Wednesday, July 1, 2015

Chuyện buồn của đám con sen & thằng ở

  ...Bao giờ thì ở cái nước Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc của chúng ta sẽ có Trung Tâm Hướng Dẫn Luật Pháp (Legal Education Center) và Mạng Lưới Người Nội Trợ (Domestic Worker Network) để bảo vệ quyền lợi của những người giúp việc nhà trong, cũng như ngoài nước - để họ “phải đi xin ăn từng bữa nơi đất khách”? Khi nào thì giới ô sin Việt Nam được quyền đòi hỏi nhận tiền lương tối thiểu, ngày nghỉ cuối tuần, và những ngày nghỉ lễ được về thăm nhà - như đồng nghiệp của họ ở bên Cambodia?... 

*

"Những đứa bé trai và gái bưng thức ăn cho khách vẫn là những đứa bé đã được mô tả trong tiểu thuyết Nam Cao hay Trương Tửu cách đây năm sáu thập niên, còm cõi, nhọc nhằn, cơ cực, chỉ biết cúi đầu vâng dạ và sống quen với lo âu, sợ hãi..." - Bùi Bích Hà.

Qua đến mùa mưa thứ hai ở Cambodia thì tôi đủ tự tín để nghĩ rằng: chỉ cần vài ba trăm đô la là mình có thể sống “ung dung” cả tháng ở cái xứ sở (dễ thương) này. 

Ăn sáng rẻ rề hà. Cà phê pha vợt thêm một cái bánh tiêu hay bánh quẩy chỉ 60 xu, nếu tính theo Mỹ Kim bản vị. Cháo lòng và hủ tíu thì mắc hơn chút xíu, giá cả “dao động” từ 80 xu đến 90 xu thôi. 

Cơm trưa hoặc chiều [canh chua cá (đủ loại) canh khổ qua nhồi thịt, giá xào đậu hũ, sườn ram, cá lóc nướng (cỡ cườm tay), trứng chiên, thịt heo kho tầu, mắm chưng, bò xào khóm...] đồng gía 4.000 riel, tương đương với một dollar. Thêm phần cơm trắng một quarter nữa là xong một bữa. 

Nhớ thử canh chua nấu theo kiểu Khmer nha, mấy cha. Bất cứ loại cá, hay loại rau nào mà lọt vô tay người dân xứ này là họ đều bỏ vô nồi canh chua tuốt luốt. Bởi vậy, thực khách có thể thưởng thức mười bốn tô canh chua liên tiếp trong một tuần, với mùi vị hoàn toàn khác nhau, và tô nào cũng ngon hết biết luôn. 

Chỉ có điều phải phàn nàn là khứa cá thường nhỏ xíu, và mỏng tanh hà, nhứt là cá lóc. Nói là mỏng như tờ giấy thì hơi quá đáng nhưng nói khác đi thì thiệt tình là tôi không biết nói làm sao cho đúng. Nhưng nói tóm lại thì chỉ cần một đồng rưỡi, và đừng bày đặt bia bốc hay rượu chè gì ráo, là sẽ được một bữa ăn bảo đảm là no bụng tuy hơi đạm bạc. 

Muốn cho tươm tất và bảnh bao thì phải ra khỏi những con hẻm nhỏ (“hắt hiu vàng ánh điện câu”) ở ngoại ô Phnom Penh, rồi giả dạng làm du khách, hiên ngang kêu Taxi ra trung tâm thủ đô cho nó ngon lành. 

Trên đại lộ Shihanouk có Ngon Restaurant. Không phải món nào ở đây cũng “ngon” nhưng phần lớn đều ăn được. Thử kêu một ơ cá rô kho tiêu với một tô cơm trắng coi, chắc chắn là sẽ quên đường về luôn - nhứt là khi mình (lại) chưa biết là sẽ về đâu. 

Còn muốn đổi không khí cho nó có vẻ Tây chút xíu thì ghé quán Cái Muỗm (The Spoon Restaurant) nằm trên Tchecoslovaquie Blvd. Thực khách chỗ này, ngó bộ, đều hơi snobbish. Nghe nói phần lớn họ đều là giới chức hành chánh hay quân sự cao cấp của xứ Chùa Tháp. Cả hai loại người này tôi đều rất ghét (vì cái hối lộ hay thói tham nhũng vô độ của họ) nên ghét luôn... cái quán, dù các em tiếp viên nam/nữ đều rất dễ thương và nước mắm (để ăn với cơm gà Hải Nam) ở đây ngon tuyệt. 

Có bữa, tôi và cả đám cộng tác viên - tân cũng như cựu - của RFA (ở Nam Vang) được ông Mặc Lâm mời ăn trưa tại Khmer Surin Restaurant, trên đường 57. Tiệm ăn nhiều tầng, có luôn khách sạn, rất sạch sẽ, rất đẹp đẽ và giá cả - tất nhiên - không nhân nhượng xíu nào ráo trọi. Bù lại là thức ăn không dở, với khung cảnh thiên nhiên và tình tứ. 

Từ trái: Quốc Việt, Danh Hồng, Mặc Lâm. Ảnh: Sơn Trung

Tui uống rất tiết độ, nếu uống một mình. Còn khi được “mời” (nghĩa là uống free) thì khác. Tôi uống tì tì. Đang săm soi tìm rượu, tính kiếm một chai gì đó thiệt mắc cho có cha đứt ruột chơi thì chợt nghe tiếng đám đông lào xào trong quán.

Tôi ngẩng nhìn và thấy hàng trăm thực khách, phần lớn đều là phụ nữ, mặc đồng phục, có in đậm ba chữ ILO (International Labour Organization) đang xếp hàng đi qua trước mặt. 

- Ủa, chuyện gì vậy cà?

Sơn Trung, thổ công của Phom Penh, đáp liền:

- Ồ, bữa nay là ngày hội của “domestic worker” mà anh. Hội của những người giúp việc. Chắc họ họp ở tầng trên bây giờ xuống ăn trưa đó.

