê hương họ. Mới đây đám này bị đưa ra xét xử. Chả thấy người khởi xướng là TQ nói gì nhỉ?

-Thích cao giọng dạy người yếu thế hơn mình “một bài học” khi họ còn chưa thoát khỏi vô minh và nhiều sự lầm lẫn do ảnh hưởng quá lâu của Nho giáo.

-Sang VN làm ăn nhưng lại cư xử như đang ở cánh đồng riêng của mình…Nhậu nhẹt say sưa rồi đứng trước cửa nhà người ta đái bậy, hò hét chả coi ai ra gì, dân nói lại thì chửi (ở Ninh Bình vừa qua); đánh nhau với ở dân bản địa (Thanh hóa); thuê công nhân VN nhưng thích là nện...

-Ý quên...Dùng cả đội có quân trang bị súng và xe tăng bắn vào đoàn biểu tình ôn hòa của sinh viên trên quảng trường Thiên An Môn năm 1989 khiến nhiều người thiệt mạng. Không biết những oan hồn ngày ấy nay đã siêu thoát chưa?

...ect...Còn nhiều lắm, viết mỏi tay cũng chưa hết...Chán rùi...

Haizzz...Thế là thế nào? Tôi không hiểu? Ai hiểu nói giùm…


Báo chí trong dòng chảy bất tận của cuộc sống

Tương Lai - Nhà báo là người chấm ngòi bút vào nỗi đau của nhân loại”. Người viết câu ấy là một nhà báo đã từng có mặt ở những vùng nóng bỏng nhất trên hành tinh. Những “vùng đất chết chóc” Trung Đông: Iraq, Afganistan, Pakistan… và nay là Lybia, Yemen… Nỗi đau đang thấm đẫm trên “vùng đất chết chóc” nhưng vì sứ mệnh cao cả của báo chí, nhiều nhà báo vẫn đang dấn thân vào. Những ngòi bút ấy hiểu rất rõ rằng: “viết một bài báo dở, bạn có thể mất việc, viết một bài báo hay, bạn có thể mất mạng”.


Thế nhưng, đâu chỉ nơi “vùng đất chết chóc” ấy mới có nỗi đau. Ở khắp nơi trên trái đất này, nỗi đau của con người chẳng có lúc nào vơi. Mà nước mắt con người đều cùng có vị mặn, máu con người đều cùng màu đỏ! Ấy vậy mà, nguyên nhân làm cho nước mắt phải rơi, máu phải chảy, thì thiên hình vạn trạng, làm sao kể xiết. Và có lẽ người Việt Nam là người hiểu rõ vấn đề đó hơn ai hết trên trái đất này. Đơn giản chỉ vì họ sống trên một đất nước đã từng chịu đựng nỗi đau chiến tranh kéo dài non nửa thế kỷ! Vết thương của chiến tranh chống phát xít, chống thực dân, chống đế quốc chưa kịp hàn gắn thì ngay lập tức phải tiếp tục cầm súng chiến đấu chống bọn bành trướng phương Bắc cận kề.

Cuộc chiến đấu cận kề về thời gian cũng như về không gian ấy cũng là cuộc chiến đấu đầu tiên và triền miên trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc này kể từ thời Bà Trưng Bà Triệu cho đến Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung. Trong cuộc chiến không cân sức đó phải luôn lưu giữ khí phách của một Trần Bình Trọng hiên ngang trước kẻ thù “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”! Khí phách đó lưu chảy trong huyết quản của mỗi người Việt Nam.

Phải như vậy vì đó là sự quy định nghiệt ngã về vị trí địa-chính trị của đất nước nằm bên bờ Biển Đông luôn trong thế “trứng chọi đá” với một nước khổng lồ mà những nhà cầm quyền từ Tần Hán cho đến Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh tiếp đến Mao, Đặng, chưa bao giờ từ bỏ mộng bành trướng về phương Nam mà Việt Nam thì như một cục xương mắc giữa họng, không cho họ nuốt trôi Đông Nam Á! Vì thế cái lưỡi bò của họ thè ra thèm thuồng muốn liếm trọn cái “Vịnh Ba Tư thứ hai”, như tờ báo Hoàn Cầu của họ thú nhận, nhằm thỏa mãn cơn khát năng lượng của một nước đang tích lũy tư bản theo màu sắc Trung Quốc để trở thành siêu cường với bất cứ giá nào.

Trong vị thế đó, từ bao đời ông cha ta thường xuyên răn dạy tinh thần cảnh giác trong mọi ứng xử với “thiên triều”, biết tiến, biết thoái, biết nhu, biết cương nhưng luôn giữ khí phách kiên cường, không bao giờ khuất phục. Điều răn ấy được tạc vào hình hài của đất nước bằng những truyền thuyết, những huyền thoại. Chẳng hạn như 99 ngọn núi ở vùng trung du được giải thích là tượng trưng cho 99 con voi và một tượng trưng cho con voi bị chém cụt đầu do quay về hướng Bắc! Hoặc câu chuyện được ghi vào sử sách về câu đối Đằng giang tự cổ huyết do hồng! (Sông Bạch Đằng từ xưa đỏ vì máu) của sứ thần Giang Văn Minh đáp lại thái độ ngạo mạn của Sùng Trinh, vua nhà Minh trong Đồng trụ chí kim đài dĩ lục! (Cột đồng xưa giờ đã rêu xanh)! Cọc gỗ Bạch Đằng vẫn mãi mãi trụ vững trong khí phách Việt Nam tự bao đời.

Nên nhớ rằng, tuy có nhiều giải pháp và sách lược để duy trì mối quan hệ với đế chế Trung Hoa qua các triều đại, kể cả cử người đóng vai thay thế, nhưng về nguyên tắc thì không một vị vua Việt Nam nào chịu sang triều phục các hoàng đế Trung Hoa cả. Chẳng những thế, rời bỏ ngai vàng để lên núi Yên Tử dựng chùa, nghiền ngẫm về đạo Phật, mở ra một trường phái Thiền Trúc Lâm, Trần Nhân Tông vẫn không quên chuyện cảnh giác với kẻ thù. Vì thế mà trong Trúc lâm tông chỉ nguyên thanh, Ngô Thời Nhiệm đã có lời bình thâm thúy về chuyện này như sau: “Người ta thấy Điều Ngự đệ nhất tổ đến ở chùa Hoa Yên thì bảo Ngài xuất gia, ta biết rằng Đức Ngài lúc bấy giờ biết xem thiên hạ là công trong mối vô sự; nhưng ở phía Bắc vẫn có nước láng giềng mạnh mẽ, chưa được an âm. Cái ý ấy là không tiện nói ra, sợ người ta dao động, cho nên nhắm được núi Yên Tử là núi cao nhất, phía Đông nhìn về Yên Quảng, phía Bắc liếc sang hai tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, dựng nên ngôi chùa, thời thường dạo chơi để xem động tĩnh, cốt để ngừa cái mối lo nước ngoài xâm phạm. Thật là một vị Vô Lượng Đại Thế Chí Bồ Tát...”. Đang có nhiều bàn thảo về điều này, song ở đây, điều cốt yếu mang tính thời sự lại ở thông điệp của ông cha gửi cho hậu thế: ý thức thường trực cảnh giác là một đòi hỏi sống còn của dân tộc. Ông cha ta đã có đôi mắt xuyên suốt lịch sử.

Thì đây, tuy chẳng hay ho gì, song vẫn buộc phải gợi lên những điều mà báo chí Trung Quốc mới đây đưa tin: “Ông Đặng năm đó đã nói một câu: trẻ con không nghe lời phải đét đít. Sau đó 10 vạn đại quân điều tới biên cương. Còn bây giờ thì sao? Trẻ con không những không nghe lời mà còn hoàn toàn không thèm để mắt tới người lớn. Ngang nhiên nói, tiến hành bầu cử quốc dân trên các đảo bãi xâm chiếm phi pháp tại Biển Đông, còn gào thét đó là công việc nội bộ của quốc gia, nói là, phải dùng vũ lực bảo vệ chủ quyền thần thánh không thể xâm phạm của đất nước mình. Điều đó chẳng phải là chống lại trời thì là cái gì. Liệu không thể đét đít chăng? Không cho bài học, từ nay trở đi liệu có ổn không? Không đánh bây giờ thì đợi đến khi nào?”. *

Cũng là nhà báo đó thôi. Ở đây chúng cũng chấm ngòi bút của chúng vào “nỗi đau của nhân loại” đấy chứ. Chỉ có điều, đó là nỗi đau về những con người bị đầu độc bởi chủ nghĩa bành trướng Đại Hán đang ngậm máu phun người, ngông cuồng tự phong cho mình quyền “bình định thiên hạ”. Những ngòi bút ấy chắc không biết rằng, những ai có lương tri trên thế giới, trong đó có người Trung Quốc, đều không quên: kẻ xua 10 vạn quân xâm lược Việt Nam năm 1979 cũng chính là kẻ mười năm sau đó đã hạ lệnh cho xe tăng nghiến nát những thanh niên ưu tú Trung Quốc đấu tranh đòi tự do dân chủ trên quảng trường Thiên An Môn, gây nên một trong những sự kiện thảm khốc và ô nhục nhất trong lịch sử Trung Quốc, một nỗi đau lớn của dân tộc Trung Hoa!

Những người có lương tri trên thế giới, trong đó tất nhiên là có người Trung Quốc vẫn còn lưu giữ trong tim mình hình ảnh "Người biểu tình vô danh", đứng chặn một đoàn xe tăng tại Bắc Kinh trong hơn nửa giờ ngày 5 tháng 6 năm 1989 do nhà báo Jeff Widener (Associated Press) chụp:

clip_image002


Nếu nói tư tưởng một khi thâm nhập được vào quần chúng sẽ trở thành một lực lượng vật chất, thì tấm hình này đang nói về hai “lực lượngvật chất” ấy đang đối diện nhau.

