Together We Fight Until Vietnam Has FREEDOM & DEMOCRACY. Vietnamese Communist Party MUST GO !!! Mỗi người chỉ có một đời để sống và một lần để chết. Hãy sống trong liêm sỉ và chết trong niềm kính trọng.
...Bao
giờ thì ở cái nước Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc của chúng ta
sẽ có Trung Tâm Hướng Dẫn Luật Pháp (Legal Education Center) và Mạng
Lưới Người Nội Trợ (Domestic Worker Network) để bảo vệ quyền lợi
của những người giúp việc nhà trong, cũng như ngoài nước - để
họ “phải đi xin ăn từng bữa nơi đất khách”? Khi nào thì giới ô sin
Việt Nam được quyền đòi hỏi nhận tiền lương tối thiểu, ngày
nghỉ cuối tuần, và những ngày nghỉ lễ được về thăm nhà - như
đồng nghiệp của họ ở bên Cambodia?...
*
"Những đứa bé trai và gái bưng thức ăn cho khách vẫn là những đứa bé
đã được mô tả trong tiểu thuyết Nam Cao hay Trương Tửu cách đây năm sáu
thập niên, còm cõi, nhọc nhằn, cơ cực, chỉ biết cúi đầu vâng dạ và sống
quen với lo âu, sợ hãi..." - Bùi Bích Hà.
Qua đến mùa mưa thứ hai ở Cambodia thì tôi đủ tự tín để nghĩ
rằng: chỉ cần vài ba trăm đô la là mình có thể sống “ung dung”
cả tháng ở cái xứ sở (dễ thương) này.
Muốn cho tươm tất và bảnh bao thì phải ra khỏi những con hẻm
nhỏ (“hắt hiu vàng ánh điện câu”) ở ngoại ô Phnom Penh, rồi giả
dạng làm du khách, hiên ngang kêu Taxi ra trung tâm thủ đô cho nó
ngon lành.
Tui uống rất tiết độ, nếu uống một mình. Còn khi được “mời”
(nghĩa là uống free) thì khác. Tôi uống tì tì. Đang săm soi tìm
rượu, tính kiếm một chai gì đó thiệt mắc cho có cha đứt ruột
chơi thì chợt nghe tiếng đám đông lào xào trong quán.
Tôi ngẩng nhìn và thấy hàng trăm thực khách, phần lớn đều là phụ nữ, mặc đồng phục, có in đậm ba chữ ILO (International Labour Organization) đang xếp hàng đi qua trước mặt.
Tôi bán tin bán nghi cho đến khi đọc được bản tin (“Domestic
Workers Push for Protections”) của ký giả Pech Sotheary trên The Phnom Penh Post:
“Những Người Giúp Việc Nội Trợ Thúc Đẩy Việc Bảo Vệ Quyền Lợi”
Ngày hôm qua, bốn mươi tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế đã
kêu gọi Chính phủ Căm Bốt phê chuẩn Hiệp định năm 2011 về NNGVNT của Tổ
chức Lao động quốc tế (ILO), nhằm bảo vệ tốt hơn quyền của NNGVNT Căm
Bốt, cả ở bên trong lẫn bên ngoài đất nước.
Bức thư, trong đó nói rõ NNGVNT của Vương quốc hiện nay không được
luật pháp bảo vệ, đã được các nhóm đấu tranh cho nhân quyền đồng ký tên,
như “Licadho”, “Trung tâm hướng dẫn luật pháp Căm Bốt”, “Mạng lưới
NNGVNT Căm Bốt” (CDWN), cùng nhiều nhóm khác.
Theo Hiệp định của ILO, NNGVNT phải được hưởng những điều kiện sống
và làm việc xứng đáng, có ngày nghỉ, có quyền thương lượng tập thể và
“được bảo vệ chống lại mọi hình thức hành hạ, sách nhiễu và bạo lực.
Phó Giám đốc CDWN, bà Yem Sothy cho biết, 240000 NNGVNT trong nước và
nhiều nghìn người ở nước ngoài sẽ được hưởng lợi nhờ sự tham gia của
Căm Bốt vào Hiệp định. “Nếu có được sự đồng thuận, những công nhân này
sẽ được trả lương đúng mức... và được hưởng những ngày lễ để họ về thăm
nhà”, bà nói.
Hai Somaly, 20 tuổi, quê ở Kandal, đã đến Phnom Penh làm người giúp
việc, khi cô mới chỉ có mười tuổi. Theo cô, những người giúp việc phải
đứng ở một địa vị thấp kém trong xã hội Căm Bốt, và thường bị bóc lột.
“Tôi muốn luật pháp bảo vệ chúng tôi và tôi cũng muốn được hưởng mức lương tối thiểu như những công nhân ngành khác”.
Cái thứ con sen và thằng ở (ở) Việt Nam mà cũng ăn nói kiểu
đó thì có mà bỏ mẹ, hay ... bỏ mạng. Tất cả có bao giờ dám
nói năng gì đâu mà vẫn cứ bị roi vọt đều đều:
- VnExpress: “Sau
khi bị tra tấn bằng kìm, chọc que sắt nóng vào vùng kín đến ngất xỉu,
một nữ nhân viên nhà hàng đặc sản thú rừng Thanh Loan (huyện Lương Sơn,
Hòa Bình) đã bị vứt ra đường.”
- Tiền Phong:
“Nguyễn Thị Bình quê ở huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) được mẹ đưa ra Hà
Nội làm tại quán phở của ông Chu Minh Đức và vợ là Trịnh Hạnh Phương ...
từ năm em 10 tuổi.
Suốt hơn 10 năm qua, Bình phải làm việc quần quật suốt từ 3 giờ sáng
đến tận đêm khuya. Sau khi làm xong việc trong nhà, em phải ra quán phở
xách nước, thu dọn bát đũa, chuyên chở nước dùng, bánh phở, đưa thịt đi
thái, quét dọn... nhưng vẫn bị hành hạ, đối xử như một nô lệ.
Theo lời Bình kể, em bị đánh thường xuyên, lúc thì do làm mất lòng
chủ, lúc thì do sơ suất để vỡ một cái bát hoặc làm đổ nước ra nhà. Ông,
bà chủ dùng dây điện thắt nút quất liên tiếp vào mặt, lưng; dùng kìm kẹp
vào mạng sườn; bắt em quỳ ngoài sân giữa đêm khuya, trời lạnh nhiều
tiếng đồng hồ...”
Trong khi Nguyễn Thị Bình bị hành hạ ở Việt Nam thì “đồng
nghiệp” của cô cũng đồng loạt bị ngược đãi ở xứ người - theo
tin tức được phổ biến bởi Ban Điều Hợp VNSN (Những Cuộc Đời Bất
Hạnh) vào hôm 15 tháng 5 năm 2015:
1. Lấy Chồng Nước Ngoài: 1 Phụ Nữ Việt Nam Chết sau một ngày làm dâu
Ngoài ra, trên tạp chí Bốn Phương
(phát hành tại Đài Loan) người ta đọc được một lá thư - song ngữ,
Việt/Hoa - của linh mục Nguyễn Văn Hùng, kêu gọi giúp đỡ cho một nam
công nhân vừa bị tai nạn. Xin chỉ ghi lại nguyên văn (phần tiếng Việt)
để rộng đường dư luận:
“Kính thưa anh chị em công nhân, cô dâu Việt Nam tại Đài Loan!