- Trời, ô sin mà cũng họp hành ở khách sạn nữa sao? Em nói thiệt không vậy?

- Dạ, thiệt chớ. Đây là Phnom Penh, chớ đâu phải Sài Gòn hay Hà Nội.

Những người giúp việc nhà ở Phnom Penh 
đang dùng cơm trưa tại Khmer Surin Restaurant. Ảnh: Quốc Việt. 

Tôi bán tin bán nghi cho đến khi đọc được bản tin (“Domestic Workers Push for Protections”) của ký giả Pech Sotheary trên The Phnom Penh Post:

“Những Người Giúp Việc Nội Trợ Thúc Đẩy Việc Bảo Vệ Quyền Lợi”

Ngày hôm qua, bốn mươi tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế đã kêu gọi Chính phủ Căm Bốt phê chuẩn Hiệp định năm 2011 về NNGVNT của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), nhằm bảo vệ tốt hơn quyền của NNGVNT Căm Bốt, cả ở bên trong lẫn bên ngoài đất nước.

Bức thư, trong đó nói rõ NNGVNT của Vương quốc hiện nay không được luật pháp bảo vệ, đã được các nhóm đấu tranh cho nhân quyền đồng ký tên, như “Licadho”, “Trung tâm hướng dẫn luật pháp Căm Bốt”, “Mạng lưới NNGVNT Căm Bốt” (CDWN), cùng nhiều nhóm khác.

Theo Hiệp định của ILO, NNGVNT phải được hưởng những điều kiện sống và làm việc xứng đáng, có ngày nghỉ, có quyền thương lượng tập thể và “được bảo vệ chống lại mọi hình thức hành hạ, sách nhiễu và bạo lực.

Phó Giám đốc CDWN, bà Yem Sothy cho biết, 240000 NNGVNT trong nước và nhiều nghìn người ở nước ngoài sẽ được hưởng lợi nhờ sự tham gia của Căm Bốt vào Hiệp định. “Nếu có được sự đồng thuận, những công nhân này sẽ được trả lương đúng mức... và được hưởng những ngày lễ để họ về thăm nhà”, bà nói.

Hai Somaly, 20 tuổi, quê ở Kandal, đã đến Phnom Penh làm người giúp việc, khi cô mới chỉ có mười tuổi. Theo cô, những người giúp việc phải đứng ở một địa vị thấp kém trong xã hội Căm Bốt, và thường bị bóc lột.

“Tôi muốn luật pháp bảo vệ chúng tôi và tôi cũng muốn được hưởng mức lương tối thiểu như những công nhân ngành khác”.

(“Domestic Workers Push for Protections, The Phnom Penh Post, 11 Dec. 2014. Trans. Bùi Xuân Bách”).

Cái thứ con sen và thằng ở (ở) Việt Nam mà cũng ăn nói kiểu đó thì có mà bỏ mẹ, hay ... bỏ mạng. Tất cả có bao giờ dám nói năng gì đâu mà vẫn cứ bị roi vọt đều đều:

- VnExpress: “Sau khi bị tra tấn bằng kìm, chọc que sắt nóng vào vùng kín đến ngất xỉu, một nữ nhân viên nhà hàng đặc sản thú rừng Thanh Loan (huyện Lương Sơn, Hòa Bình) đã bị vứt ra đường.”

- Tiền Phong: “Nguyễn Thị Bình quê ở huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) được mẹ đưa ra Hà Nội làm tại quán phở của ông Chu Minh Đức và vợ là Trịnh Hạnh Phương ... từ năm em 10 tuổi.

Suốt hơn 10 năm qua, Bình phải làm việc quần quật suốt từ 3 giờ sáng đến tận đêm khuya. Sau khi làm xong việc trong nhà, em phải ra quán phở xách nước, thu dọn bát đũa, chuyên chở nước dùng, bánh phở, đưa thịt đi thái, quét dọn... nhưng vẫn bị hành hạ, đối xử như một nô lệ.

Theo lời Bình kể, em bị đánh thường xuyên, lúc thì do làm mất lòng chủ, lúc thì do sơ suất để vỡ một cái bát hoặc làm đổ nước ra nhà. Ông, bà chủ dùng dây điện thắt nút quất liên tiếp vào mặt, lưng; dùng kìm kẹp vào mạng sườn; bắt em quỳ ngoài sân giữa đêm khuya, trời lạnh nhiều tiếng đồng hồ...”

Trong khi Nguyễn Thị Bình bị hành hạ ở Việt Nam thì “đồng nghiệp” của cô cũng đồng loạt bị ngược đãi ở xứ người - theo tin tức được phổ biến bởi Ban Điều Hợp VNSN (Những Cuộc Đời Bất Hạnh) vào hôm 15 tháng 5 năm 2015: 

1. Lấy Chồng Nước Ngoài: 1 Phụ Nữ Việt Nam Chết sau một ngày làm dâu

2. Lời cầu cứu của nô lệ xứ người!

3. Tiếng kêu than của công nhân Xuất Khẩu Lao Động 

4. Nạn Buôn Người Ở Việt Nam 2 - Nữ công nhân Việt xuất khẩu qua Malaysia 

5. Nạn Buôn Người Ở Việt Nam 1 - Những Nữ công nhân Việt Ở Jordan Bị Bóc Lột

6. Nạn Buôn Người Ở Việt Nam 3 - Nữ Osin Việt Nam ở Malaysia bị bóc lột

7. Tệ Nạn Buôn Bán Phụ Nữ và Trẻ Em tại Việt Nam

Ngoài ra, trên tạp chí Bốn Phương (phát hành tại Đài Loan) người ta đọc được một lá thư - song ngữ, Việt/Hoa - của linh mục Nguyễn Văn Hùng, kêu gọi giúp đỡ cho một nam công nhân vừa bị tai nạn. Xin chỉ ghi lại nguyên văn (phần tiếng Việt) để rộng đường dư luận: 

“Kính thưa anh chị em công nhân, cô dâu Việt Nam tại Đài Loan! 