Người thanh niên Trung Quốc mặc áo trắng đứng đơn độc trước đoàn xe tăng cũng do những người Trung Quốc cầm lái [chắc cũng là thanh niên] đang sẵn sàng nghiến nát mình! Con người được gọi là “vô danh” đó đi vào lịch sử như một anh hùng, đại diện cho một khát vọng cao cả ngàn đời của con người, khát vọng dân chủ và tự do, đang thách thức một “lực lượng vật chất” sẵn sàng nghiến nát khát vọng cao cả ấy. Bốn chiếc xe tăng, không hiểu thuộc bình đoàn 27 hay 38 được điều từ vùng “viễn biên” hay “vùng sâu, vùng xa” nào đó về Băc Kinh với sứ mệnh dẹp tan bọn phản động, chắc cũng sẽ “đi vào lịch sử”, nhưng theo một hướng khác.

Rồi từ một tấm hình khác, cũng do một nhà báo chụp nói về Triệu Tử Dương dùng loa để nói với các sinh viên vào ngày 19 tháng 5 năm 1989. Đằng sau ông (người thứ hai từ bên phải, mặc áo đen) là Ôn Gia Bảo. Đây là lần xuất hiện cuối cùng của Triệu Tử Dương trước công chúng Sau đó ông bị quản thúc tại gia đến khi chết:

clip_image004



Cho đến nay, tại Trung Quốc, những tấm hình này vẫn đang bị cấm. Sự kiện Thiên An Môn vẫn là điều cấm kỵ với báo chí nước này, báo chí phải dành cho những trang viết như vừa dẫn ở trên. Thế nhưng, trong trái tim chính trực và nóng bỏng khát vọng tự do của những người Trung Quốc chân chính, những người vẫn cháy bỏng trong tâm hồn mình hình tượng bất tử của Khuất Nguyên trên dòng sông Mịch La thuở nào trong lịch sử văn hóa Trung Hoa thì khát vọng về công lý, về tự do dân chủ vẫn là ngọn lửa không bao giờ tắt.

Vừa rồi, vào ngày 5.6.2011, trên các trang mạng đã tràn ngập hình ảnh và bình luận về sự kiện Thiên An Môn. Tại Hồng Kông, hàng ngàn người đốt đuốc để “canh giữ ngọn lửa Thiên An Môn”. Và trong trái tim của loài người, ngọn lửa ấy chẳng bao giờ tắt. Hình ảnh dưới đây là một trong những ví dụ: Một đài kỷ niệm đã được dựng lên tại thành phố WrocławBa Lan với hình ảnh một chiếc xe đạp bị phá hỏng và một vệt xích xe tăng – biểu tượng của những cuộc phản kháng trên quảng trường Thiên An Môn:

clip_image006


Liệu những hình ảnh vừa gợi ra có nói lên tư tưởng không? Và nếu có thì bằng cách nào để tư tưởng thâm nhập được vào quần chúng?

Có nhiều cách, nhiều kênh để thâm nhập, nhưng có lẽ báo chí là cách cập nhật nhất, rộng rãi nhất và cũng tiện lợi nhất để thực hiện điều đó. Kênh báo chí truyền thông là kênh thông tin trực tiếp nhất đưa những tư tưởng lớn, những tình cảm lớn đến tận hang cùng ngõ hẻm. Báo chí vốn đã có chức năng và lợi thế khó có gì so sánh được, chức năng và lợi thế đó lại tăng lên bội phần với công nghệ thông tin, kỹ thuật truyền tin của thế kỷ XXI. Báo chí đã làm cho một tư tưởng lớn trong đầu óc của một người đến được với nhiều người, chuyển thành sức mạnh “tức nước vỡ bờ” trong hành động của quần chúng nhân dân.

Thế nhưng, đừng quên một sự thật oái oăm mà bức ảnh “người biểu tình vô danh” ở trên đã chuyển tải: những thanh niên Trung Quốc lái những chiếc xe tăng kia chẳng nhẽ lại không có “tư tưởng” sao?

Có chứ. Họ cũng được “giáo dục” kỹ là đằng khác để nhằm thực hiện lời thề bảo vệ những cái mà vì chúng mà họ tồn tại. Họ làm sao biết được những sự thật khủng khiếp về những tội ác đã được gây nên trên đất nước họ. Xin chỉ trích ra đây vài mẩu tin trong cuốn sách Mao Trạch Đông – Ngàn năm công tội do đại tá Tân Tử Lăng, một nhà nghiên cứu và giảng dạy tại Học viện Quân sự cấp cao Trung Quốc mà Thông Tấn Xã Việt Nam đã xuất bản: Theo số liệu chính thức do Bộ Chính trị Trung Quốc giải mật tháng 9-2005, sau 4 năm Mao phát động “cao trào xã hội chủ nghĩa ở nông thôn” có tới 37,55 triệu người chết đói. Cuộc Cách mạng văn hóa kéo dài 10 năm đã lấy thêm sinh mạng của gần 20 triệu người dân Trung Quốc. Cũng theo tài liệu “giải mật” này, những năm ấy Tín Dương có hơn một triệu người chết đói. Trịnh Đại Quân, một cán bộ Ban Công tác nông thôn huyện Sùng Khánh kể rằng, một đội sản xuất có 82 hộ, chỉ trong một năm, từ tháng 12-1959 đến 11-1960 có 48 bé gái 7 tuổi trở xuống bị người lớn làm thịt, chiếm 90% số bé gái cùng độ tuổi. Trịnh Đại Quân kể: người ta phát hiện ra vụ ăn thịt trẻ em đầu tiên do toán điều tra nhìn thấy “một làn khói mỏng tỏa ra từ mái nhà bần nông Mạc Nhị Oa”. Họ bao vây, vu hồi, rồi đồng loạt nhảy vào: “Nhà Nhị Oa tám nhân khẩu, đã chết đói hai, nhưng chỉ còn lại năm. Bé gái Thụ Tài đang bị luộc trong nồi. Trong lúc tổ tuần tra tìm dây trói can phạm, Nhị Oa và mấy đứa con lao vào cướp thịt Thụ Tài nhai ngấu nghiến”. Nạn ăn thịt trẻ con sau đó còn lan ra: “Kẻ nhẫn tâm thì ăn thịt con ngay tại nhà mình. Kẻ mềm yếu hơn thì gạt nước mắt đổi con với hàng xóm…”

Thế đấy! Đây chính là người Trung Quốc nói ra, đâu phải của “những lực lượng thù địch” muốn bôi nhọ đất nước vĩ đại của Khuất Nguyên, của Lỗ Tấn!

Chao ôi, chẳng phải chính Lỗ Tấn đã từng lên án cái thứ “văn hóa ăn thịt người” trong Nhật ký người điên với nhân vật Ngụy Liên Thù in trong tập Gào thét đó sao? Chẳng phải vì muốn thức tỉnh người Trung Quốc mà nhà đại văn hào ấy đã phải chấm ngòi bút vào máu của mình để viết ra những tác phẩm bất hủ đó sao? Đừng quên rằng tác giả của A Q chính truyện trước khi bắt tay vào viết tác phẩm bất tử nhằm phê phán cái “quốc dân tính” lạc hậu này là một nhà báo với những chính luận vang dội một thời trên văn đàn. Dám đoan chắc rằng, người thanh niên đơn độc đứng hiên ngang trước đoàn xe tăng sẵn sàng nghiến nát kia đã từng đọc Lỗ Tấn, từng nuôi trong tim mình khát vọng của Lỗ Tấn, từng đọc những bài chính luận nảy lửa được lưu giữ trong những tuyển tập tác phẩm của đại văn hào Lỗ Tấn. Bởi vậy, cho dù phải nói đến sức mạnh của những “tư tưởng” mù quáng tượng trưng bởi những chiếc xe tăng ghê rợn kia thì rút cuộc thì vẫn phải nói về sức mạnh khôn lường của báo chí ở cái hướng thuận với bước tiến của lịch sử, cho dù lực lượng cản trở bước tiến của lịch sử vẫn đang hoành hành.

Ai đó đã gợi lên một ý thật đẹp: báo chí “là cái thế giới ý tưởng không ngừng trào ra từ thực tế hiện thực lại chảy trở về hiện thực như một dòng thác đầy sinh khí”**. “Dòng thác đầy sinh khí” ấy cuộn chảy trong mạch sống của xã hội, tiếp nhận được sức mạnh từ mạch sống ấy, góp phần nâng cao thêm, phát huy lên, rồi lại chuyển tải sức mạnh ấy đến từng con người, từng gia đình, từng cộng đồng.

Bởi lẽ báo chí là một chỉ báo sống động về đời sống tinh thần của xã hội. Hiểu được như vậy để có đủ căn cứ mà tin thêm vào sức mạnh của báo chí khi “báo chí sống trong nhân dân và trung thực chia sẻ với nhân dân niềm hy vọng và nỗi lo lắng của họ, tình yêu và lòng căm thù của họ, niềm vui và nỗi buồn của họ”**. như vậy để những người đang chiến đấu trên trận địa báo chí dám trải lòng mình ra để tiếp nhận nghị lực và sức mạnh từ nguồn mạch cuộc sống của đông đảo quần chúng nhân dân, để mỗi nhà báo có thể “là con mắt sáng suốt của tinh thần nhân dân, là hiện thân sự tin cậy của nhân dân đối với bản thân mình”**.