Tôi xin quý anh chị em công nhân và cô dâu người Việt hãy rộng tay giúp đỡ cho trường hợp của chị Dương Thị Toàn.”
“Sau khi người thân của anh Hùng, chồng chị Toàn, liên lạc với Văn
Phòng nhờ giúp đỡ, Văn phòng đã cho nhân viên xã hội lên bệnh viện thăm
anh Hùng. Nếu anh Hùng không phải trả một số tiền khổng lồ cho môi giới
Việt Nam, thì có lẽ anh đã không phải trốn ra ngoài để đi làm kiếm tiền
trả nợ mà đã về đoàn tụ với vợ con gia đình. Vì số tiền môi giới quá lớn
đã trói chặt anh vào số phận lao động nô lệ, biến anh thành nạn nhân
của tệ nạn bóc lôt và buôn bán con người.”
“Chính phủ Việt Nam vẫn làm ngơ trước những hành vi bóc lột công nhân
qua số tiền môi giới phải trả trước khi rời Việt Nam! Bao lâu chính phủ
Việt Nam chưa có luật pháp chế tài đối với các trung tâm môi giới hút
máu người qua việc thu tiền lệ phí quá cao thì những trường hợp thương
tâm như anh Hùng vẫn còn xảy ra hàng ngày.”
Mười năm sau, “Chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục làm ngơ,” cứ y
như chưa bao giờ có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra - theo tường
thuật của ký giả Anh Tuấn, báo Lao Động, số ra ngày 18 tháng 4 năm 2015:
“Hơn tháng qua, hai lao động do chi nhánh Cty CP Việt Hà - Hà Tĩnh
(VIHATICO, ngõ Anh Sơn, đường Đỗ Đức Dục, phường Mễ Trì, Nam Từ Liêm, Hà
Nội) đưa đi làm việc tại Qatar đang sống vật vờ do không được bố trí
việc làm, phải đi xin ăn từng bữa nơi đất khách.”
A. "Thu Sầu"
nói lên tâm tình sầu não của người trong cuộc tình xa cách với
lòng cao thượng như một nghịch lý trong mối tình ngang trái.
Bài hát là lời tâm tình của một người trong cuộc tình buồn
vào mùa thu khi người đó và người tình xa nhau. Bài hát không
xác định lời tâm tình đó là của cô gái hay chàng trai; nhưng
có những gợi ý cho thấy đó là cô gái. Thực ra, lời tâm sự
cũng có thể do từ chàng trai; nhưng cho tiện việc trình bày,
tôi sẽ dùng "cô gái" là người nói lên tâm sự mình trong bài
hát. Bài hát cũng không cho biết rõ lý do cho sự xa cách, mà
chỉ mơ hồ nói đến hai người không có duyên nợ nên đành xa nhau.
Như sẽ được trình bày sau, chính sự mơ hồ không nói rõ lý do
này làm tăng giá trị của bài hát.
"Thu Sầu" có ba phiên khúc (PK): PK1, PK2, và PK3; và một điệp
khúc (ĐK) được sắp xếp như sau: PK1, PK2, ĐK, và PK3. Sự phân chia
các phiên khúc theo một bố cục mạch lạc, giúp ý tưởng được
trôi chảy. PK1 mô tả cảnh tượng mùa thu và thiết lập bối cảnh
quá khứ. PK2 tiếp tục câu chuyện cho biết hai người xa nhau vì
không có duyên nợ và những thay đổi trong cuộc đời. ĐK cho thấy
cái nghịch lý của chuyện tình: yêu nhau và có dịp hội ngộ
nhưng không gặp nhau khi nỗi buồn chồng chất. PK3 xác nhận
nghịch lý với mơ ước thầm kín xa nhau để quên nhau.
1. Bài hát là lời tâm tình của người với nỗi buồn đau khổ trong cuộc tình trắc trở sau thời gian xa cách:
Trong văn và thi ca, mùa thường được dùng là bối cảnh cho tình
tiết, tâm sự, hoạt động, hoặc ý tưởng cho câu chuyện. Các mùa
thường có ý nghĩa như sau (Xem, thí dụ như, Richards-Gustafson).
Mùa Xuân đem lại vui tươi, tình yêu, tuổi trẻ, nẩy nở, tái sinh,
và phục hồi. Mùa Hạ hàm ý tự do, thám hiểm, hồi tưởng,
tình bạn, và ấm áp. Mùa Thu gợi ý chín mùi, trưởng thành,
thay đổi, rộng rãi, buồn bã, và suy đồi. Mủa Đông cho hình ảnh
chết chóc, già nua, cô đơn, tuyệt vọng, và kết thúc; nhưng
cũng có thể gợi ý phục hồi và hy vọng.
Việt Nam tuy không có bốn mùa rõ rệt và thường chỉ có hai mùa
(mưa và nắng), nhưng sự thay đổi thời tiết và thiên nhiên cũng
tạo ra những nét đặc thù của bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Văn,
thi, và nhạc sĩ thường liên kết mùa thu với buồn bã, xa cách,
chia ly, có lẽ vì cảnh lá úa hoặc lá rơi tạo ra hình ảnh
vắng vẻ, cô liêu, và thiếu sức sống. Thí dụ, ca khúc "Mùa Thu
Chết" của Phạm Duy dựa vào lời bài thơ L'Adieu của thi sĩ Pháp
Guillaume Apollinaire nói đến cảnh chết chóc ly biệt trong mùa
thu (Wikipedia 2014). Có nhiều câu ca dùng mùa thu để diễn tả
nỗi sầu não, buồn thảm. Thí dụ, "Trời vào thu Việt Nam buồn lắm em ơi" (trong "Tình Bơ Vơ" của Lam Phương), "Em có nghe mùa thu mưa giăng lá đổ" (trong "Mùa Thu Cho Em" của Ngô Thụy Miên), "Đếm lá úa mùa thu/ Đo sầu ngập tim tôi"
(trong "Mùa Thu Không Trở Lại" của Phạm Trọng Cầu). Tương tự, trong
"Thu Sầu," bằng cách mở đầu bài hát với cảnh mùa thu ít nắng
và buổi chiều man mác, Lam Phương báo trước khán giả biết đây
là một chuyện tình buồn.
Những giọt lệ khóc cho mối tình làm ướt đẫm áo dài trắng,
và những kỷ niệm êm đềm ngày xưa còn trên trang giấy ("Lệ tình đẫm ướt tà áo trinh nguyên/Kỷ niệm êm đềm còn in trên giấy.")
Ta không rõ kỷ niệm êm đềm gì trên trang giấy. Nhưng câu nhắc
nhở đến "tà áo trinh nguyên" và trang giấy gợi ra hình ảnh học
đường trung học trong miền Nam. Thời ấy, nữ sinh thường mặc
đồng phục áo dài trắng và các kỷ niệm thường được ghi qua thư
từ hoặc quyển lưu bút vào mỗi dịp hè. Do đó, ta có thể hiểu
mối tình được khởi đầu qua môi trường học đường lúc hai người
còn trẻ.