Tôi xin quý anh chị em công nhân và cô dâu người Việt hãy rộng tay giúp đỡ cho trường hợp của chị Dương Thị Toàn.” 

“Sau khi người thân của anh Hùng, chồng chị Toàn, liên lạc với Văn Phòng nhờ giúp đỡ, Văn phòng đã cho nhân viên xã hội lên bệnh viện thăm anh Hùng. Nếu anh Hùng không phải trả một số tiền khổng lồ cho môi giới Việt Nam, thì có lẽ anh đã không phải trốn ra ngoài để đi làm kiếm tiền trả nợ mà đã về đoàn tụ với vợ con gia đình. Vì số tiền môi giới quá lớn đã trói chặt anh vào số phận lao động nô lệ, biến anh thành nạn nhân của tệ nạn bóc lôt và buôn bán con người.” 

“Chính phủ Việt Nam vẫn làm ngơ trước những hành vi bóc lột công nhân qua số tiền môi giới phải trả trước khi rời Việt Nam! Bao lâu chính phủ Việt Nam chưa có luật pháp chế tài đối với các trung tâm môi giới hút máu người qua việc thu tiền lệ phí quá cao thì những trường hợp thương tâm như anh Hùng vẫn còn xảy ra hàng ngày.” 

Mười năm sau, “Chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục làm ngơ,” cứ y như chưa bao giờ có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra - theo tường thuật của ký giả Anh Tuấn, báo Lao Động, số ra ngày 18 tháng 4 năm 2015: 

“Hơn tháng qua, hai lao động do chi nhánh Cty CP Việt Hà - Hà Tĩnh (VIHATICO, ngõ Anh Sơn, đường Đỗ Đức Dục, phường Mễ Trì, Nam Từ Liêm, Hà Nội) đưa đi làm việc tại Qatar đang sống vật vờ do không được bố trí việc làm, phải đi xin ăn từng bữa nơi đất khách.” 

Những Người Giúp Việc Nhà biểu dương lực lượng trước Bộ Lao Động, 
ở thủ đô Phnom Penh. Ảnh: Sen David. Nguồn: The Phnom Penh Post

Bao giờ thì ở cái nước Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc của chúng ta sẽ có Trung Tâm Hướng Dẫn Luật Pháp (Legal Education Center) và Mạng Lưới Người Nội Trợ (Domestic Worker Network) để bảo vệ quyền lợi của những người giúp việc nhà trong, cũng như ngoài nước - để họ “phải đi xin ăn từng bữa nơi đất khách”? 

Khi nào thì giới ô sin Việt Nam được quyền đòi hỏi nhận tiền lương tối thiểu, ngày nghỉ cuối tuần, và những ngày nghỉ lễ được về thăm nhà - như đồng nghiệp của họ ở bên Cambodia? 

02.07.2015

"Thu Sầu"

Tóm lược: Ca khúc "Thu Sầu" là lời tâm sự của một người về cuộc tình ngang trái khi hai người xa cách nhau và không được sống bên nhau. Vào mùa thu buồn, người tình trở về khơi lại niề̀m thương yêu và nhung nhớ, nhưng hai người không gặp nhau. Bài hát không nói rõ lý do của sự ngang trái nhưng cái mơ hồ đó làm tăng giá trị nghệ thuật và cho thấy lòng cao thượng của người trong cuộc, bỏ đi tình yêu vị kỷ và muốn quên đi mối tình thương đau. Được diễn tả qua giai điệu nhẹ nhàng với chuyển động liên kết, tiết tấu đều đặn, và cách dùng chữ mạnh mẽ, điển tích Ngưu Lang Chức Nữ và các mỹ từ độc đáo, câu chuyện tình đơn giản trở nên sống động và đem lại cảm giác nhẹ nhàng thanh thoát cho người nghe.

***

Âm nhạc mìền Nam Việt Nam trước 1975 là kho tàng văn chương quý báu của đất nước, bên cạnh vô số tác phẩm văn chương (thí dụ, truyện, thơ, khảo cứu) khác. Rất may cho dân Việt là kho tàng này vẫn được gìn giữ trong suốt bốn mươi năm qua, mặc dù có khoảng thời gian bị nhóm cầm quyền cộng sản cấm đoán (và ngay cả bây giờ cho một số bài hát), và do đó một số ít tài liệu như tờ nhạc gốc của các bài nhạc đã bị thất lạc.

Việc giữ gìn và phát huy kho tàng âm nhạc này rất quan trọng vì nó giúp thế hệ hiện nay và các thế hệ sau hiểu rõ và yêu quý nền văn hóa tuyệt vời của miền Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). "Sử gia đôi khi coi những ca khúc 'phản ảnh' phần nào thẳng thắn xã hội và văn hoá đã sinh ra những ca khúc đó" (History Matters) Những bài hát thịnh hành trong một xã hội thường khá chính xác thể hiện bản chất con người và môi trường sinh sống của xã hội đó. Khi nghe những bài hát đầy tình cảm, tình thương yêu, chứa chan tình quê hương, và có nhiều kỹ thuật văn chương tuyệt diệu của nền âm nhạc miền Nam trước 1975, ai cũng phải thấu hiểu bản chất hiền hòa, nhân bản, thông minh, và sáng tạo của người miền Nam. Mặc cho những tuyên truyền cộng sản về chính thể VNCH, những ca khúc oai hùng, đượm màu sắc quê hương tổ quốc, truyền cảm, và lãng mạn là bằng chứng hùng hồn cho tinh thần bất khuất, can trường, yêu nước thương nòi, yêu chuộng hòa bình, và đầy tình người của chính thể VNCH và người dân sống trong chính thể đó.