Sức mạnh của báo chí chỉ có thể có khi, cùng với việc thực hiện chức năng chuyển tải những thông điệp từ trên xuống, phải biết cách chuyển tải những thông tin phản hồi từ dưới lên. Mà chuyển tải những thông tin phản hồi từ dưới lên trách nhiệm xã hội quan trọng nhất của báo chí. Báo chí thường xuyên gióng lên tiếng chuông cảnh báo về tâm trạng quần chúng, những bức xúc, băn khoăn, những khát khao, kỳ vọng, những buồn vui, phẫn nộ của những “con người bé nhỏ” đang lầm lũi, nhẫn nại và kiên cường trong cuộc mưu sinh cho mình, gia đình mình và góp phần thúc đẩy xã hội đi tới. Không làm được nhiệm vụ tạo nên một luồng chảy sống động của thông tin phản hồi từ cuộc sống "bên dưới", từ "phần chìm của tảng băng", báo chí sẽ tự đánh mất vai trò thật sự của mình.

Trong Những người khốn khổ, Victor Hugo có viết một câu bất hủ: “Hãy nhìn vào dân chúng, bạn sẽ tìm thấy chân lý”. Quả thật, phải tìm chân lý từ trong nguồn mạch bất tận ấy, của dòng sông cuộc sống.
Dòng sông ấy vẫn tuôn chảy không ngừng… Nương theo địa hình, có lúc tưởng như sông chảy ngược. Nhưng không, sông vẫn xuôi về biển cả. Tốc độ dòng sông được quyết định ở sức cuộn chảy từ bên dưới.
Ở những đoạn nước xoáy, nơi những khúc sông rẽ ngoặt, sức cuộn chảy từ bên dưới đẩy những bèo bọt rác rưởi dồn lên, dạt vào hai bên bờ để dòng sông xuôi về biển lớn, vươn tới cái đích ở phía chân trời! Báo chí phải tắm mình vào dòng sông ấy mới có thể hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình.

clip_image008


Hịch Tướng sĩ” của Trần Hưng Đạo được khắc ghi trên phù điêu mới dựng tại công viên Bạch Đằng (Nha Trang). Trúc Nam Sơn.

T. L.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

_________________
* Đây là lời trích trong bài Liệu khi Trần Tổng Tham mưu trưởng trở về [tức là Trần Bỉnh Quốc vừa có chuyến công du đến Mỹ] có là lúc dạy cho An Nam bài học? (theo http://bbs.tiexue.net/bbs31-0-1.html ngày 22/5/2011).
**. C. Mác và Ph. Ăng-ghen Toàn tập. Tập I. NXBCTQG 1995, tr.99, tr.100, tr.237 .

Há miệng mắc quai

Phạm Trần - Mình là nạn nhân mà lại đi xin “cầu hòa” thì chỉ có thể chủ động bởi kẻ yếu hèn không còn biết đến liêm sỉ của con người, nói chi đến chuyện thay mặt cho Lãnh đạo một quốc gia như trường hợp Hồ Xuân Sơn, Thứ trưởng Ngoại giao, đã làm trong cuộc gặp Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc tại Bắc Kinh ngay 25/06 (2011) để chuyển ý kiến của lãnh đạo Việt Nam tới lãnh đạo Trung Quốc về quan hệ hai nước và tình hình Biển Đông thời gian gần đây.

Cuộc họp đã diễn ra đúng một tháng sau ngày tầu Hải giám của Trung Hoa ngang nhiên xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tới 80 hải lý, (bên trong phạm vi 200 hải lý) đề trấn áp và cắt giây cáp Tầu Bình Minh 2 khi Tầu này đang thực hiện công tác thăm dò đáy biển cho Công ty Dầu khí Việt Nam tại vùng biển tỉnh Phú Yên.

Sau đó, đến ngày 9-6, một tầu đánh cá lớn khác của Trung Hoa đã tấn công trực diện tầu Viking II, cũng làm công tác thăm dò đáy biển cho Công ty Dầu khí Việt Nam trong lãnh hải Vũng Tầu.

Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga, lần đầu tiên, đã nói mạnh: “Việt Nam kiên quyết phản đối hành động của phía Trung Quốc phá hoại, cản trở các hoạt động thăm dò khảo sát bình thường của Việt Nam trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, gây thiệt hại lớn cho Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam. Hành động này đã vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của mình, vi phạm Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc, trái với tinh thần và lời văn của Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) ký giữa ASEAN và Trung Quốc năm 2002 cũng như nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt ngay, không để tái diễn những hành động vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đồng thời bồi thường thiệt hại cho phía Việt Nam”.

Vậy cuộc họp giữa Hòang Xuân Sơn và Đới Bỉnh Quốc kết qủa ra sao ?

Bản Thông tin báo chí chung hai bên, do Thông tấn xã Việt Nam phổ biến ngày 27-6 (2011) viết rằng : “Ngày 25-6 tại Bắc Kinh, Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn, đặc phái viên của lãnh đạo cấp cao Việt Nam đã gặp Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc, chuyển ý kiến của lãnh đạo Việt Nam tới lãnh đạo Trung Quốc về quan hệ hai nước và tình hình Biển Đông thời gian gần đây.

Ủy viên Quốc vụ Đới Bỉnh Quốc đã trình bày lập trường và chủ trương của phía Trung Quốc về việc phát triển quan hệ song phương và vấn đề trên biển. Trước đó, Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn đã hội đàm với Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Trương Chí Quân.

Hai bên cho rằng, quan hệ Việt-Trung phát triển lành mạnh, ổn định, đáp ứng nguyện vọng chung và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước Việt-Trung, có lợi cho hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực.

Hai bên nhấn mạnh cần kiên trì đưa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc phát triển theo đúng phương châm 16 chữ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần 4 tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.

Hai bên khẳng định, cần tích cực thực hiện nhận thức chung của lãnh đạo hai nước, giải quyết hòa bình các bất đồng trên biển giữa hai nước thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị; áp dụng biện pháp có hiệu quả, cùng nhau duy trì hòa bình và ổn định tại Biển Đông; tăng cường định hướng đúng đắn dư luận, tránh lời nói và hành động làm tổn hại đến tình hữu nghị và lòng tin của nhân dân hai nước; đẩy nhanh tiến độ đàm phán để sớm ký kết “Thỏa thuận về các Nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam-Trung Quốc”; thúc đẩy việc thực hiện “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và các công việc tiếp theo, cố gắng sớm đạt tiến triển thực chất.”

Sau khi về đến Hà Nội, Hoàng Xuân Sơn vội vã tiếp xúc với Báo chí của đảng để nói thêm những điều còn úp mở trong Thông báo chung.

Sơn nói : “Nội dung Thông điệp (của cuộc họp) tập trung vào 3 điểm chính sau:

1. Khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc theo phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt, Việt Nam sẽ nỗ lực cùng với Trung Quốc để thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa hai nước ngày càng thiết thực, hiệu quả hơn vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác của khu vực và thế giới.

2. Bày tỏ quan ngại về những vụ việc vừa qua ở Biển Đông; đồng thời khẳng định rõ lập trường của Việt Nam đối với vấn đề Biển Đông, nhấn mạnh Việt Nam chủ trương duy trì hòa bình ổn định trên Biển Đông, đề nghị các bên nghiêm túc thực hiện “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông”, giải quyết tranh chấp và các vấn đề nảy sinh bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982. Đề nghị hai bên thực hiện nghiêm túc thỏa thuận của cấp cao hai nước, không có những việc làm gây phức tạp thêm tình hình, không để vấn đề Biển Đông ảnh hưởng đến quan hệ hai nước.

3. Nêu một số kiến nghị cụ thể về việc thúc đẩy quan hệ hai nước trong thời gian tới, như việc duy trì tiếp xúc cấp cao, tổ chức phiên họp lần thứ 5 Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam – Trung Quốc tại Hà Nội.”

Hồ Xuân Sơn còn nói: ”Nhận thức chung giữa lãnh đạo cấp cao hai nước đã được ghi nhận trong các Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc nhân các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước, gần đây nhất là Tuyên bố chung tháng 10/2008 nhân dịp Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng thăm Trung Quốc. Theo đó, hai bên khẳng định quan tâm gìn giữ hòa bình, ổn định ở Biển Đông, tuân thủ nghiêm túc nhận thức chung giữa lãnh đạo cấp cao hai nước và tinh thần “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông”, duy trì cơ chế đàm phán vấn đề trên biển, căn cứ nguyên tắc và chế độ pháp lý đã được xác định bởi luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Luật biển của LHQ năm 1982 tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên có thể chấp nhận được, tích cực nghiên cứu và bàn bạc về hợp tác cùng phát triển để tìm ra mô hình và khu vực thích hợp. Trong quá trình đó, hai bên cùng nỗ lực gìn giữ tình hình ổn định ở Biển Đông, không áp dụng hành động làm phức tạp hóa hoặc mở rộng thêm tranh chấp. Hai bên đồng ý, với nguyên tắc dễ trước khó sau, tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực như nghiên cứu khoa học hải dương, bảo vệ môi trường, dự báo khí tượng thủy văn, thăm dò khai thác dầu khí, tìm kiếm cứu hộ trên biển, tàu hải quân đi thăm lẫn nhau, xây dựng cơ chế trao đổi thông tin trực tiếp giữa quân đội hai nước.”

Có 2 vấn đế cần làm sáng tỏ : Từ lâu, Bắc Kinh đã không coi “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” giữa Trung Hoa và Hiệp hội gồm 10 nước Đông Nam Á (ASEAN) ký tại Nam Vang năm 2002 có gía trị ràng buộc các bên ký kết phải tuân thủ vì Văn kiện này không có tính cách pháp lý mà hòan tòan tùy thuộc vào thiện chí của mỗi quốc gia.