PK2 kể chuyện tình hai người xa cách. Người tình của cô đã xa
cách cô từ thuở ghi kỷ niệm trên trang giấy. Anh mang theo nỗi
thương nhớ cô gái. Cô gái cho rằng hai người xa nhau vì không có
duyên nợ với nhau ("Người ôm thương nhớ ra đi từ đấy/ Trời đày hai đứa vì thiếu tơ duyên.")
Qua câu "trời đày hai đứa," tác giả ngụ ý chuyện tình hai
người không được suông sẻ và phải xa nhau. Ngoài ra, tác giả
chuẩn bị nhắc đến tích Ngưu Lang - Chức Nữ bị trời đày xuống
trần, đề cập trong câu sau.
Khi thời gian trôi qua, cuộc đời có nhiều thay đổi như rừng thay
lá, chuyện tình hai người không được yên ổn. Lúc trước hai
người thương yêu làm chi để bây giờ không được nên duyên ("Rừng còn thay lá tình vẫn chưa yên/Thương chi cho lắm giờ cũng xa nhau.")
Sự thay đổi của cuộc đời có thể do việc chàng trai đi xa, cô
gái đi lấy chồng, hoặc bất cứ chuyện gì ảnh hưởng đến tình
trạng sống của hai người. Nhưng những sự thay đổi hoặc thời
gian trôi qua này không làm thay đổi tình yêu của hai người.
Thời gian là yếu tố quan trọng cho sự thay đổi trong cuộc đời.
Có nhiều thi sĩ và nhạc sĩ khai thác cảnh rừng thay lá để
diễn tả thời gian trôi qua và/hoặc sự thay đổi thời tiết. Thí
dụ, câu "Anh đi rừng chưa thay lá/ Em về, rừng lá thay chưa?"
trong ca khúc "Rừng Chưa Thay Lá" do nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ nhạc
qua bài thơ "Rừng Lá Thay Chưa" của Hoàng Ngọc Ẩn. "Rừng xưa
thức giấc, lá rung rinh như còn ngỡ ngàng/Bầy chim thờ thẫn, im tiếng
nghe rừng xưa thay lá/ Rừng thay lá úa, lá úa rơi/Hay linh hồn lá xanh
rơi?/ . . . Rừng xưa thức giấc, lá ươm xanh, không còn hoang tàn. . .
Rừng xưa thay lá, lá xinh tươi" trong ca khúc "Rừng Thay Lá" do
nhạc sĩ Châu Kỳ viết. Nhóm chữ "rừng thay lá" cũng được nhiều
thi sĩ dùng để diễn tả thời gian trôi qua và những thay đổi
trong cuộc đời hoặc tình người. Thí dụ, "Từ độ rừng thu thay sắc lá/ Bao mùa thu qua chở hẹn hò"
trong bài thơ "Rừng Thu Thay Lá" của Miên Thụy. Trong ca khúc "Thu
Sầu," Lam Phương nhắc đến sự thay đổi qua cách dùng ẩn dụ rừng
thay lá, nhưng không nói rõ lý do tại sao hai người xa nhau.
ĐK nhắc đến tích xưa Ngưu Lang Chức Nữ và cho thấy nghịch lý
của cuộc tình ngang trái. Người tình trở về từ nơi xa xôi ngàn
dặm mang theo nỗi buồn. Cuộc hội ngộ hai người như cuộc gặp
gỡ mỗi năm một lần của Ngưu Lang - Chức Nữ qua cầu ô thước. Hai
người thương nhớ nhau nhưng lại không gặp nhau mà hẹn gặp nhau
trong thời gian không xác định, có thể sẽ không gặp nhau nữa ("Người từ ngàn dặm về mang nỗi sầu/ Nhịp cầu ô thước hẹn đến mai sau/ Ngày dài nhung nhớ mình cũng như nhau.")
Ta không rõ bối cảnh của sự trở về của người tình như thế
nào. Nhưng chuyện đó không quan trọng. Có thể chuyến trở về
chỉ là tình cờ hoặc không có ý định gặp lại người yêu cũ.
Có thể qua những mối liên hệ khác (bạn bè, gia đình) mà cô
gái biết được tin cố nhân trở về sau thời gian xa cách lâu năm.
Tuy không dùng "Ngưu Lang Chức Nữ," bài hát nhắc đến tích này hai lần qua "trời đày hai đứa" và "nhịp cầu ô thước."
Tích Ngưu Lang - Chức Nữ dựa vào câu chuyện dân gian lâu đời ở
bên Tàu kể chuyện tình giữa cô gái dệt vải Chức Nữ và anh
chăn bò (hoặc chăn trâu theo Việt Nam) Ngưu Lang là tiên và thần
trên trời (Wikipedia 2015a). Vì phạm tội do yêu nhau, hai người bị
Trời đày xuống trần thế và ở cách xa nhau hai bên đầu sông
Ngân (dải Ngân Hà). Mỗi năm hai người chỉ được gặp nhau một
lần vào ngày 7 tháng 7 âm lịch (ngày Thất tịch). Khi gặp nhau,
họ đi trên cầu được tạo bởi đàn quạ (crow, ô) và chim khách
(magpie, thước). Cầu ô thước, do đó, chỉ chiếc cầu hai người đi
qua sông để gặp nhau vào ngày Thất tịch.
Chuyện tình Ngưu Lang Chức Nữ thực ra cũng chẳng có gì ly kỳ
lắm. Có nhiều phiên bản thêm mắm thêm muối cho có nhiều chi
tiết hấp dẫn, nhưng tựu trung, mối tình hai người cũng như mọi
mối tình dang dở khác. Cái tình tiết khiến cho câu chuyện Ngưu
Lang Chức Nữ được lưu truyền lâu dài có lẽ ở khía cạnh hai
người chỉ được gặp nhau một năm một lần. Có cái gì kỳ bí và
lãng mạn trong việc gặp nhau mỗi năm một lần này. Câu chuyện
Ngưu Lang Chức Nữ không có kết thúc, nhưng ta có thể hiểu là
họ yêu nhau mãi mãi và không có việc xa mặt cách lòng. Có thể
vì mối tình bền bỉ đó mà ngày 7 tháng 7 âm lịch được coi là
ngày Tình Yêu ở bên Tàu, tương đương với Valentine Day ở các xứ
Tây phương. Một khía cạnh đặc sắc khác của chuyện tình Ngưu
Lang Chức Nữ là khía cạnh thiên văn của câu chuyện. Ngưu Lang
là sao Altair, ngôi sao sáng nhất trong chòm sao (constellation)
Aquila. Chức Nữ là sao Vega, ngôi sao sáng nhất trong chòm sao
Lyra. Cầu ô thước được đặt trên sao Deneb, là ngôi sao sáng nhất
trong chòm sao Cygnus. Sông Ngân là dải Ngân Hà (Milky Way). Ba ngôi
sao Altair, Vega, và Deneb là đỉnh của tam giác gọi là Tam Giác
Mùa Hè (Summer Triangle) (Wikipedia 2015b). Tuy khía cạnh thiên văn
này rất hứng thú, không phải ai cũng biết chuyện Ngưu Lang
Chức Nữ tương ứng với ba ngôi sao Altair, Vega, và Deneb. Hầu hết
tích Ngưu Lang Chức Nữ được dùng để nhắc đến việc hai người
tình xa cách nhau và chỉ gặp nhau sau thời gian xa nhau. Lam
Phương đem lại một khía cạnh bí ẩn và lãng mạn cho cuộc tình
qua hai lần nhắc nhở tích Ngưu Lang Chức Nữ.