Điểm đặc sắc nhất trong âm nhạc miền Nam Việt Nam trước năm 1975 là tính chất nhân bản, đầy tình cảm, và tình người. Những ca khúc về người lính VNCH trong cuộc chiến không có màu sắc chém giết hung bạo như trong nhạc đỏ của cộng sản. Ngược lại, những bài hát về chiến tranh đượm tình người, chứa chan tình yêu, lòng can đảm và sức chịu đựng của người miền Nam. Bên cạnh những bài hát về chiến tranh và người lính, nền âm nhạc miề̀n Nam trước 1975 còn có những ca khúc về quê hương đất nước cho thấy lòng yêu nước, thương yêu quê hương, cuộc sống êm đềm của người dân miền Nam. Nổi bật nhất trong nền âm nhạc miề̀n Nam trước 1975 là những tình khúc chứa chan tình yêu, từ những mối tình ngây thơ trong trắng của tuổi học trò tới những cuộc tình lãng mạn yêu thương vui buồn. Cách diễn tả tình cảm, âm nhạc, cách dùng chữ, kỹ thuật trình bày ý tưởng rất tinh vi, đầy nghệ thuật, cho thấy mức sáng tạo phong phú và khả năng văn chương vượt trội của nhạc sĩ miền Nam.

Nhạc sĩ Lam Phương được coi là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng nhất về nhạc tình, có sức sáng tạo phong phú với nhiều bài hát truyền cảm lãng mạn. Ông viết ca khúc "Thu Sầu" vào năm 1969 (dựa vào giấy phép xuất bản ghi trong tờ nhạc gốc) khi cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam đang đi vào giai đoạn khốc liệt sau cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân (1968) bị thất bại thảm não của cộng sản Bắc Việt. Tuy "Thu Sầu" không phải là tình khúc thành công nhất của Lam Phương (tình khúc thành công nhất của ông có lẽ là bài "Thành Phố Buồn"), bài hát này có giá trị nghệ thuật rất cao vì điệu nhạc êm ái nhẹ nhàng phù hợp với lời ca nói lên nỗi buồn trong cuộc tình và ý nghĩa cao thượng của một chuyện tình ngang trái. 

Trong bài "Chuyến Đò Vĩ Tuyến," tôi đã viết về tiểu sử nhạc sĩ Lam Phương và tài năng khác thường của ông trong việc viết nhạc (Cao-Đắc 2014). Trong bài này, tôi sẽ không nhắc lại những khía cạnh đó mà chỉ chú trọng vào nội dung và hình thức của ca khúc "Thu Sầu."

Nguyên văn lời bài hát "Thu Sầu" như sau (Xem, Nhạc Việt trước 75):

Mùa thu thưa nắng gió mang niềm nhớ 
Trời chiều man mác buồn nát con tim 
Lệ tình đẫm ướt tà áo trinh nguyên 
Kỷ niệm êm đềm còn in trên giấy 

Người ôm thương nhớ ra đi từ đấy 
Trời đày hai đứa vì thiếu tơ duyên 
Rừng còn thay lá tình vẫn chưa yên 
Thương chi cho lắm giờ cũng xa nhau. 

Người từ ngàn dặm về mang nỗi sầu 
Nhịp cầu ô thước hẹn đến mai sau 
Ngày dài nhung nhớ mình cũng như nhau 
Trên cao bao vì sao sáng 
Rừng vắng có bao lá vàng 
Là bấy nhiêu sầu. 

Người đi hoa lá chết theo mùa nhớ 
Người về lặng lẽ tình vẫn bơ vơ 
Thà rằng chôn kín mộng ước xa nhau 
Quên đi cho hết một kiếp thương đau.


Trong bài này, như thường lệ, tôi sẽ chú trọng thảo luận về các khía cạnh văn chương của bài hát, nội dung và hình thức, và vài điểm về âm nhạc. Tôi dùng "khán giả" để chỉ người nghe, người đọc, và người xem.

A. "Thu Sầu" nói lên tâm tình sầu não của người trong cuộc tình xa cách với lòng cao thượng như một nghịch lý trong mối tình ngang trái.

Bài hát là lời tâm tình của một người trong cuộc tình buồn vào mùa thu khi người đó và người tình xa nhau. Bài hát không xác định lời tâm tình đó là của cô gái hay chàng trai; nhưng có những gợi ý cho thấy đó là cô gái. Thực ra, lời tâm sự cũng có thể do từ chàng trai; nhưng cho tiện việc trình bày, tôi sẽ dùng "cô gái" là người nói lên tâm sự mình trong bài hát. Bài hát cũng không cho biết rõ lý do cho sự xa cách, mà chỉ mơ hồ nói đến hai người không có duyên nợ nên đành xa nhau. Như sẽ được trình bày sau, chính sự mơ hồ không nói rõ lý do này làm tăng giá trị của bài hát.

"Thu Sầu" có ba phiên khúc (PK): PK1, PK2, và PK3; và một điệp khúc (ĐK) được sắp xếp như sau: PK1, PK2, ĐK, và PK3. Sự phân chia các phiên khúc theo một bố cục mạch lạc, giúp ý tưởng được trôi chảy. PK1 mô tả cảnh tượng mùa thu và thiết lập bối cảnh quá khứ. PK2 tiếp tục câu chuyện cho biết hai người xa nhau vì không có duyên nợ và những thay đổi trong cuộc đời. ĐK cho thấy cái nghịch lý của chuyện tình: yêu nhau và có dịp hội ngộ nhưng không gặp nhau khi nỗi buồn chồng chất. PK3 xác nhận nghịch lý với mơ ước thầm kín xa nhau để quên nhau.

1. Bài hát là lời tâm tình của người với nỗi buồn đau khổ trong cuộc tình trắc trở sau thời gian xa cách:

Bài hát mở đầu với PK1 và lời giới thiệu mùa thu. Mùa thu thường được dùng là bối cảnh cho những chuyện buồn. Trong một ngày mùa thu thiếu ánh nắng, cơn gió mang đến niềm nhớ nhung và buổi chiều man mác gợi nỗi buồn thống thiết ("Mùa thu thưa nắng gió mang niềm nhớ/ Trời chiều man mác buồn nát con tim."