Thứ hai, việc hợp tác “thăm dò khai thác dầu khí”, theo quan điểm của Việt Nam và các nước trong ASEAN chỉ có thể diễn ra trong vùng “còn tranh chấp” như khu vực Trường Sa chứ không thể nào được thực hiện trong vùng biển đã có chủ quyền lãnh thổ như trường hợp Hòang Sa của Việt Nam.

Ngược lại phía Trung Hoa lại đòi hợp tác khai thác cùng có lợi ngay trên vùng biển Trung Hoa tự nhận của mình đã do Bắc Kinh tự vẽ giống hình “Lưỡi Bò”, hay vùng “9 đoạn” chiếm diện tích từ 80 đến 85% diện tính của Biển Đông, tức lấn sang vùng biển của nước khác thay vì tại vùng chưa có ranh giới rõ ràng như ở Trường Sa.

Các bản tin của phía Việt Nam và lời tuyên bố của Hoàng Xuân Sơn không hế nói đến Công hàm của Phạm Văn Đồng ngày 14 tháng 9 năm 1958 gửi Chu Ân Lai, Tổng lý của Trung Hoa thời bấy giờ, nhìn nhận tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Bắc Kinh bao gồm của hai quần đào Hòang Sa và Trường Sa mà thời đó thuộc quyền cai qủan của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam Việt Nam.

Hành động của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa miền Bắc Cộng sản lúc bấy giờ có dụng ý gì thì không ai biết. Những nhân chứng quan trọng nhất như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Duy Trinh đều đã chết nên “hành động lịch sử vô trách nhiệm” này của đảng CSVN đã để lại hệ lụy cho dân tộc đến ngày nay.

Bằng chứng đã được Hồng Lỗi, Phát ngôn nhân của Bộ Ngọai giao Trung Quốc nhắc khéo với phía Việt Nam trong Cuộc họp báo ngày 28-6 (2011).

Theo Tân Hoa Xã của Trung hoa, Xinhua, thì Hồng Lỗi đã kêu họi Việt Nam hãy “thi hành sự đồng thuận về vấn đế Biển Đông đã đạt được trong chuyến thăm Trung Quốc tuần qua của đặc phái viên của Việt Nam, Hồ Xuân Sơn.”

(China on Tuesday called on Vietnam to implement a bilateral consensus on the South China Sea issue that was reached during the China visit of Vietnam's special envoy Ho Xuan Son last weekend.)


Hông Lỗi nói tiếp : “ Chúng tôi đã thảo luận sâu rộng với phiá Việt Nam về vấn đề Biển Đông trong thời gian có cuộc thăm viếng của đặc sứ, và hai bên đã đồng ý giải quyết vấn đề tranh chấp qua tham khảo hữu nghị và tránh mọi động thái có thể làm phức tạp thêm vấn đề.”

(We had in-depth discussions with the Vietnamese side on the South China Sea issue during the visit of the special envoy, and the two sides agreed to solve disputes through friendly consultations and avoid making moves that may aggravate or complicate the issue," said Foreign Ministry spokesman Hong Lei at a press briefing.)


Chúng tôi hy vọng phiá những người Việt Nam sẽ cùng với chúng tôi thực thi sự dồng thuận và cố gắng bảo vệ hòa bình và sự ổn định của Biển Đông.”

(We hope the Vietnamese side will implement the consensus together with us and make efforts to safeguard peace and stability of the South China Sea," Hong said.)

Một lần nữa, phiá Trung Hoa nhắc lại lập trường cố hữu không thay đổi rằng : “Trung Quốc đã tái khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi trên tất cả các đảo ở Biển Đông và vùng nước xung quanh.”

(China has repeatedly stated its indisputable sovereignty over the South China Sea islands and their surrounding waters.)

Bản tin của Tân Hoa Xã viết tiếp : “ Tài liệu lịch sử của Trung quốc chỉ rõ vào năm 1958 rằng, Chính phủ Trung quốc đã tuyên bố chủ quyền trên các đảo ở Biển Đông là phần lãnh thổ của Trung quốc, và nguyên Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã bầy tỏ đồng ý của ông trong Công hàm Ngọai giao gửi tới nguyên Thủ tướng Chu Ân Lai.”

(Chinese historical records show that in 1958, the Chinese government claimed the islands in the South China Sea as part of China's sovereign territory, and then Vietnamese Premier Pham Van Dong expressed agreement in his diplomatic note to then Premier Zhou Enlai.)

Vẫn theo Tân Hoa Xã thì không hề có sự phản kháng của bất cứ quốc gia nào đối với chủ quyền của Trung quốc trên khu vực cho đến thập niên 1970 khi các nước, kể cả Việt Nam và Phi Luật Tân lên tiếng dành một phần chủ quyền.

(There was no dissension from any country on China's sovereignty over the area until the 1970s, when countries including Vietnam and the Philippines claimed partial sovereignty.)

“Và sau một thời gian dài thương thảo, Đặng Tiểu Bình mới đưa ra sáng kiến đề nghị rằng hãy gác sang một bên những tranh chấp để cùng hợp tác khai thác khu vực.”

(After long-term negotiations and disputes, Deng Xiaoping initiated his proposal on the issue that put aside the disputes and offered joint exploitation in the region.)

Sau hi nhắc lại Thỏa hiệp Nam Vang năm 2002 giữa Trung Hoa và Hiệp hội các nước Đông Nam Á về “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” , hãng Tân Hoa Xã (Xinhua) còn tiết lộ : “ Vào tháng 3 năm 2005, 3 Công ty Dầu khí Trung Hoa, Việt Nam và Phi Luật Tân đã ký chung một Thỏa hiệp lịch sử tại Manila về cùng hợp tác tìm kiếm dầu và hơi đốt tại vùng tranh chấp ở Biển Đông.”

(In March 2005, three oil companies from China, Vietnam and the Philippines signed a landmark tripartite agreement in Manila to jointly prospect oil and gas resources in the disputed South China Sea.)

CÔNG HÀM PHẠM VĂN ĐỒNG

Tuy Tân Hoa Xã của Trung Hoa không nêu lý do tại sao họ lại lôi Công hàm của Phạm Văn Đồng ra để nhắc nhở Việt Nam phải tôn trọng những gì đã nói trong bối cảnh tranh chấp mới giữa hai nước, nhưng mục tiêu chiếm chủ quyền ở Biển Đông của Bắc Kinh thì đã rõ.

Vấn đề bây giờ là trách nhiệm của đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam phải trả lời như thế nào để có thể sống yên thân với người Phương Bắc và với chính người dân Việt Nam.

Trong khi chờ đợi thì mọi người hãy bình tĩnh đọc bức Công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng, nguyên văn như sau :


"Thưa đồng chí Tổng lý

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ:

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể.

Chúng tôi xin kính gửi đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng".

Hà-nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958


(Ký tên-Đóng dấu
Phạm Văn Đồng
Thủ tướng Chính phủ
Nước Việt-Nam Dân chủ Cộng Hòa)


Hành động cúi đầu khẩu phục Nhà nước Tầu khi ấy của Phạm Văn Đồng dù với mục đích gì chăng nữa cũng không sao xoá được vết nhơ trong lịch sử, vì Bức Công hàm đã nói rõ cái tâm địa “phản nước, hại dân” của một người đứng đầu Chính phủ-/-

Phạm Trần
(06/011)

Ai là con, cha mẹ, chó và chủ nhà?

Hà Hiển - Ai là con, cha mẹ, chó và chủ nhà? “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nhà nghèo.”
Ý nghĩa của câu thành ngữ dân gian này là gì thì khỏi phải bàn gì thêm vì tự nó đã nói lên tất cả.


Tôi chỉ muốn nói rằng câu thành ngữ này chỉ đề cập trực tiếp đến những mối quan hệ rất cụ thể: cha, mẹ – con cái, chủ nhà – con vật có thể được coi là trung thành nhất với người là con chó. Vì câu này đề cập đến mối quan hệ giữa những chủ thể rất cụ thể mà ngoài các chủ thể này thì khó có các chủ thể nào khác tương đương để so sánh, nên khi dùng nó để ám chỉ bất kỳ mối quan hệ nào khác thì phải hết sức cẩn thận.

Nếu các bạn không đồng ý với tôi về điều này thì các bạn cứ đưa ra ví dụ về các mối quan hệ tương đương với các chủ thể này đi. Nào, theo các bạn thì cái gì là tương đương với mối quan hệ rất thiêng liêng giữa cha mẹ và con cái? Tương tự như thế, nếu các bạn cho rằng có một mối quan hệ tương đương giữa “chủ nhà” và “chó” trong vế sau của câu trên thì trong thời đại văn minh này liệu các bạn có dám đưa ra các ví dụ ai là “chó”, ai là “chủ nhà” ngoài “chó” và “chủ nhà” thực sự theo đúng nghĩa đen của nó (vì lấy đâu ra nghĩa bóng mà so sánh).

Thế mà trên báo chí, vẫn có những nhà lý luận của ta, khi phê phán người này người khác vì khác quan điểm với họ, thường dẫn câu thành ngữ dân gian này ra để miệt thị và xúc phạm những người không cùng quan điểm với mình. Tôi còn nhớ có nhà báo rất nổi tiếng cũng dẫn ra câu đó khi phê phán LM Ngô Quang Kiệt sau khi đã tùy tiện cắt xén lời phát biểu của ông cách đây vài năm.

Gần đây nhất, trên trang Anh Ba Sàm, khi bình luận về việc sinh viên Nguyễn Anh Tuấn gửi thư cho VKSNDTC liên quan đến vụ xử LS Cù Huy Hà Vũ, một còm sỹ có nick name là NPB Nguyễn Hòa cũng phán câu đó khi chỉ trích hành động của sinh viên Tuấn.