Nỗi buồn cho chuyện tình hai người thật là sâu đậm và nhiều như sao trên trời hoặc lá trong rừng ("Trên cao bao vì sao sáng/ Rừng vắng có bao lá vàng/ Là bấy nhiêu sầu.") Câu này theo ngay sau hai câu "Nhịp cầu ô thước hẹn đến mai sau/ Ngày dài nhung nhớ mình cũng như nhau"
cho thấy cô gái muốn diễn tả tình trạng khó xử của cô trong
cuộc tình. Cô và người tình vẫn còn thương yêu nhau, và người
tình trở về, có thể muốn gặp lại cô. Tuy nhiên, vì lý do nào
đó như sẽ được thảo luận sau, cô không muốn gặp lại anh mà chỉ
"hẹn đến mai sau" và cô phải chấp nhận nỗi sầu não to tát cho quyết định này.
PK3 bày tỏ ước mơ thầm kín cho cuộc tình và hé lộ ra lý do
tại sao cô gái không muốn gặp lại người tình cũ. Lúc người
tình ra đi, hoa lá tàn úa theo mùa nhung nhớ. Khi người tình
trở về, mối tình vẫn lặng lẽ cô đơn, không có sự xum họp vui
tươi ("Người đi hoa lá chết theo mùa nhớ/ Người về lặng lẽ tình vẫn bơ vơ.") Câu "hoa lá chết theo mùa nhớ"
cho thấy mùa nhớ đó là mùa thu. Mùa thu ngự trị mối tình hai
người ngay từ lúc xa cách lúc trước đó. Ngay cả lúc người
tình trở về, chiều mùa thu làm buồn nát con tim và cuộc tình
vẫn lặng lẽ bơ vơ.
Chẳng thà hai người không nên gặp nhau thì hơn, và ấp ủ chôn
kín ước vọng xa nhau để quên đi cuộc tình thương đau này ("Thà rằng chôn kín mộng ước xa nhau/ Quên đi cho hết một kiếp thương đau.") Câu "mộng ước xa nhau"
có vẻ hơi lạ lùng vì người nghe nghĩ rằng cô gái phải thầm
mơ ước sống bên nhau với người tình. Có vài phiên bản ghi "mộng ước bên nhau" để diễn tả ý tưởng này. Tuy nhiên, lời bài hát trong tờ nhạc gốc ghi rõ "xa nhau," và "mộng ước xa nhau" có ý nghĩa hay và sâu sắc hơn nhiều "mộng ước bên nhau" như được trỉnh bày sau đây.
Tại sao cô gái có ước mơ thầm kín xa nhau?
Lam Phương không cho biết lý do hai người xa nhau hoặc chuyện gì
cản trở cuộc tình hai người. Chuyện đó thực ra không quan
trọng, và có lẽ Lam Phương cố tình không cho biết rõ rệt lý do
để tạo nét bí ẩn và làm tăng giá trị cuộc tình như được
trình bày sau đây.
2. Sự mơ hồ cho người tâm sự bày tỏ tình yêu cao thượng
không muốn gặp lại người tình cũ và muốn quên đi mối tình đau
thương:
Một bài hát có những chi tiết đặc thù lôi cuốn người nghe, cho
dù người nghe không có cùng kinh nghiệm đặc thù đó. Lam Phương
viết nhiều tình khúc với những chi tiết rõ rệt và đặc thù.
Thí dụ, ca khúc "Thành Phố Buồn" nói đến mối tình hai người
trong khung cảnh nhà thờ ("Quỳ bên em trong góc giáo đường") và cuộc tình đổ vỡ vì hai người cách xa và mối tình trở nên nhạt nhòa, và sau đó cô gái lấy chồng ("Em làm dâu nhà người"). Trong ca khúc "Tình Bơ Vơ," cô gái đi ra nước ngoài xa người yêu ("Em khóc cho đời viễn xứ") và khiến cuộc tình tắt dần vì cô gái quên người yêu ("Một phút tim em ơ hờ").
Trong "Tình Nghĩa Đôi Mình Chỉ Thế Thôi," hai người không nói cho
nhau tình cảm của mình dành cho người kia và đưa đến chuyện tan
vỡ ("Tại em không nói, hay tại anh không biết/ Để tình ta tan vỡ theo thời gian").
Tuy nhiên không phải lúc nào rõ rệt và đặc thù mới hay. Một
lý do khiến thi ca có giá trị là sự mơ hồ, không rõ rệt. "Khi
thơ nói cho biết hết, nhiều khi thơ không còn là thơ nữa" (Singh,
309, ghi chú 15). Trong thi ca, "ta nên cảnh giác không tránh mơ
hồ mà nên hiểu nó" (Sutherland 2007, 181). Giá trị của một tác
phẩm nghệ thuật không nhất thiết là ở chỗ khán giả hiểu được
ý của tác giả, mà còn có thể ở chỗ khán giả tự diễn giải
tác phẩm theo ý mình như được khuyến khích bởi tác giả. "Sự
kiện có nhiều cách dùng và diễn giải hiện hữu cho thấy một
khía cạnh quan trọng của âm nhạc: nó dùng là diễn đàn cho
tranh luận công cộng về cách cư xử, đạo đức, chính trị, và
thay đổi xã hội" (History Matters). Do đó, có lúc tác giả cố
tình tạo ra sự mơ hồ để khán giả tùy nghi diễn giải và
thưởng thức tác phẩm qua diễn giải của chính mình. Ngoài ra,
có những diễn giải không cần phải nói ra rõ rệt, mà ngầm
hiểu để làm tăng giá trị nghệ thuật. Viết lời lẽ mơ hồ để
khán giả hiểu được là chuyện khó và không phải ai cũng có
thể làm được.
Nhưng Lam Phương làm được chuyện đó, và không những thế, còn
làm được một cách hữu hiệu. Như tôi đã viết nhiều lần trong
các bài trước, một nhạc sĩ, thi sĩ, văn sĩ, họa sĩ hoặc bất
cứ một nghệ sĩ nào, nhiều khi không ý thức sự tài tình của
việc mình làm trong công trình nghệ thuật mình. Đó là vì tài
năng thường được tiềm tàng hoặc phát triển qua thời gian một
cách không ý thức. Nhiều khi, chính tác gỉả một tác phẩ̀m
nghệ thuật ngạc nhiên khi có người vạch ra những nét độc đáo
hoặc kỹ thuật tài tình của mình. Ở đây, một lần nữa, Lam
Phương biểu lộ khả năng khác thường trong việc dùng sự mơ hồ
về câu chuyện để tạo giá trị nghệ thuật cho bài hát.