Trong văn và thi ca, mùa thường được dùng là bối cảnh cho tình tiết, tâm sự, hoạt động, hoặc ý tưởng cho câu chuyện. Các mùa thường có ý nghĩa như sau (Xem, thí dụ như, Richards-Gustafson). Mùa Xuân đem lại vui tươi, tình yêu, tuổi trẻ, nẩy nở, tái sinh, và phục hồi. Mùa Hạ hàm ý tự do, thám hiểm, hồi tưởng, tình bạn, và ấm áp. Mùa Thu gợi ý chín mùi, trưởng thành, thay đổi, rộng rãi, buồn bã, và suy đồi. Mủa Đông cho hình ảnh chết chóc, già nua, cô đơn, tuyệt vọng, và kết thúc; nhưng cũng có thể gợi ý phục hồi và hy vọng.

Việt Nam tuy không có bốn mùa rõ rệt và thường chỉ có hai mùa (mưa và nắng), nhưng sự thay đổi thời tiết và thiên nhiên cũng tạo ra những nét đặc thù của bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Văn, thi, và nhạc sĩ thường liên kết mùa thu với buồn bã, xa cách, chia ly, có lẽ vì cảnh lá úa hoặc lá rơi tạo ra hình ảnh vắng vẻ, cô liêu, và thiếu sức sống. Thí dụ, ca khúc "Mùa Thu Chết" của Phạm Duy dựa vào lời bài thơ L'Adieu của thi sĩ Pháp Guillaume Apollinaire nói đến cảnh chết chóc ly biệt trong mùa thu (Wikipedia 2014). Có nhiều câu ca dùng mùa thu để diễn tả nỗi sầu não, buồn thảm. Thí dụ, "Trời vào thu Việt Nam buồn lắm em ơi" (trong "Tình Bơ Vơ" của Lam Phương), "Em có nghe mùa thu mưa giăng lá đổ" (trong "Mùa Thu Cho Em" của Ngô Thụy Miên), "Đếm lá úa mùa thu/ Đo sầu ngập tim tôi" (trong "Mùa Thu Không Trở Lại" của Phạm Trọng Cầu). Tương tự, trong "Thu Sầu," bằng cách mở đầu bài hát với cảnh mùa thu ít nắng và buổi chiều man mác, Lam Phương báo trước khán giả biết đây là một chuyện tình buồn.

Những giọt lệ khóc cho mối tình làm ướt đẫm áo dài trắng, và những kỷ niệm êm đềm ngày xưa còn trên trang giấy ("Lệ tình đẫm ướt tà áo trinh nguyên/Kỷ niệm êm đềm còn in trên giấy.") Ta không rõ kỷ niệm êm đềm gì trên trang giấy. Nhưng câu nhắc nhở đến "tà áo trinh nguyên" và trang giấy gợi ra hình ảnh học đường trung học trong miền Nam. Thời ấy, nữ sinh thường mặc đồng phục áo dài trắng và các kỷ niệm thường được ghi qua thư từ hoặc quyển lưu bút vào mỗi dịp hè. Do đó, ta có thể hiểu mối tình được khởi đầu qua môi trường học đường lúc hai người còn trẻ.

PK2 kể chuyện tình hai người xa cách. Người tình của cô đã xa cách cô từ thuở ghi kỷ niệm trên trang giấy. Anh mang theo nỗi thương nhớ cô gái. Cô gái cho rằng hai người xa nhau vì không có duyên nợ với nhau ("Người ôm thương nhớ ra đi từ đấy/ Trời đày hai đứa vì thiếu tơ duyên.") Qua câu "trời đày hai đứa," tác giả ngụ ý chuyện tình hai người không được suông sẻ và phải xa nhau. Ngoài ra, tác giả chuẩn bị nhắc đến tích Ngưu Lang - Chức Nữ bị trời đày xuống trần, đề cập trong câu sau.

Khi thời gian trôi qua, cuộc đời có nhiều thay đổi như rừng thay lá, chuyện tình hai người không được yên ổn. Lúc trước hai người thương yêu làm chi để bây giờ không được nên duyên ("Rừng còn thay lá tình vẫn chưa yên/Thương chi cho lắm giờ cũng xa nhau.") Sự thay đổi của cuộc đời có thể do việc chàng trai đi xa, cô gái đi lấy chồng, hoặc bất cứ chuyện gì ảnh hưởng đến tình trạng sống của hai người. Nhưng những sự thay đổi hoặc thời gian trôi qua này không làm thay đổi tình yêu của hai người.

Thời gian là yếu tố quan trọng cho sự thay đổi trong cuộc đời. Có nhiều thi sĩ và nhạc sĩ khai thác cảnh rừng thay lá để diễn tả thời gian trôi qua và/hoặc sự thay đổi thời tiết. Thí dụ, câu "Anh đi rừng chưa thay lá/ Em về, rừng lá thay chưa?" trong ca khúc "Rừng Chưa Thay Lá" do nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ nhạc qua bài thơ "Rừng Lá Thay Chưa" của Hoàng Ngọc Ẩn. "Rừng xưa thức giấc, lá rung rinh như còn ngỡ ngàng/Bầy chim thờ thẫn, im tiếng nghe rừng xưa thay lá/ Rừng thay lá úa, lá úa rơi/Hay linh hồn lá xanh rơi?/ . . . Rừng xưa thức giấc, lá ươm xanh, không còn hoang tàn. . . Rừng xưa thay lá, lá xinh tươi" trong ca khúc "Rừng Thay Lá" do nhạc sĩ Châu Kỳ viết. Nhóm chữ "rừng thay lá" cũng được nhiều thi sĩ dùng để diễn tả thời gian trôi qua và những thay đổi trong cuộc đời hoặc tình người. Thí dụ, "Từ độ rừng thu thay sắc lá/ Bao mùa thu qua chở hẹn hò" trong bài thơ "Rừng Thu Thay Lá" của Miên Thụy. Trong ca khúc "Thu Sầu," Lam Phương nhắc đến sự thay đổi qua cách dùng ẩn dụ rừng thay lá, nhưng không nói rõ lý do tại sao hai người xa nhau.