Sinh viên Nguyễn Anh Tuấn


Chưa bàn đến hành vi của chàng sinh viên này đúng sai ra sao, nhưng trong toàn bộ lá thư của Tuấn, tôi chẳng thấy dòng nào em chê cha mẹ em nghèo khổ cả, cũng không thấy có dòng nào đề cập đến con chó nào hay ông bà chủ nhà nào trong lá thư ấy.

Vì lá thư của Tuấn là kiến nghị của một công dân, và trong đó đề cập đến cả những vấn đề của Tổ quốc, nhân dân có liên quan đến nhà nước, nên tôi buộc phải suy đoán là còm sỹ NPB Nguyễn Hòa muốn ám chỉ đến những mối quan hệ giữa các chủ thể này khi dẫn ra câu thành ngữ trên.

Nếu vậy thì ai là cha mẹ, ai là chủ nhà và “ai” là chó để có thể so sánh tương đương với những chủ thể trên?

Trước hết nói về cha mẹ. Trong số các chủ thể này, “Tổ quốc” được ví với “cha mẹ” nghe ra cũng không nghịch nhĩ lắm. Nhưng cứ giả thiết còm sỹ Hòa ví Tổ quốc như cha mẹ thì trong toàn bộ lá thư của Tuấn, tôi cũng không thấy em viết 1 chữ nào chê bai Tổ quốc cả để có thể lên lớp với em rằng “con không (được) chê cha mẹ khó” . Còn đưa phạm trù quan hệ “Chó – Chủ nhà” vào mối quan hệ giữa Tuấn và Tổ quốc thì lại càng không tương thích và xúc phạm Tuấn.

Hay là còm sỹ Hòa dùng câu thành ngữ này để ám chỉ mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, trong đó có Tuấn? Nếu vậy thì giữa công dân và Nhà nước ai là con, ai là cha mẹ? Về điều này thì Bác Hồ đã nói ngay từ khi nước nhà mới giành được độc lập rằng nhà nước, chính quyền không phải là cha mẹ dân, thậm chí Bác nói rất rõ rằng chính quyền phải là đầy tớ của nhân dân. Các nhà lãnh đạo của ta cũng thường nói Nhà nước của ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Nói thế cũng chẳng khác gì bảo là dân đẻ ra Nhà nước. Và nếu thế thì trong mối quan hệ với nhà nước, với chính quyền, dân hoàn toàn có thể được gọi là “cha mẹ”. Thế thì câu “con không chê cha mẹ khó” mà còm sỹ Nguyễn Hòa đưa ra để nhắc nhở phê phán em Tuấn hóa ra là theo hướng ngược lại với ý của Bác Hồ à? Nếu giả thiết rằng bây giờ còm sỹ Hòa có lý do chính đáng để nhận thức lại rằng điều Bác Hồ nói bây giờ không đúng nữa và chính quyền phải là cha mẹ, dân là con thì mới đúng, nếu cứ cho là thế thì cái câu “con không chê cha mẹ khó” cũng không áp được vào tình huống này, vì nếu so với dân (con) thì Nhà nước (cha, mẹ) mà đại diện cụ thể là các ông các bà lãnh đạo, có ông bà nào nghèo khó đâu mà chỉ có các con dân là nghèo là khó thôi! Nếu dân có chê thì chỉ chê nhiều ông nhiều bà quá giàu mà để cho dân cứ nghèo khổ lam lũ mãi, chứ nếu các ông, các bà mà nghèo thì dân không thương thì thôi, chứ ai dám chê bai gì! Thôi chẳng dám bàn đến vế sau – “Chó không chê chủ nhà nghèo” nữa vì những “chủ thể” này nó “nhạy cảm” quá! Chỉ muốn nói thế này cho nó nhanh: trong một xã hội văn minh, tôn trọng nhân quyền thì rất không nên người này coi người kia là chó chỉ vì không đồng quan điểm với nhau!

Tóm lại là nói ngược xuôi theo kiểu nào cũng thấy việc các nhà lý luận của ta áp dụng câu này trong bất cứ tình huống nào từ trước đến nay cũng đều không ổn. Xin các vị đừng quen mồm bạ đâu nói đấy, ăn theo, nói leo nữa mà trước khi nói gì thì nên chịu khó NGHĨ cái đã!


Hoành tráng đêm "đóng hộp yêu nước" của Thành Đoàn

Sea Free - Theo tin từ một đồng nghiệp, Đoàn Thanh niên sẽ tổ chức một cuộc biểu tình tuần hành bắt đầu lúc 17h đến 22h. Số lượng tham gia dự tính khoảng 10.000 người. Điểm tập trung xuất phát tại sân Quân khu 7, lộ trình chi tiết mình chưa nắm được.

( Sẽ cập nhật thông tin sau...)

Cập nhật :

17h tan sở, mình cùng anh bạn đồng nghiệp ăn vội một tô cháo rồi thẳng tiến nhà thi đấu Quân khu 7.

Trời đổ mưa mỗi lúc một nặng hạt. Nghĩ bụng kiểu này cuộc tuần hành đêm nay coi như hủy bỏ rồi. Thôi cứ đến rồi xem diễn tiến ra sao. Đến nơi, điều mình không ngờ là có khá đông thanh niên mặc áo xanh đứng trong khu vực nhà thi đấu. Wow! Tuổi trẻ nhiệt tình quá ta, không biết lộ trình tuần hành thế nào? Mưa lớn thế này có tiến hành được không? Nói tóm lại tất cả vẫn chỉ là nghi vấn vì phía Ban tổ chức không tiết lộ kế hoạch chi tiết. - Cứ đến nhà thi đấu Quân khu 7 sẽ có thông báo cụ thể!

Phải mất gần 20' mới gởi xe được vì lượng người dồn đến rất đông trong khi trời mưa to và chỉ có 1 người ghi thẻ (sau có bổ sung thêm 1 người).

Khi gởi xe xong vào bên trong, thấy các nhân viên an ninh đứng ở cửa cầu thang và một số thanh niên chìa tấm vé mời, mình chợt hiểu. "Đóng hộp lòng yêu nước" rồi! Chẳng biết cảm giác của các chú các bác hồi đi học tập cải tạo được nghe thông báo mang đồ dùng cá nhân trong khoảng một tuần lễ rồi sau đó là mút mùa thiên thu có giống như mình lúc này không?

Mặc dù trời còn mưa nhưng mình vẫn cảm thấy hơi hụt hẫng, cảm giác gần như bị lừa dối. Thôi, cứ nhận vé mời vào xem thế nào.

18h45: Bên trong nhà thi đấu, sân khấu trang hoàng với chủ đề "Vì biển đảo quê hương".

Người điều khiển dẫn dắt màn khởi động của chương trình. Ban đầu là màn chạy cờ trên khán đài và trao cho đại diện hải quân. Nhưng cuối cùng chỉ thấy mấy thanh niên đứng gấp cờ hơi bị lâu và thiếu chuyên nghiệp (chắc trời mưa to hải quân đến trễ :)

Sau đó là màn thi cắt giấy và xếp hình bản đồ Việt Nam trên sân khấu, gồm 3 đội tham gia.

Phần còn lại của màn khởi động ngót một giờ đồng hồ là điệp khúc đứng lên, ngồi xuống, vẫy cờ và hát. Có lẽ vốn bài hát hơi ít nên người điều khiển cứ lặp lại mấy giai điệu "tùng tùng xèng xèng"... Có cảm giác người ta muốn lấp đầy không gian và thời gian bằng mọi thứ âm thanh vui nhộn huyên náo.

19h45: Hai hàng ghế đại biểu vẫn còn vắng hoe, chẳng biết chương trình chính sẽ bắt đầu lúc mấy giờ đây?

20h30: Tiết mục chính thức đầu tiên là Tự hào đi lên Việt Nam.

Vài tiết mục nữa thì có 1 vị lên đọc bài. Không biết nên dùng từ gì cho hợp đây nữa, diễn văn thì không thể được vì nó thiếu vẻ trang nghiêm, phát biểu càng không đúng vì nó chẳng mang lại cảm xúc gì. Nói tóm lại là không lôi cuốn khán giả.

Mình đã phát ngán lên tận cổ vì chương trình thiếu hẳn sự chân thành, không phản ánh chân thực tình hình Biển Đông và Hoàng Sa.

Mình ra về khi có tiết mục giao lưu với người dân Trường Sa. Mình là dân Khánh Hòa mà lạ gì mấy chương trình này. Tệ một điều là không có được một phút mặc niệm những người lính đã nằm lại nơi đáy biển vì sự vẹn toàn lãnh thổ quốc gia.

Ra bên ngoài mới phát hiện thêm một vở hài kịch. Hành lang và cầu thang gần như chật kín người. Ngạc nhiên quá, khán đài vẫn còn rất nhiều ghế trống mà sao thế này. Xuống chân cầu thang gặp 2 nhân viên an ninh đứng chặn mới vỡ lẽ: - Không cho về sớm!

A cái ...ĐM (chửi thề trong bụng) Yêu nước mà cũng bị ép nữa chứ. Không muốn làm căng nên mình hỏi 2 nhân viên an ninh: - Toilet chỗ nào anh? Tôi muốn đi vệ sinh!

- Quay trở lại trên (vô nhà thi đấu) rồi ra ngả kia!

M... kiếp, chỉ cần đi qua 2 nhân viên này rồi rẽ trái 5 bước chân là đến WC, mà hắn bảo quay lên lại rồi ra ngả kia là ngả nào? À, tóm lại là không được ra ngoài.

Có một tay béo tốt lưng đeo bộ đàm ra đứng giữa cầu thang lên lớp đại khái là: lòng tự hào dân tộc của các anh đâu mà muốn về sớm??!!