Ông dùng những diễn tả rõ rệt và đặc thù của cảnh tượng như
thể để che giấu hoặc hóa trang sự mơ hồ về câu chuyện và
khiến khán giả quên đi hoặc không thấy cần thiết để biết chi
tiết rõ rệt nữa. Những chi tiết đặc thù về mùa thu thưa nắng,
rừng thay lá, và tích Ngưu Lang Chức Nữ đủ giữ khán giả bận
rộn để họ không thắc mắc về các tình tiết về cuộc tình. Tuy
nhiên, khán giả thấu hiểu nỗi buồn của cô gái khi người tình
trở lại mà vẫn thấy tình bơ vơ. Bài hát cho thấy hai người
vẫn còn yêu nhau ("Ngày dài nhung nhớ mình cũng như nhau").
Nhưng tại sao tác giả không muốn cho biết rõ lý do của sự trắc
trở? Ta thấy chi tiết đó không quan trọng, và nhiều khi biết
rõ lý do còn làm tầm thường hóa mối tình hai người. Đây là
một trong nhiều trường hợp mà mơ hồ làm tăng giá trị của câu
chuyện.
Đặc biệt, câu "Thà rằng chôn kín mộng ước xa nhau" bộc lộ
nỗi xót xa của cuộc tình. Tuy yêu nhau, hai người biết rõ là
họ không thể nên duyên vợ chồng, và do đó, những gần gũi vật
chất đều không nên, vì có thể tạo ra những tội lỗi, tai tiếng,
hoặc lầm lỡ. Vì vậy, cô gái có mơ ước thầm kín là xa nhau,
vì gặp nhau làm chi khi họ không thể ở bên nhau?
Đó là nét đặc sắc của ca khúc "Thu Sầu": lòng cao thượng trong
cuộc tình. Cô gái tuy vẫn còn yêu người tình cũ, nhưng cô không
muốn gặp lại anh, và mong muốn hai người xa nhau để cô quên hẳn
anh. Tuy ta không biết chính xác lý do tại sao hai người không
được nên duyên vợ chồng, ta có thể suy đoán hai lý do căn bản.
Lý do thứ nhất là một hoặc cả hai đều đã lập gia đình. Với
lý do này, chuyện tình của hai người phải chấm dứt để tránh
phá vỡ hạnh phúc gia đình. Lý do thứ nhì là có những cản
trở khắc nghiệt khiến họ không thể lấy nhau: gia đình cấm
đoán, khác biệt tôn giáo, bệnh tật hiểm nghèo, và các lý do
mạnh mẽ khác. Với lý do này, giá đổi lại cho việc hai người
được ở bên nhau quá cao, và tạo đau khổ trong tương lai hoặc cho
những người khác, và do đó hạnh phúc bên nhau của họ cũng
không còn được toàn vẹn nữa.
Quyết định không gặp lại nhau và ước mơ xa nhau là một quyết
định cao thượng. Cô gái gạt bỏ tình yêu vị kỷ và chấp nhận
nỗi buồn cá nhân để không tạo ra tan vỡ hoặc đau khổ cho người
khác.
Tóm lại, "Thu Sầu" nói lên nỗi buồn xót xa của người trong
cuộc tình không được nên duyên, và chỉ có dịp hội ngộ sau
khoảng thời gian xa nhau lâu năm. Nhưng họ không muốn gặp nhau và
muốn quên đi cuộc tình đau thương. Cuộc tình có đoạn kết cho
thấy lòng cao thượng của người trong cuộc (cô gái) khi người đó
gạt bỏ mối tình vị kỷ và muốn quên đi người tình vì không
muốn tạo thêm nghịch cảnh hoặc đau khổ cho người khác.
Lam Phương áp dụng kỹ thuật mỹ từ hóa vào những chữ đơn giản
không trau chuốt thật tài tình khiến cho hình ảnh trở nên linh
động. Cách dùng ẩn dụ tuyệt vời như "tà áo trinh nguyên" mô tả sự trong trắng hồn nhiên của tuổi học trò, "rừng còn thay lá" cho sự thay đổi trong cuộc đời, "hoa lá chết" cho nỗi đau đớn tuyệt vọng, "chôn kín"
cho sự ấp ủ bí mật. Một nét độc đáo khác trong "Thu Sầu" là
cách dùng các điển xưa tích cũ như ẩn dụ để diễn tả ý
tưởng như chuyện tơ duyên do tích ông tơ bà nguyệt, trời đày và
cầu ô thước do tích Ngưu Lang Chức Nữ ("Trời đày hai đứa vì thiếu tơ duyên . . . Nhịp cầu ô thước hẹn đến mai sau.") (Xem, thí dụ như, Wikipedia 2015b; 2015c). Những điển tích này làm tăng mức phong phú của cách diễn tả.
Đặc biệt, cách dùng so sánh ví von rất độc đáo: mức độ to
tát của nỗi buồn, một mức độ không đếm được (uncountable),
được ví von qua số lượng đếm được (countable) của sao trên trời
hoặc lá rụng trong rừng ("Trên cao bao vì sao sáng/ Rừng vắng có bao lá vàng/ Là bấy nhiêu sầu").
Tiếng Việt có sự mơ hồ về danh từ đếm được và không đếm
được, nhất là khi nói đến số lượng. Tiếng Việt dùng "bao
nhiêu," "bấy nhiêu," "nhiều," "ít" cho cả danh từ đếm được và
không đếm được, trong khi tiếng Anh phân biệt rõ ràng "much/
little" cho không đếm được và "many/ few" cho đếm được. Vì không
có sự phân biệt rõ rệt này trong tiếng Việt, cách dùng mỹ từ
so sánh hoặc ví von (simile) có thể dùng danh từ đếm được để
ví von với danh từ không ̣đếm được như Lam Phương đã làm. Tuy
nhiên, nếu không biết khéo dùng, sự ví von có thể trở nên vụng
về và khập khiễng. Thí dụ, "Niềm vui đến ồ ạt như cát trên
sa mạc," "Tình yêu của nàng dành cho hắn ít oi như chùa Bà
Đanh" là những câu dùng ví von một cách vụng về.
Kết Luận:
Ca khúc "Thu Sầu" là lời tâm sự của một người trong mùa thu
mang đến nỗi buồn của cuộc tình dang dở. Lời tâm sự bộc lộ
nỗi buồn cuộc tình khi hai người không được sống bên nhau và
phải chịu cảnh xa cách. Bài hát không nói rõ lý do của sự xa
cách, nhưng cái mơ hồ đó làm tăng giá trị nghệ thuật vì tạo
nên nét bí ẩn của cuộc tình và cho thấy sự cao thượng của
người tâm sự muốn quên đi người yêu cũ và mối tình đau thương
trắc trở.
Ca khúc "Thu Sầu" không có nét sôi động hoặc thảm thiết của
một chuyện tình buồn, nhưng đem lại một nỗi buồn man mác nhẹ
nhàng và tác dụng sâu đậm trong tâm hồn khán giả. Bài hát nói
lên tâm hồn đầy tình cảm lãng mạn nhưng trong sạch đạo đức
của người miền Nam trước năm 1975.
5. Singh, G. 2014. Leopardi and the Theory of Poetry. University Press of Kentucky, Lexington, Kentucky, U.S.A.
6. Sutherland, Keston. 2007. Vagueness, Poetry, trong "Contemporary Poetics," by Louis Armand, Editor, Northwestern University Press, Evanston, Illinois, U.S.A., pp. 175-184.