ĐK nhắc đến tích xưa Ngưu Lang Chức Nữ và cho thấy nghịch lý của cuộc tình ngang trái. Người tình trở về từ nơi xa xôi ngàn dặm mang theo nỗi buồn. Cuộc hội ngộ hai người như cuộc gặp gỡ mỗi năm một lần của Ngưu Lang - Chức Nữ qua cầu ô thước. Hai người thương nhớ nhau nhưng lại không gặp nhau mà hẹn gặp nhau trong thời gian không xác định, có thể sẽ không gặp nhau nữa ("Người từ ngàn dặm về mang nỗi sầu/ Nhịp cầu ô thước hẹn đến mai sau/ Ngày dài nhung nhớ mình cũng như nhau.") Ta không rõ bối cảnh của sự trở về của người tình như thế nào. Nhưng chuyện đó không quan trọng. Có thể chuyến trở về chỉ là tình cờ hoặc không có ý định gặp lại người yêu cũ. Có thể qua những mối liên hệ khác (bạn bè, gia đình) mà cô gái biết được tin cố nhân trở về sau thời gian xa cách lâu năm.

Tuy không dùng "Ngưu Lang Chức Nữ," bài hát nhắc đến tích này hai lần qua "trời đày hai đứa" và "nhịp cầu ô thước." Tích Ngưu Lang - Chức Nữ dựa vào câu chuyện dân gian lâu đời ở bên Tàu kể chuyện tình giữa cô gái dệt vải Chức Nữ và anh chăn bò (hoặc chăn trâu theo Việt Nam) Ngưu Lang là tiên và thần trên trời (Wikipedia 2015a). Vì phạm tội do yêu nhau, hai người bị Trời đày xuống trần thế và ở cách xa nhau hai bên đầu sông Ngân (dải Ngân Hà). Mỗi năm hai người chỉ được gặp nhau một lần vào ngày 7 tháng 7 âm lịch (ngày Thất tịch). Khi gặp nhau, họ đi trên cầu được tạo bởi đàn quạ (crow, ô) và chim khách (magpie, thước). Cầu ô thước, do đó, chỉ chiếc cầu hai người đi qua sông để gặp nhau vào ngày Thất tịch. 

Chuyện tình Ngưu Lang Chức Nữ thực ra cũng chẳng có gì ly kỳ lắm. Có nhiều phiên bản thêm mắm thêm muối cho có nhiều chi tiết hấp dẫn, nhưng tựu trung, mối tình hai người cũng như mọi mối tình dang dở khác. Cái tình tiết khiến cho câu chuyện Ngưu Lang Chức Nữ được lưu truyền lâu dài có lẽ ở khía cạnh hai người chỉ được gặp nhau một năm một lần. Có cái gì kỳ bí và lãng mạn trong việc gặp nhau mỗi năm một lần này. Câu chuyện Ngưu Lang Chức Nữ không có kết thúc, nhưng ta có thể hiểu là họ yêu nhau mãi mãi và không có việc xa mặt cách lòng. Có thể vì mối tình bền bỉ đó mà ngày 7 tháng 7 âm lịch được coi là ngày Tình Yêu ở bên Tàu, tương đương với Valentine Day ở các xứ Tây phương. Một khía cạnh đặc sắc khác của chuyện tình Ngưu Lang Chức Nữ là khía cạnh thiên văn của câu chuyện. Ngưu Lang là sao Altair, ngôi sao sáng nhất trong chòm sao (constellation) Aquila. Chức Nữ là sao Vega, ngôi sao sáng nhất trong chòm sao Lyra. Cầu ô thước được đặt trên sao Deneb, là ngôi sao sáng nhất trong chòm sao Cygnus. Sông Ngân là dải Ngân Hà (Milky Way). Ba ngôi sao Altair, Vega, và Deneb là đỉnh của tam giác gọi là Tam Giác Mùa Hè (Summer Triangle) (Wikipedia 2015b). Tuy khía cạnh thiên văn này rất hứng thú, không phải ai cũng biết chuyện Ngưu Lang Chức Nữ tương ứng với ba ngôi sao Altair, Vega, và Deneb. Hầu hết tích Ngưu Lang Chức Nữ được dùng để nhắc đến việc hai người tình xa cách nhau và chỉ gặp nhau sau thời gian xa nhau. Lam Phương đem lại một khía cạnh bí ẩn và lãng mạn cho cuộc tình qua hai lần nhắc nhở tích Ngưu Lang Chức Nữ.

Nỗi buồn cho chuyện tình hai người thật là sâu đậm và nhiều như sao trên trời hoặc lá trong rừng ("Trên cao bao vì sao sáng/ Rừng vắng có bao lá vàng/ Là bấy nhiêu sầu.") Câu này theo ngay sau hai câu "Nhịp cầu ô thước hẹn đến mai sau/ Ngày dài nhung nhớ mình cũng như nhau" cho thấy cô gái muốn diễn tả tình trạng khó xử của cô trong cuộc tình. Cô và người tình vẫn còn thương yêu nhau, và người tình trở về, có thể muốn gặp lại cô. Tuy nhiên, vì lý do nào đó như sẽ được thảo luận sau, cô không muốn gặp lại anh mà chỉ "hẹn đến mai sau" và cô phải chấp nhận nỗi sầu não to tát cho quyết định này.