Nghe mắc ói, định ra miệng chứi nhưng may kìm lại được. Đem Tổ Quốc với Danh Dự và Trách Nhiệm mà nói với hạng này khác gì đờn gẩy tai trâu. Mục tiêu của mình thoát ra sớm để về đính chính lại cái tiêu đề "Tin nóng..." chứ không thì xấu hổ với bà con trong giới blog quá.

Đảo lên một lượt không thấy cửa ra nào thuận tiện hơn, đành quay trở xuống. Thấy mấy em sinh viên đang năn nỉ 2 tay an ninh:

- Tụi em đói quá rồi anh ơi, hồi chiều không nói rõ chương trình nên chưa chuẩn bị...

Mình điên tiết rồi nên không nhịn nữa, lầm lũi đi xuống thẳng vào giữa 2 tên an ninh. Hắn chặn lại: - Đi đâu?

Mình gằn từng tiếng: - C h á n - r ồ i... M u ố n - v ề - đ ư ợ c - k h ô n g?

- Lệnh trên không cho!

- Lệnh đâu? Ai ký? Đưa đây coi!

- Một em nữ trong đám thanh niên chạy đến can: - Có gì từ từ nói anh...

2 nhân viên an ninh xuống giọng:

- Dạ, tụi em chỉ làm theo lệnh sếp thôi. Ông đó là sếp kìa, anh lên nói ổng đi, tụi em chỉ làm theo lệnh!

Mình chạy lên đầu cầu thang theo hướng tay chỉ, hỏi: - Anh là chỉ huy ở đây hả? - Đâu có!

Bực thật, đi xuống lại cầu thang thì thấy chỉ còn 1 tay an ninh. Hắn quay lưng ngó lơ, vậy là mình đi qua, thẳng đến WC, xong lấy xe về...

Sea Free


***

Bài tường thuật trên Báo Tuổi Trẻ :

Hào hùng đêm "Vì biển đảo quê hương"

TTO - Khoảng 3.500 đoàn viên thanh niên TP.HCM đã tham gia chương trình "Vì biển đảo quê hương" vào tối nay 30-6 tại Nhà thi đấu Quân khu 7 (Q.Phú Nhuận, TP.HCM).

Chương trình được dàn dựng công phu, hoành tráng, thật sự đã truyền cảm hứng và niềm tự hào về biển đảo quê hương, trân trọng yêu thương từng tấc đất, tấc biển mà cha ông đã đổ bao mồ hôi xương máu để gầy dựng.

"Vì biển đảo quê hương" do Thành Đoàn TP.HCM, báo Tuổi Trẻ, Đài Truyền hình TP.HCM phối hợp thực hiện.

Từ 19g30, hàng ngàn đoàn viên thanh niên đã cùng ký tên, gửi thông điệp với chủ đề "Thanh niên thành phố vì biển đảo quê hương”.

Các tiết mục văn nghệ được trình diễn thể hiện niềm tự hào về Tổ quốc, sự kiên cường của các chiến sĩ đang ngày ngày bảo vệ biển đảo quê hương, tâm tình đồng bào gửi người lính đảo... Cụ thể, các ca khúc được biểu diễn: Ta tự hào đi lên, ôi Việt Nam; Chúng ta là An Tiêm của đảo Trường Sa, Khát vọng, Biển ơi hãy lên tiếng, Tâm tình gởi anh lính đảo, Bài ca không quên...

Anh Nguyễn Văn Hiếu, Thành ủy viên, Bí thư Thành Đoàn TP.HCM phát biểu: "Hy vọng chương trình sẽ mang đến cho các đồng chí, đoàn viên thanh niên nhiều tình cảm để từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm và có hành động cụ thể để góp phần xây dựng đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta mãi mãi trường tồn".


Phó bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Thị Thu Hà đọc những thông điệp của bạn trẻ thành phố với chủ đề "Thanh niên thành phố vì biển đảo quê hương” - Ảnh: Hoàng Thạch Vân


Các ca sĩ trong trang phục Hải quân Việt Nam - Ảnh: Hoàng Thạch Vân

Nhiều phóng sự do Phòng Truyền hình báo Tuổi Trẻ thực hiện về những hoạt động của TP.HCM và cả nước hướng về biển đảo quê hương, hoạt động xây dựng và bảo vệ biển đảo quê hương... được trình chiếu trong chương trình thật sự mang đến nhiều cảm xúc cho người xem.

Dịp này, đại diện nhiều đơn vị đã trao bảng tượng trưng số tiền đóng góp cho quỹ "Vì Trường Sa thân yêu" do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.HCM phát động và chương trình "Góp đá xây Trường Sa" do báo Tuổi Trẻ - Thành Đoàn TP.HCM khởi xướng với tổng số tiền hơn 2,5 tỉ đồng.

Ông Phạm Chánh Trực (thứ tư từ trái sang, nguyên phó bí thư Thành ủy TP.HCM) và anh Nguyễn Văn Hiếu (thứ sáu từ trái sang, Thành ủy viên, Bí thư Thành Đoàn TP.HCM) trao tặng lá cờ Tổ quốc thiêng liêng cho đại tá Nguyễn Đức Vượng (thứ 5 từ trái sang, phó chính ủy Vùng 4 hải quân) - Ảnh: Hoàng Thạch Vân


Hàng ngàn bạn trẻ với lá cờ Tổ quốc trên tay hòa giọng cùng những giai điệu về đất nước, biển đảo quê hương - Ảnh: Hoàng Thạch Vân

Một trong những nội dung xúc động của chương trình là cuộc trò chuyện trực tiếp qua điện thoại với người dân và chiến sĩ tại Trường Sa. Những tràng pháo tay của các bạn trẻ không dứt sau mỗi chia sẻ thấm đượm tình yêu thương mảnh đất thiêng liêng này và quyết tâm bảo vệ từng tấc đất, tấc biển của Tổ quốc.

Thượng tá Phạm Văn Trung - chính trị viên đảo Trường Sa - nói qua điện thoại: "Sự quan tâm của đất liền là động lực to lớn để quân dân Trường Sa vượt qua bao khó khăn gian khổ, trụ vững nơi đầu sóng ngọn gió, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Cán bộ chiến sĩ xin hứa kiên quyết bảo vệ biển đảo".


Ca khúc Ta tự hào đi lên, ôi Việt Nam được biểu diễn bởi Danh Hùng và đội hợp xướng Nhà hát Giao hưởng vũ kịch TP.HCM - Ảnh: Hoàng Thạch Vân

Hình ảnh lá cờ Tổ quốc thiêng liêng có diện tích 9x6m được hàng ngàn đoàn viên thanh niên chuyền tay nhau qua khán đài trong giai điệu ca khúc "Tổ quốc yêu thương" và cuối cùng được trang trọng trao cho đại tá Nguyễn Đức Vượng - phó chính ủy Vùng 4 hải quân - mang ý nghĩa gửi trao tình cảm đặc biệt của tuổi trẻ TP.HCM đến quân dân biển đảo.

TRUNG UYÊN

Xử lý trung thực

Đọc bài “Báo chí Việt Nam không có vùng cấm” mới biết bác Lê Doãn Hợp “đã có cuộc gặp gỡ, trao đổi thẳng thắn, cởi mở với một số ký giả thuộc hai cơ quan truyền thông của người Việt ở hải ngoại là Việt Weekly và Phố Bolsa TV” ở tận bên Mỹ. Chả cần đọc cũng biết bác sẽ khẳng định thế này: “Xét về mặt quan điểm, chủ trương và luật lệ, với tư cách là Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông, tôi khẳng định không có sự cấm đoán nào”. Khổ thân quan chức nước nhà hễ ra nước ngoài đều phải lên giọng khẳng định y chang bác Hợp. Biết là người ta chả tin vẫn cứ nói, nói khác đi có mà bỏ mẹ.


Nếu nói ở Cu Ba, ở Trung Quốc, ở Bắc Triều Tiên thì còn có người tin chứ nói ở Mỹ ai tin? Dân người ta đều nhận được thông tin đa chiều nhanh nhậy. Có những việc chưa đến tai bác Hợp đã đến tai nước Mỹ rồi. Chắc bác Hợp biết thừa, nhưng há miệng mắc… chủ trương, biết làm thế nào bây giờ, hu hu.

Nghĩ cũng vui. Mình chưa đi nước Mỹ. Bạn bè có đôi ba người mời sang đấy nhưng mình đi lại khó khăn, sang đấy rồi cũng chỉ ngồi ru rú trong nhà thì đi cũng như không. Nếu đi Mỹ theo cách di chuyển chỗ nhậu thôi thì đi làm gì. Bảo đảm ở Việt Nam nhậu nhẹt thoải mái hơn Mỹ, đỡ tốn hơn Mỹ. Không đi nhưng vẫn tò mò muốn biết nước Mỹ. Hình như năm 1997 thì phải, bác Nguyễn Duy đi Mỹ 6 tháng về. Mình biết Nguyễn Duy đi đâu cũng chẳng chịu cưỡi ngựa xem hoa nên mới hỏi bác, nói anh thử nói một câu về nước Mỹ xem nào. Một câu thôi nhé. Nguyễn Duy nói ngay không do dự, nói nước Mỹ, đấy là tất cả những gì Mác mơ ước.

Chả biết nước Mỹ là tất cả những gì Mác mơ ước hay không, cũng có nhiều thứ Mác không biết để mà mơ ước, ví dụ tự do báo chí ở nước Mỹ chẳng hạn. Thời của Mác chưa có internet, làm sao Mác bíết để mơ ước blog và các trang web cá nhân không bị nhà nước dùng tường lửa và nhà tù để quản lý. Mác không mơ ước mà Mỹ vẫn cứ làm, thế mới hay. Có lẽ ở Mỹ sướng nhất là cái mồm. Mắt mũi chân tay chim bướm thì cũng giống nhau thôi, chỉ cái mồm là sướng hơn hẳn, ai không tin cứ sang Mỹ thì biết.