Nhiều người đọc cái tít, nghe cái tiếng nói thường nhật của dân dã đã
vội phán ngay khỏi suy nghĩ về cái nguyên căn chiều sâu của văn học và
ngôn ngữ dân gian. Quả vậy, quê l... thì cứ nói là quê l... có chi đâu
là xấu, là tục? Văn vẻ cao sang xa vời làm chi cho nó thêm rắc rối khó
hiểu, chẳng hạn như: "Quê cái động hoa vàng", "quê cái mả cha", quê
chim, quê bướm... Động hoa vàng, mả cha, chim bướm có mắc mớ gì tới cái
"triệu năm văn vật" xưa như trái đất, xưa như từ thuở hành tinh này có
xuất hiện những loài sinh vật cái có... lờ?.
Nói thiệt cho "tình hình rất thiệt" nha, dạo này lũ Ba Đình đang bận rộn
bày vẽ đòi nghiêm trị, trừng phạt khi nghe, khi thấy những ai ăn nói
theo kiểu chân thật dân dã, nghĩa là "có sao nói vậy người ơi" mà họ đã
quên mẹ nó rằng chính bọn họ mới là nguyên nhân gây ra cảnh quê mùa dốt
nát, ăn tục nói phét theo kiểu đầu đường xó chợ, láu tôm láu cá theo
kiểu đấu tố "Cải Cách Ruộng Đất", "Nhân Văn Giai Phẩm" mà hệ quả của nó
đã ảnh hưởng và kéo dài sự di hại vô luân vô lý cho đến ngày hôm nay qua
sách lược 'Trăm năm trồng người" của tên điếm đàng hoàn hảo Hồ Chí
Minh.
Chửi cộng sản hoài thì ta cũng chán mà nó cũng chán, cho nên lâu lâu
tưởng cũng nên khen chúng một vài phát cho chúng "phấn khởi", vã lại
cũng để cho có công bằng. Nhìn sự thể ở một góc độ nào đó, nếu so sánh
cách sử dụng ngôn từ ở trong nước hiện về mặt văn hóa dân gian với văn
hóa toàn trị, tư tưởng của độc đảng thì chúng ta sẽ thấy rằng có sự
trùng hợp lô-gic. Và nếu số người nào đó (kể cả những người cộng sản mà
đa số là ít học) cho rằng "sự thể" này là đúng thì tại sao họ lại mâu
thuẫn với cái gốc của họ là bần cố nông, vô sản thất học cùng quan niệm
"Hồng hơn Chuyên"? Sự mâu thuẫn ấy là: Trừng phạt và nghiêm cấm những
người "ăn tục nói phét" mà tiêu biểu là: "Bún mắng cháo chửi" ở Hà Nội sắp bị sờ gáy?" Đăng ở cơ quan truyền thông nhà nước, báo Pháp Luật (*).
Hơn 70 năm cho miền Bắc, 40 năm cho cả nước, có biết bao bài viết, lời
khuyên, lời đề bạt, kiến nghị... với vô vàn lời lẽ đường hoàng, cao xa,
sâu sắc, thâm thúy... nhưng người cộng sản có bao giờ nghe và có bao giờ
hiểu bởi đầu óc vốn dĩ của họ. Nhưng hiện tượng tục tĩu với tính đặc
trưng "dân dã" đã khiến cho bọn văn hóa Ba Đình cảm thấy bực bội và khó
chịu bởi họ phải chịu trách nhiệm về cái xã hội mà họ đang cai trị và tự
cảm thấy rất quê... lờ thì cũng đủ chứng minh cho mọi người thấy rằng
sự thô tục của một xã hội dưới trào cộng sản đã đến mức độ quá đáng,
vượt cả sự giới hạn.
Ngạn ngữ phương Tây: "Like father, like son" hay "The apple never falls far from the tree", còn Việt Nam ta thì: "Cha nào con nấy", "Hổ phụ sinh hổ tử" là
hoàn toàn không sai, cho nên ĐCSVN hãy tự nhận lấy trách nhiệm của
chính mình về việc đã hủy hoại cả nền đạo lý của dân tộc và đảng CSVN
chớ bao giờ quên lời dạy quí giá của người xưa: "Tiên trách kỷ hậu trách nhân".
Chỉ trong khoảng thời gian ngắn từ hai năm trở lại đây, những chuyến
đi ngoại giao dồn dập của các giới chức Hoa Kỳ, Việt Nam và Trung Cộng
gây nhiều suy đoán về mối bang giao tay ba nầy, nhất là sự liên quan của
Mỹ trong chiến thuật Xoay Trục sang Châu Á. Sau đây là vài ghi nhận của
một số quan sát viên lưu tâm đến vấn đề Mỹ, Trung Cộng và Việt Nam.
1- Chuyến đi Mỹ của Phạm Quang Nghị
Trong năm 2014 báo chí đã ồn ào bàn tán về chuyến đi Mỹ của Phạm Quang
Nghị với tư cách Ủy viên Bộ Chính Trị, Bí Thư Thành Ủy Hà Nội, trong khi
Phạm Bình Minh đang chuẩn bị sang Mỹ để hội đàm với ngoại trưởng Kerry
theo lời mời. Nhưng bất ngờ Bộ Chính Trị “chặn” Phạm Bình Minh lại và
đưa Phạm Quang Nghị đi Mỹ, ông Phạm Quang Nghị đã gặp một số giới chức
cao cấp và chính khách Mỹ như Thứ trưởng Ngoại giao đặc trách các vấn đề
chính trị Wendy Sherman, ông Thomas Shannon, cố vấn của Bộ trưởng Ngoại
giao Mỹ John Kerry, Phó Cố vấn An ninh Quốc gia của Tổng Thống Obama
Tony Blinken, kể cả quyền Chủ Tịch Thượng Viện Patrick Leahy, và Thượng
nghị sĩ John McCain. Nhưng ngoại trưởng Kerry từ chối tiếp đón ông
Nghị.
Chuyến đi có thể mang theo thông điệp của người lãnh đạo đảng cộng sản
Việt Nam về vị trí của ông Nghị. Đương kim Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
muốn cho chính quyền Mỹ thấy ông Phạm Quang Nghị là một ứng cử viên mà
ông Trọng sẽ đề cử vào ghế Tổng Bí thư và chuyến đi cũng giúp ông Nghị
học kinh nghiệm đối ngoại và cũng để chứng tỏ năng lực của ông khi tranh
chức vụ Tổng Bí Thư đảng.
Phạm Quang Nghị, một người thuộc phe Nguyễn Phú Trọng, thân Trung Cộng,
được cử đi Mỹ thay Phạm Bình Minh cũng có tác dụng như một liều thuốc an
thần cho Trung Cộng. Tín hiệu này cho thấy phe bảo thủ trong đảng có vẻ
muốn chủ động và trực tiếp hơn trong quan hệ với Mỹ.
Giáo sư Thayer cho rằng Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tỏ thái
độ nhân nhượng Trung Cộng quá mức khi không đáp ứng lời mời của Ngoại
trưởng Mỹ dành cho ông Phạm Bình Minh.