PK3 bày tỏ ước mơ thầm kín cho cuộc tình và hé lộ ra lý do tại sao cô gái không muốn gặp lại người tình cũ. Lúc người tình ra đi, hoa lá tàn úa theo mùa nhung nhớ. Khi người tình trở về, mối tình vẫn lặng lẽ cô đơn, không có sự xum họp vui tươi ("Người đi hoa lá chết theo mùa nhớ/ Người về lặng lẽ tình vẫn bơ vơ.") Câu "hoa lá chết theo mùa nhớ" cho thấy mùa nhớ đó là mùa thu. Mùa thu ngự trị mối tình hai người ngay từ lúc xa cách lúc trước đó. Ngay cả lúc người tình trở về, chiều mùa thu làm buồn nát con tim và cuộc tình vẫn lặng lẽ bơ vơ. 

Chẳng thà hai người không nên gặp nhau thì hơn, và ấp ủ chôn kín ước vọng xa nhau để quên đi cuộc tình thương đau này ("Thà rằng chôn kín mộng ước xa nhau/ Quên đi cho hết một kiếp thương đau.") Câu "mộng ước xa nhau" có vẻ hơi lạ lùng vì người nghe nghĩ rằng cô gái phải thầm mơ ước sống bên nhau với người tình. Có vài phiên bản ghi "mộng ước bên nhau" để diễn tả ý tưởng này. Tuy nhiên, lời bài hát trong tờ nhạc gốc ghi rõ "xa nhau," và "mộng ước xa nhau" có ý nghĩa hay và sâu sắc hơn nhiều "mộng ước bên nhau" như được trỉnh bày sau đây.

Tại sao cô gái có ước mơ thầm kín xa nhau?

Lam Phương không cho biết lý do hai người xa nhau hoặc chuyện gì cản trở cuộc tình hai người. Chuyện đó thực ra không quan trọng, và có lẽ Lam Phương cố tình không cho biết rõ rệt lý do để tạo nét bí ẩn và làm tăng giá trị cuộc tình như được trình bày sau đây. 

2. Sự mơ hồ cho người tâm sự bày tỏ tình yêu cao thượng không muốn gặp lại người tình cũ và muốn quên đi mối tình đau thương:

Một bài hát có những chi tiết đặc thù lôi cuốn người nghe, cho dù người nghe không có cùng kinh nghiệm đặc thù đó. Lam Phương viết nhiều tình khúc với những chi tiết rõ rệt và đặc thù. Thí dụ, ca khúc "Thành Phố Buồn" nói đến mối tình hai người trong khung cảnh nhà thờ ("Quỳ bên em trong góc giáo đường") và cuộc tình đổ vỡ vì hai người cách xa và mối tình trở nên nhạt nhòa, và sau đó cô gái lấy chồng ("Em làm dâu nhà người"). Trong ca khúc "Tình Bơ Vơ," cô gái đi ra nước ngoài xa người yêu ("Em khóc cho đời viễn xứ") và khiến cuộc tình tắt dần vì cô gái quên người yêu ("Một phút tim em ơ hờ"). Trong "Tình Nghĩa Đôi Mình Chỉ Thế Thôi," hai người không nói cho nhau tình cảm của mình dành cho người kia và đưa đến chuyện tan vỡ ("Tại em không nói, hay tại anh không biết/ Để tình ta tan vỡ theo thời gian").

Tuy nhiên không phải lúc nào rõ rệt và đặc thù mới hay. Một lý do khiến thi ca có giá trị là sự mơ hồ, không rõ rệt. "Khi thơ nói cho biết hết, nhiều khi thơ không còn là thơ nữa" (Singh, 309, ghi chú 15). Trong thi ca, "ta nên cảnh giác không tránh mơ hồ mà nên hiểu nó" (Sutherland 2007, 181). Giá trị của một tác phẩm nghệ thuật không nhất thiết là ở chỗ khán giả hiểu được ý của tác giả, mà còn có thể ở chỗ khán giả tự diễn giải tác phẩm theo ý mình như được khuyến khích bởi tác giả. "Sự kiện có nhiều cách dùng và diễn giải hiện hữu cho thấy một khía cạnh quan trọng của âm nhạc: nó dùng là diễn đàn cho tranh luận công cộng về cách cư xử, đạo đức, chính trị, và thay đổi xã hội" (History Matters). Do đó, có lúc tác giả cố tình tạo ra sự mơ hồ để khán giả tùy nghi diễn giải và thưởng thức tác phẩm qua diễn giải của chính mình. Ngoài ra, có những diễn giải không cần phải nói ra rõ rệt, mà ngầm hiểu để làm tăng giá trị nghệ thuật. Viết lời lẽ mơ hồ để khán giả hiểu được là chuyện khó và không phải ai cũng có thể làm được.

Nhưng Lam Phương làm được chuyện đó, và không những thế, còn làm được một cách hữu hiệu. Như tôi đã viết nhiều lần trong các bài trước, một nhạc sĩ, thi sĩ, văn sĩ, họa sĩ hoặc bất cứ một nghệ sĩ nào, nhiều khi không ý thức sự tài tình của việc mình làm trong công trình nghệ thuật mình. Đó là vì tài năng thường được tiềm tàng hoặc phát triển qua thời gian một cách không ý thức. Nhiều khi, chính tác gỉả một tác phẩ̀m nghệ thuật ngạc nhiên khi có người vạch ra những nét độc đáo hoặc kỹ thuật tài tình của mình. Ở đây, một lần nữa, Lam Phương biểu lộ khả năng khác thường trong việc dùng sự mơ hồ về câu chuyện để tạo giá trị nghệ thuật cho bài hát. 

Ông dùng những diễn tả rõ rệt và đặc thù của cảnh tượng như thể để che giấu hoặc hóa trang sự mơ hồ về câu chuyện và khiến khán giả quên đi hoặc không thấy cần thiết để biết chi tiết rõ rệt nữa. Những chi tiết đặc thù về mùa thu thưa nắng, rừng thay lá, và tích Ngưu Lang Chức Nữ đủ giữ khán giả bận rộn để họ không thắc mắc về các tình tiết về cuộc tình. Tuy nhiên, khán giả thấu hiểu nỗi buồn của cô gái khi người tình trở lại mà vẫn thấy tình bơ vơ. Bài hát cho thấy hai người vẫn còn yêu nhau ("Ngày dài nhung nhớ mình cũng như nhau"). Nhưng tại sao tác giả không muốn cho biết rõ lý do của sự trắc trở? Ta thấy chi tiết đó không quan trọng, và nhiều khi biết rõ lý do còn làm tầm thường hóa mối tình hai người. Đây là một trong nhiều trường hợp mà mơ hồ làm tăng giá trị của câu chuyện.