Ở xứ sở ”Mác mơ ước” mà bác Lê Doãn Hợp phải lên giọng khẳng định ưu việt báo chí nước nhà, thật thương bác quá. Bác Trần Hữu Dũng khi đọc bài này đã phán một câu rất đau: “Báo chí Việt Nam không có vùng cấm” - Ông Lê Doãn Hợp nói thế. Ai mắc bệnh khổ dâm (masochism) thì vào đọc tiếp, sẽ ngất ngây luôn!” Đau cứ đau sướng cứ sướng, càng đau càng sướng đó là khổ dâm. Bác Hợp nói thế nhất định bị thiên hạ người ta diễu cho, đau lắm. Đau vì bác cũng là một trí thức (Mình còn biết bác rất có lòng với anh em trí thức). Đau thế nhưng mà sướng, vì nhờ nói vậy mà bác được cấp trên vỗ vai xoa đầu, đường hoạn lộ của bác lại thênh thang. Cái này không biết có phải khổ dâm không, để hỏi gs Trần Hữu Dũng đã.

Hơn một giờ ”khổ dâm” bác nói toàn đúng trở lên, chỉ có một câu làm mình hơi bị giật mình, có vẻ như lộ bí mật quốc gia, ấy là khi bác than: “Thú thật là xử lý hai chữ trung thực rất vất vả”. Đã trung thực lại còn bị xử lý nghe cũng hơi buồn cười nhưng mà có thật, chỉ có xứ mình mới có thôi. ”Xử lý trung thực” là vũ khí "bí mật” của xứ mình để dẹp ”loạn” báo chí. Nhờ đó mà Nguyễn Việt Chiến vào tù, các ông Công khế, Bùi Thanh, Hoàng Hải Vân mất chức và vô khối nhà báo bị thu hồi thẻ nhà báo. Vũ khí hay như thế mà bác cả gan tiết lộ, thậm nguy.

Chả biết vì câu lỡ mồm này bác Hợp có bị “xử lý trung thực” không, hi hi.


Không thể cứ tiếp tục quyết định thay cho nhân dân!

Song Chi - Từ trước đến nay, các thế hệ lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản VN luôn luôn hành xử như thể đất nước VN là “tài sản” riêng của đảng, hơn thế nữa, là của một nhóm những người giữ vị trí cao nhất-ta thường gọi là 14 ông vua tập thể trong Bộ chính trị.


Người dân từ lâu đã được “khuyên răn” rằng: không nên bận tâm đến chính trị, mọi chuyện đã có đảng và nhà nước lo.

Trước tất cả mọi vấn đề có liên quan đến vận mệnh đất nước, dân tộc, nhà cầm quyền giấu nhẹm thông tin với nhân dân, lẳng lặng và tùy tiện quyết định. Thời buổi này thì thông tin cũng khó mà giữ kín được mãi, nhưng nếu sau đó, người dân có tình cờ biết được điều gì thì cũng là “sự đã rồi”.

Như cái chuyện công hàm năm 1958 của ông cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, mãi sau này người dân mới được biết nội dung của nó, nhưng nhà nước thì vẫn lặng không có một lời giải thích. Thậm chí, khi Trung Quốc sử dụng công hàm này để bắt bẻ phía VN đã công nhận chủ quyền của họ trên biển Đông mà họ gọi là biển Hoa Nam, bao gồm cả các hòn đảo Hoàng Sa-Trường Sa như là một bộ phận thuộc lãnh thổ quốc gia của TQ, bây giờ lại “trở mặt”, đổi ý, Hà Nội cũng cứ nhất mực im lặng, coi như không nghe không thấy.

Các Hiệp ước biên giới trên đất liền được ký kết năm 1999 và Hiệp định phân định Vịnh Bắc bộ VN-TQ năm 2000 nội dung ra sao, nhà nước VN đã nhân nhượng và chịu thiệt thòi quá nhiều cho phía Trung Quốc như thế nào, chúng ta đã mất chính xác bao nhiêu kilomet vuông đất, bao nhiêu dặm trên biển…nhân dân hoàn toàn không biết. Chỉ biết rằng những cái gì có thể nhìn thấy bằng mắt thường như toàn bộ Ải Nam Quan, phần chính thác Bản Giốc hay Cao điểm 1509 thuộc xã Thanh Thủy, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang (bây giờ Tàu gọi là Lão Sơn)…nay không còn thuộc về VN nữa!

Thác Bản Giốc đẹp tuyệt vời, nay VN chỉ còn sở hữu phần thác phụ và một nửa thác chính, TQ sở hữu một nửa thác chinh. Ảnh: panoramio.com

Vụ bauxite Tây Nguyên cũng vậy, một mình ông Tổng Nông Đức Mạnh qua mặt cả Bộ chính trị, cam kết với Trung Quốc. Sau đó cả bộ sậu 14 ông vua cứ thế mà thông qua dự án này, mặc cho sự phản đối của hàng trăm hàng ngàn nhân sĩ, trí thức, nhà khoa học cũng như sự không đồng tình của đông đảo người dân.

Có thể kể ra hàng hà sa số những ví dụ để thấy rằng đất nước này không phải thuộc về của chung của 90 triệu người dân VN đang sống ở trong và ngoài nước, mà chỉ thuộc về họ-các thế hệ lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản VN, cùng với những ông quan to quan nhỏ trong bộ máy nhà nước từ trên xuống dưới. Nên họ muốn làm gì thì làm.

Còn hơn cả vua quan thời phong kiến.

Nhân dân thì liên tục bị lừa.

Gần đây, biển Đông lại dậy sóng bởi cách hành xử ngang ngược, hiếu chiến của Trung Quốc. Phản ứng của nhà nước VN được dư luận đánh giá là có vẻ cứng rắn hơn từ trước đến nay, nhưng vẫn có những sự mập mờ khó hiểu, tiền hậu bất nhất khiến người dân không thật sự an tâm.

Một mặt, báo chí trong và ngoài nước vẫn tiếp tục lên án, chỉ trích những hành động của nhà cầm quyền Trung Quốc. Người dân đã xuống đường phản đối TQ và vẫn tiếp tục kêu gọi xuống đường. Các học giả VN vẫn tiếp tục lên tiếng bày tỏ quan điểm về chủ quyền của VN trên biển Đông tại những cuộc hội thảo quốc tế. Một số nhân vật cao cấp trong hàng ngũ lãnh đạo của Đảng kể cả ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng cam kết sẽ làm tất cả để bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ lãnh hải của VN. Hải quân VN thì tuyên bố tập trận bắn đạn thật. Lại có cả Nghị định 42/2011/NĐ-CP về việc "Các trường hợp được miễn gọi nhập ngũ trong thời chiến" có hiệu lực thi hành từ ngày 1/8/2011. Cứ như thể có chiến tranh đến nơi. VN cũng lên tiếng kêu gọi sự giúp đỡ của quốc tế, kể cả Hoa Kỳ, để làm giảm những căng thẳng, xung đột trên biển Đông. Cứ như thể, nhà nước VN cũng đồng lòng quyết tâm cùng với nhân dân, bảo vệ đất nước!

Nhưng bên cạnh đó, ngay lập tức lại có những hành động ngược lại.

Ngay giữa những ngày tình hình đang “nóng” nhất do tàu hải giám TQ ngang nhiên cắt cáp tàu Bình Minh 2 của VN, ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải liền chỉ đạo các cơ quan liên quan của thành phố khẩn trương “triển khai Dự án tổng thể xây dựng Cung hữu nghị Việt - Trung tại xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội….” Dự án này “do Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam chủ trì, xây dựng từ nguồn vốn viện trợ không hoàn lại 200 triệu nhân dân tệ (hơn 30 triệu USD) của Chính phủ Trung Quốc và một phần ngân sách của Việt Nam…” (Theo VNMedia).

Ngày 5.6, khi hàng trăm người ở Hà Nội và hàng ngàn ngưởi ở Sài Gòn nồng nhiệt xuống đường biểu tình phản đối những hành động hung hăng của nhà cầm quyền Trung Quốc, tất cả các diễn đàn độc lập, báo chí của người Việt ở hải ngoại và nước ngoài đều đưa tin, hình đầy đủ, thậm chí có cả video clip minh họa…Thì TTXVN lại đưa tin là “có một số ít người đã tự phát tụ tập, đi ngang qua Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội và Tổng Lãnh sự quán Trung Quốc ở TP.HCM….Những người này tụ tập một cách trật tự, bày tỏ thái độ một cách ôn hòa, và sau khi được các đoàn thể, các cơ quan chức năng của Việt Nam giải thích, họ đã tự giải tán, ra về.” Đơn giản chỉ nhằm xoa dịu Trung Quốc, sợ TQ “mích lòng”!

Và những cuộc biểu tình sau đó đã có những hành vi bắt bớ, đàn áp diễn ra. Nhất là tại Sài Gòn. Các nghệ sĩ, trí thức, bloggers đã có mặt trong buổi biểu tình ngày 5.6 hoặc đã từng có những hành động tương tự vào năm 2007, đều bị bao vây, cô lập và ngăn chặn để họ không thể có mặt cùng các sinh viên, quần chúng!