Báo chí Việt Nam tường thuật rằng tại các cuộc gặp gỡ với các giới chức
cao cấp của Mỹ, ông Nghị yêu cầu Hoa Kỳ mở rộng thị trường cho các hàng
hóa do Việt Nam sản xuất, hạ các rào cản thương mại, khuyến khích đầu tư
vào Việt Nam và thừa nhận nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế thị
trường.
Món
quà lạ lùng mà ông Nghị “tặng” cho Thượng Nghị Sĩ John McCain, được coi
là một sự lố bịch ngoại giao. Hai tấm ảnh chụp bia kỷ niệm chỗ bắn rơi
máy bay của ông McCain, bia khắc ông McCain đang quỳ gối giơ tay đầu
hàng và có dòng chữ “NGÀY 26 10 1967 TẠI HỒ TRÚC BẠCH QUÂN VÀ DÂN THỦ ĐÔ
HÀ NỘI BẮT SỐNG TÊN JOHN SNEY MA CAN THIẾU TÁ KHÔNG QUÂN MỸ LÁI CHIẾC
MÁY A4 BỊ BẮN RƠI TẠI NHÀ MÁY ĐIỆN YÊN PHÚ. ĐÂY LÀ MỘT TRONG 12 CHIẾC
MÁY BAY BỊ BẮN RƠI CÙNG NGÀY” .
Một món quà quái gở mà chưa có quốc gia văn minh nào tặng cho chủ nhà
khi đến viếng, ngoại trừ người cộng sản Việt Nam. Món quà của người tiền
văn minh! Cộng thêm sự kém cỏi về ngoại giao khi viết sai tên người
nhận và vô lễ khi dùng từ “tên john sney”.
2- Chuyến đi Tàu của Phạm Bình Minh
Ông Phạm Bình Minh, con trai của cựu Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ
Thạch, trước đây đã phản đối Hội nghị Thành Đô bán nước cho TC và đã cay
đắng thốt lên: “thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã khởi sự...”.
Nhận lời mời của Ủy viên Quốc vụ viện Trung Cộng, ông Dương Khiết Trì,
Phó Thủ Tướng kiêm Ngoại Trưởng CSVN, ông Phạm Bình Minh đã tới Bắc
Kinh, tham dự phiên họp lần thứ 8 Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương
Việt Nam Trung Cộng ngày 17-19/6. Theo truyền thông trong nước, hai bên
đã trao đổi về vấn đề trên biển, nhấn mạnh cần tuân thủ thỏa thuận về
những nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam – Trung Cộng,
đàm phán và tìm kiếm giải pháp mà hai bên có thể chấp nhận được, cùng
kiểm soát bất đồng trên biển. Hai bên cũng đồng ý thực hiện đầy đủ bản
Tuyên Bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ Quy
Tắc Ứng Xử ở Biển Đông (COC) ; không có hành động làm phức tạp thêm, mở
rộng tranh chấp, duy trì quan hệ hai nước và hòa bình, ổn định ở Biển
Đông.
Buổi chiều ngày 18/6/2015, tại Đại Lễ Đường Nhân Dân, ông Phạm Bình Minh
đã tiếp xúc với Thủ tướng Trung Cộng, ông Lý Khắc Cường. Vẫn theo
truyền thông trong nước, hai bên tiếp tục đồng ý kiểm soát tốt bất đồng ở
Biển Đông, không làm phức tạp tình hình trên biển, giải quyết bất đồng
trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982.
Cùng ngày, ông Phạm Bình Minh đã gặp mặt Ngoại trưởng Trung Cộng, ông
Vương Nghị.
Tức khắc ngay sau khi ký kết, nhiều tàu cá của Việt Nam ra khơi đánh bắt
tại ngư trường truyền thống trên quần đảo Hoàng Sa, liên tiếp bị tàu
của Trung Cộng đâm, cướp tài sản, ngư cụ, toàn bộ số hải sản đánh bắt
được và hành xử thô bạo với ngư dân Việt Nam.
Hình ngư dân bị đánh đập đến mang thương tích.
Ông Phạm Bình Minh ký các bản cam kết có hại cho VN theo lệnh của Ủy Ban
Chỉ Đạo Hợp Tác Song Phương mà thực chất là VN thực hiện gần như vô
điều kiện mọi yêu cầu của Trung Cộng.
Trong việc xây dựng, bồi cơi những bãi san hô, bãi đá ngầm, Trung Cộng
tuyên bố việc xây dựng nhằm mục đích tuân thủ trách nghiệm và nghĩa vụ
quốc tế bằng cách cung cấp các cơ sở mới để hỗ trợ, tìm kiếm và cứu nạn
trên biển, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, nghiên cứu khoa học hải
dương, quan sát khí tượng học, bảo vệ môi trường, an ninh hàng hải, dịch
vụ sản xuất ngư nghiệp và các lĩnh vực khác. Đó là hành động thật, với
giọng điệu giả mà Trung Cộng luôn lập lại trong bang giao quốc tế..
Trung Cộng lo rằng vì chuyện Biển Đông, Việt Nam rất có thể hoàn toàn
ngã theo Mỹ. Trong khi đó Hoa Kỳ cũng đang có những ủng hộ nhất định đối
với Việt Nam ở Biển Đông. Về lâu dài mong muốn Việt Nam trở thành mắt
xích quan trọng trong chiến lược tái cân bằng châu Á. (Đa Chiều).
Trung Cộng cũng muốn Việt Nam không lên tiếng trước những vi phạm luật
quốc tế của họ ở Biển Đông để cô lập Philippines. Do đó Bắc Kinh thường
truyền đạt thông điệp, chủ trương của họ về Biển Đông thông qua các kỳ
họp của Ủy Ban Chỉ Đạo Quan Hệ Hợp Tác Việt Nam và Trung Cộng.
Ông Phạm Bình Minh đã ký bản Cam Kết không có hành động làm phức tạp, mở
rộng tranh chấp, duy trì quan hệ hai nước và giữ hòa bình, ổn định ở
biển Đông, thỏa thuận những nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển giữa
VN TC, đàm phán và tìm kiếm giải pháp mà hai bên có thể chấp nhận được,
cùng kiểm soát bất đồng trên biển. Ông gián tiếp hợp thức hoá những hành
động ngang ngược mà Trung Cộng đã làm.
3- Chuyến đi Mỹ sắp tới của Nguyễn Phú Trọng
Tin tức từ trang mạng điện tử cho biết Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt
Nam Nguyễn Phú Trọng sắp đi Mỹ với lời hứa hẹn là sẽ được Tổng thống
Barack Obama đón tiếp theo nghi thức cao nhất dành cho các nguyên thủ.
Ông
Trọng phải diện kiến Tập Cận Bình từ 7 đến 10/4 năm 2015 trước khi đi
Mỹ hội kiến với Tổng Thống Obama Hoa Kỳ từ 7-9/7/2015. Chuyến viếng thăm
TC của ông Trọng hứa hẹn gìn giữ mối quan hệ song phương sẽ tiếp tục
tốt đẹp trên căn bản 4 tốt và 16 chữ vàng. Trung Cộng có lẽ sẽ gây áp
lực để Việt Nam không tiến hành các hành động pháp lý về tranh chấp trên
biển Đông, và không tiến quá gần Hoa Kỳ và có thể chỉ thị cho Việt Nam
giới hạn việc tiếp nhận vũ khí từ Hoa Kỳ.
Phe lợi ích của Nguyễn Tấn Dũng có lúc đưa ra những tuyên bố gây ấn
tượng về dân chủ và pháp quyền, về luật phạt tù những kẻ ngăn cản tự do
ngôn luận, về thí điểm diễn đàn trí thức phản biện. Nhưng kể từ sau
chuyến viếng thăm Bắc Kinh của Nguyễn Phú Trọng gió đã đổi chiều. Có lẽ
ông Trọng đã được ông Tập hứa hẹn điều gì đó, chỉ bảo hướng đi trong đaị
hội đảng lần thứ 12 sắp đến.
Có thể ông Tập đã hà hơi cho ông Trọng là phải nâng cao uy tín, giữ vững
nhóm thân Bắc Kinh để tiếp tục khống chế Việt Nam, nắm vững VN trong
chiến lược Biển Đông của Mỹ.
Nhiều người nghĩ rằng việc ông Nguyễn Phú Trọng chỉ dám nhận lời thăm Mỹ
sau khi thăm Trung Cộng. Ông cũng có thể đã nhận lệnh của Bắc Kinh, sau
khi họ Tập đã tính toán kỹ kịch bản, đường đi nước bước để biến ông
Trọng thành một con bài có lợi trong cuộc bang giao với Mỹ và cũng để dễ
bề biến Việt Nam thành chư hầu của Trung Cộng.
Về phía Hoa Kỳ, Tổng thống Mỹ Obama bày tỏ mong muốn làm sâu sắc hơn nữa
quan hệ với Việt Nam, nhấn mạnh quan hệ đối tác toàn diện Việt - Mỹ
được thiết lập năm 2013 đã tạo ra khuôn khổ cho việc thúc đẩy hơn nữa
quan hệ song phương, đặc biệt trong các lĩnh vực kinh tế, an ninh, năng
lực hàng hải, biến đổi khí hậu và môi trường, giáo dục và quyền con
người.
Việt - Mỹ sẽ tiếp tục thúc đẩy khai triển hiệu quả hơn nữa chín lĩnh vực
ưu tiên của quan hệ đối tác toàn diện, từ chính trị đến kinh tế, quốc
phòng, an ninh, khoa học, công nghệ, giáo dục, giao lưu nhân dân và các
vấn đề khác. Về hợp tác đa phương, hai bên chia xẻ những lợi ích chiến
lược trong việc thúc đẩy xây dựng cộng đồng ASEAN và củng cố vai trò
trung tâm của ASEAN trong các cấu trúc khu vực đang định hình, đồng thời
tiếp tục hợp tác trong các diễn đàn khu vực cấp cao Đông Á (EAS), Diễn
Đàn Hợp Tác Kinh Tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn Đàn Khu Vực
ASEAN (ARF).
Những người lạc quan cho rằng đây là một cơ hội lớn để ông Trọng rửa tiếng nhơ bán nước cho Trung Cộng để giữ quyền lực.
Nếu ông Trọng không nhân dịp này mà lập công chuộc tội với nhân dân VN,
liên minh thực sự với Mỹ để bảo vệ và phát triển đất nước, giải tán đảng
cộng sản VN, thiết lập thể chế dân chủ tự do, tôn trọng nhân quyền,
chinh trị đa nguyên thì tội “cõng rắn về cắn gà nhà” của ông và giới cầm
quyền tham nhũng VN thật ngàn năm khôn rửa.
Nguyễn Phú Trọng có cái may mắn của lịch sử để thực hiện sứ mạng này, và
cũng là cơ hội để ông có thế chuộc lại những lỗi lầm cực kỳ to lớn,
nguy hiểm do những người tiền nhiệm và cả chính ông gây ra cho dân tộc.
Hai chuyến đi của Tổng Bí Thư Trọng có thể sẽ thiết lập cơ sở để đảng
CSVN đóng vai trò quyết định trong các quan hệ quốc tế trong 5 năm tới
sau cuộc bầu cử của đảng lần thứ 12 vào đầu năm 2016.
Theo nhận định của nhà văn Võ Thị Hảo thì hành trang Mỹ du của ông Trọng
là một chiếc va li trong đó cuộn tròn một con rắn Trung Cộng.
Đúng 0 giờ ngày 2/7/2015, báo Tuổi Trẻ
dẫn nguồn tin từ ban bảo vệ và chăm sóc sức khỏe trung ương cho biết,
bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh "đã đi Pháp để trị bệnh cách đây
một tuần".
Như vậy, sau 12 ngày hoàn toàn "mất tích", đây là lần đầu tiên một cơ
quan của đảng chính thức lên tiếng về sự vắng mặt của tướng Thanh.
"Ông Thanh từng bị chấn thương vùng ngực từ thời chiến tranh, lâu dần chấn thương đó khiến một bộ phận phổi bị xơ", báo Tuổi Trẻ dẫn nguồn tin cho biết.
Cũng theo báo này, ông Thanh đã được phẫu thuật khối u ở phổi vào tối ngày 30/6/2015.
Tuy nhiên, tình trạng hồi phục sau ca mổ của ông này không được tiết lộ.
Điều khá đặc biệt là dù luôn miệng gọi Trung Cộng là "bạn vàng", nhưng
chính bản thân ông Thanh lại chọn nước Pháp chứ không dám để "bạn" Trung
Cộng chữa bệnh giúp.
Sinh mệnh chính trị của tướng Thanh
Theo dự kiến, đại tướng Phùng Quang Thanh sẽ tháp tùng tổng bí thư
Nguyễn Phú Trọng trong chuyến thăm Mỹ vào tuần tới, bắt đầu từ ngày 7
đến 9/7/2015.
Nguồn tin của BBC cho rằng, trong chuyến đi này hai bên sẽ ký kết bản
'Tuyên bố tầm nhìn chung Việt Nam - Hoa Kỳ về quan hệ quốc phòng, định
hướng hợp tác quốc phòng thời gian tới'.
Với hoàn cảnh bệnh tật như trên, khả năng tướng Thanh có thể sang Mỹ là không nhiều.
Thêm vào đó, sinh mệnh chính trị của người đứng đầu bộ quốc phòng CSVN hiện cũng đang là điều khó nói trước.
Theo như một số lời đồn đoán, nhờ được Tàu chống lưng nên đại tướng
Phùng Quang Thanh là một ứng cử viên nặng ký cho chiếc ghế tổng bí thư,
hoặc ít nhất cũng là chủ tịch nước vào năm 2016.
Dù vậy, những thông tin trên dễ khiến người ta liên tưởng đến một kịch
bản tương tự như những gì xảy đến với trưởng ban nội chính trung ương
Nguyễn Bá Thanh.
Rõ ràng, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đang đối mặt với nguy cơ chấm dứt sự nghiệp chính trị ở tuổi 66.
Câu hỏi được đặt ra: Ai sẽ lên thay tướng Thanh nắm giữ bộ quốc phòng?
Nếu nhân vật đó là thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh thì xem như Bộ Quốc
phòng CSVN đã đến hồi mạt vận.