Ngày 9.6, trong khi tàu TQ vẫn đang rượt đuổi, cướp tài sản của ngư dân VN, khi người dân vẫn đang sôi sục uất ức thì Đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam-tổ chức được gọi là của dân-lại đi thăm Trung Quốc. TTXVN đưa tin, thay mặt đoàn, “Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Trần Hoàng Thám khẳng định Việt Nam rất coi trọng mối quan hệ với Trung Quốc, đồng thời hy vọng hai bên sẽ kế thừa và phát huy tình cảm hữu nghị mà các lãnh đạo tiền bối nước đã dày công vun đắp, đưa quan hệ hợp tác Việt Nam-Trung Quốc phát triển lên tầm cao mới.”!

Chiều 18.6, hai tàu hải quân VN lại cùng với tàu của Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc tham gia chuyến tuần tra liên hợp trên vùng biển vịnh Bắc Bộ!

Cùng lúc, báo chí TQ vẫn tiếp tục cao giọng “mắng mỏ” VN, đòi “tát cho VN vỡ mặt”, truyền hình TQ còn chiếu cả kế hoạch tấn công VN.

Tất cả những diễn biến này khiến dư luận trong nước cũng như trên thế giới không rõ đường lối, chính sách của Hà Nội như thế nào. Rõ là Hà Nội vẫn sợ. Đánh võ mồm thế thôi chứ vẫn sợ.

Thật ra, như nhiều nhà phân tích, bình luận chính trị trong ngoài nước cũng đã nhận xét, nguy cơ xảy ra chiến tranh vì những tranh chấp trên biển Đông là rất thấp, hầu như bằng không, ít nhất là trong thời điểm hiện tại cho tới vài năm nữa. Bởi, Bắc Kinh thừa hiểu rằng nếu xảy ra chiến tranh giữa TQ và các nước láng giềng ví dụ như VN, điều đó hoàn toàn không có lợi cho TQ. Trung Quốc chưa đủ mạnh đến mức muốn làm gì thì làm, bất chấp thế giới. Vả chăng, cứ thử nghĩ xem, trong khu vực châu Á, và ngay cả trên toàn thế giới, những quốc gia nào thực sự là bạn, là đồng minh của TQ?

Thực tế những ngày vừa qua cho thấy, mọi sự hung hăng gây hấn của TQ chỉ tạo điều kiện cho các nước láng giềng xích lại gần Hoa Kỳ và Hoa Kỳ có cơ hội để quay trở lại khu vực này, là điều mà TQ hoàn toàn không muốn chút nào.

Ngay trong Hội thảo an ninh biển Đông được tổ chức tại Trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế ở Washington từ ngày 20 đến 21.6 đã cho thấy TQ bị thế giới chỉ trích khá nhiều về yêu sách đường lưỡi bò phi lý trên biển Đông cũng như cách hành xử trong thời gian qua.

Tiếp theo, ngày 27.6, Thượng viện Hoa Kỳ vừa nhất trí thông qua một nghị quyết không tán thành việc các tàu Trung Quốc sử dụng vũ lực tại Biển Đông, và khẳng định tiếp tục hỗ trợ cho hoạt động của quân đội Hoa Kỳ nhằm "giúp tự do lưu thông trong hải phận và trên không phận quốc tế ở Biển Đông".

Có lẽ hơn ai hết, những cái đầu nóng ở Bắc Kinh đã hiểu rằng chưa đến lúc, và cần phải tạm lùi lại.

Tuy nhiên, không một ai ngây thơ mà tin rằng TQ sẽ từ bỏ tham vọng chiếm cứ biển Đông, cũng như tham vọng là nước giàu nhất, mạnh nhất, bá chủ toàn cầu trong một ngày không xa. Khi chưa làm được điều đó, Bắc Kinh sẽ tiếp tục luận điệu “trỗi dậy hòa bình” để trấn an các nước, tiếp tục “thao quang dưỡng hối” và chuẩn bị thêm vể mọi mặt.

Đảo Hoàng Sa của VN, nay đã thuộc về TQ. Ảnh: giacngo.vn

Đây cũng là cơ hội…cuối cùng, là thời gian cho VN kịp chuẩn bị về phần mình để tránh không bị rơi vào thế cờ chiếu bí khi TQ mạnh hơn nữa và quyết định dùng quân sự để giài quyết vấn đề biển Đông. Chuẩn bị có nghĩa là rút ra bài học từ những sai lầm trong quá khứ, trong việc lựa chọn con đường đi cho đất nước và chọn “bạn” mà chơi. Là tiến hành cải cách triệt để về mô hình thế chế chính trị, để đưa đất nước thoát khỏi sự nghèo nàn lạc hậu bế tắc hiện tại, lựa chọn các nước giàu mạnh, dân chủ, tiến bộ là bạn, là đồng minh v.v…
Thay vì như thế, người dân lại nhỉn thấy những dấu hiệu khác, từ phía nhà nước VN.

Và điều làm người dân lo lắng nhất là thông tin Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn, đặc phái viên của lãnh đạo cấp cao Việt Nam đã gặp Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc ngày 25.6. Thông cáo báo chí chung VN-TQ đăng trên TTXVN tuyên bố rằng hai bên sẽ "đẩy nhanh tiến độ đàm phán để sớm ký kết "Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam-Trung Quốc"; thúc đẩy việc thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và các công việc tiếp theo, cố gắng sớm đạt tiến triển thực chất."

Không rõ hai bên cam kết những gì nhưng bản tin “Trung Quốc thúc giục sự đồng thuận với Việt Nam trên vấn đề Biển Hoa Nam” trên Tân Hoa Xã ngày 28.6 viết:

“Trung Quốc hôm nay thứ Ba đã kêu gọi Việt Nam hãy thực hiện đầy đủ một thỏa thuận song phương trên vấn đề Biển Hoa Nam (Biển Đông) vốn đã đạt được trong thời gian diễn ra chuyến viếng thăm của phái viên đặc biệt của Việt Nam Hồ Xuân Sơn vào tuần trước…”. Rằng: “Cả hai nước đều phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam.” Đồng thời không quên nhắc lại: “Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố về chủ quyền không thể tranh cãi của mình tại các hòn đảo trên Biển Hoa Nam và những vùng biển xung quanh các hòn đảo này.

Những hồ sơ lịch sử của Trung Quốc đã cho thấy rằng năm 1958, chính phủ Trung Quốc đã khẳng định các hòn đảo trên Biển Hoa Nam như là bộ phận thuộc lãnh thổ quốc gia của Trung Quốc, và kế đó Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã bày tỏ sự tán đồng trong bức thư ngoại giao ngắn của mình gửi tới Thủ tướng khi đó là ông Chu Ân Lai.

Chưa từng có sự bất đồng nào từ bất cứ quốc gia nào đối với chủ quyền của Trung Quốc trên khu vực này cho tới những năm 1970, khi các nước bao gồm Việt Nam và Philippines tuyên bố chủ quyền từng phần ở đây.”

Giọng điệu của phía TQ rõ ràng đã thành công trong việc gây ra sự hoang mang cho người dân VN khi không biết nhà nước VN đã thỏa thuận những gì, liệu có đầu hàng và “đi đêm” với TQ không. Đồng thời các nước, nhất là Hoa Kỳ cũng nửa tin nừa ngờ. Từ trước đến nay có lẽ một trong những lý do khiến Hoa Kỳ chưa mặn mà ủng hộ VN trong việc xung đột với TQ trên biển Đông, ngoài nguyên nhân do thể chế chính trị độc tài của VN, còn vì Hoa Kỳ sợ VN sẽ tìm cách đi dây giữa hai nước rồi một lúc nào đó lại thỏa hiệp với TQ.

Nay với mũi tên cùng lúc bắn cả hai con chim này, nhà cầm quyền TQ đang triệt để cô lập nhà cầm quyền VN, với chính người dân trong nước và với quốc tế để dễ bề tiến tới ép VN phải nhân nhượng về lãnh hải. Vì rõ ràng hiện nay chỉ có VN là quốc gia dễ bị ép nhất, VN không có đồng minh, VN đang phải đối diện với quá nhiều vấn đề trong nước, kinh tế VN lại đang phụ thuộc nặng nề vào TQ… Không có thời cơ nào hơn cho TQ lúc này để ép VN như đã từng ép thành công trước kia.

Sự im lặng, không minh bạch rõ ràng của nhà nước VN thực sự bất lợi cho họ về nhiều mặt, nhưng có vẻ như họ vẫn chưa chịu nhìn ra điều này.

Chỉ trừ phi họ nhân cơ hội này, thức tỉnh, chấp nhận hy sinh quyền lợi vì vận mệnh của đất nước, dân tộc. Song, cay đắng thay, điều đó chẳng khác nào ngồi mơ trúng số!

Chắc chắn Đảng và nhà nước cộng sản VN sẽ lại lựa chọn con đường đầu hàng, thỏa hiệp với TQ. Bởi vì đó là sự lựa chọn dễ dàng nhất, cho những kẻ đớn hèn và bất tài.

Nếu tiếp tục nhân nhượng, lãnh hải của VN rồi sẽ còn lại như thế này, theo đúng tham vọng của TQ! Ảnh: tuoitre.vn

Nghĩ mà thương cho người dân. Nhân dân xuống đường bị bắt bớ, sôi sục ký tên vào những bản tuyên cáo phản đối TQ…để cuối cùng “các ông vua tập thể” lại tiếp tục tự mình quyết định mọi việc.

Đã đến lúc người dân cần phải tỏ rõ thái độ với những người đang nắm quyền lãnh đạo đất nước rằng: đất nước là của chung mọi người VN, không của riêng một đảng phái, một chế độ, một nhúm người. Người dân có quyền được biết mọi chuyện liên quan đến vận mệnh đất nước. Hoặc họ phải minh bạch và dứt khoát đứng về phía nhân dân, chọn lựa con đường đúng để cứu nước, hoặc người dân phải đứng lên giành lấy quyền cứu nước trước khi quá muộn.

Powered By Blogger