Đặc biệt, câu "Thà rằng chôn kín mộng ước xa nhau" bộc lộ nỗi xót xa của cuộc tình. Tuy yêu nhau, hai người biết rõ là họ không thể nên duyên vợ chồng, và do đó, những gần gũi vật chất đều không nên, vì có thể tạo ra những tội lỗi, tai tiếng, hoặc lầm lỡ. Vì vậy, cô gái có mơ ước thầm kín là xa nhau, vì gặp nhau làm chi khi họ không thể ở bên nhau? 

Đó là nét đặc sắc của ca khúc "Thu Sầu": lòng cao thượng trong cuộc tình. Cô gái tuy vẫn còn yêu người tình cũ, nhưng cô không muốn gặp lại anh, và mong muốn hai người xa nhau để cô quên hẳn anh. Tuy ta không biết chính xác lý do tại sao hai người không được nên duyên vợ chồng, ta có thể suy đoán hai lý do căn bản. Lý do thứ nhất là một hoặc cả hai đều đã lập gia đình. Với lý do này, chuyện tình của hai người phải chấm dứt để tránh phá vỡ hạnh phúc gia đình. Lý do thứ nhì là có những cản trở khắc nghiệt khiến họ không thể lấy nhau: gia đình cấm đoán, khác biệt tôn giáo, bệnh tật hiểm nghèo, và các lý do mạnh mẽ khác. Với lý do này, giá đổi lại cho việc hai người được ở bên nhau quá cao, và tạo đau khổ trong tương lai hoặc cho những người khác, và do đó hạnh phúc bên nhau của họ cũng không còn được toàn vẹn nữa.

Quyết định không gặp lại nhau và ước mơ xa nhau là một quyết định cao thượng. Cô gái gạt bỏ tình yêu vị kỷ và chấp nhận nỗi buồn cá nhân để không tạo ra tan vỡ hoặc đau khổ cho người khác. 

Tóm lại, "Thu Sầu" nói lên nỗi buồn xót xa của người trong cuộc tình không được nên duyên, và chỉ có dịp hội ngộ sau khoảng thời gian xa nhau lâu năm. Nhưng họ không muốn gặp nhau và muốn quên đi cuộc tình đau thương. Cuộc tình có đoạn kết cho thấy lòng cao thượng của người trong cuộc (cô gái) khi người đó gạt bỏ mối tình vị kỷ và muốn quên đi người tình vì không muốn tạo thêm nghịch cảnh hoặc đau khổ cho người khác.

B. "Thu Sầu" có âm điệu phù hợp nội dung chuyện tình buồn và kỹ thuật diễn tả hữu hiệu

Ca khúc "Thu Sầu" có nhạc điệu phù hợp với nội dung cho một chuyện tình buồn và làm tăng thêm tác dụng của lời ca lên khán gỉả. Ngoài ra cách diễn tả rất hữu hiệu làm nổi bật ý tưởng, cho thấy tài năng nghệ thuật khác thường của nhạc sĩ Lam Phương.

1. Bài hát có giai điệu nhẹ nhàng, chuyển động liên kết, và tiết tấu cố định cho mỗi câu, thích hợp với diễn tả nỗi buồn man mác trong cảnh mùa thu:

Lam Phương áp dụng kỹ thuật viết nhạc theo tiêu chuẩn truyền thống, và không có nhiều biến dạng. Kỹ thuật này có chút tính chất bảo thủ, nhưng an toàn vì không có những khía cạnh táo bạo có thể làm một số khán giả khó chịu. Với nội dung bài hát về nỗi buồn man mác của một chuyện tình vào mùa thu, đây là một kỹ thuật thích hợp.

Giai điệu và tiết tấu của PK1 và PK2, PK3 hầu như giống hệt nhau chỉ khác một chút ở câu chót. "Thu Sầu" có giai điệu nhẹ nhàng, diễn tả tình cảm hữu hiệu qua cách dùng chuyển động liên kết (conjunct movement). Các nốt nhạc không có sự thay đổi đột ngột, và đi lên đi xuống chậm chạp uốn éo. Ngay cả trong điệp khúc, tuy có nốt lên cao, nhưng các nốt nhạc vẫn đi theo chuyển động liên kết, chỉ có một chút nhảy vọt trong câu chót ("là bấy nhiêu sầu") để nhấn mạnh sự ví von nỗi buồn nhiều như sao trên trời hoặc lá rụng trong rừng.

Mỗi câu trong phiên khúc cũng theo một tiết tấu cố định: các âm tiết đi nhanh trong đoạn đầu nhưng kéo dài ở âm tiết chót: nhớ, tim, nguyên, giấy trong PK1; đấy, duyên, yên, nhau trong PK2; và nhớ, vơ, nhau, đau trong PK3. Ngay cả ĐK cũng theo kiểu mẫu đó với âm tiết chót kéo dài (sầu, sau). Tác dụng của tiết tấu cố định cho mỗi câu tạo nên một nét đều đặn, có chút nhàm chán, nhấn mạnh thêm nỗi chán chường của cuộc tình buồn.

2. Bài hát có lối dùng chữ mạnh mẽ và cách dùng mỹ từ tài tình tạo nên hình ảnh sống động, giúp diễn tả ý tưởng hữu hiệu:

Lam Phương dùng cảnh để tả tình một cách điêu luyện. Ông chọn lựa từ ngữ khéo léo và mạnh mẽ, diễn tả hình ảnh cụ thể và gợi ý. Thí dụ, "thưa nắng" cho thấy cảnh chiều thu buồn và nói lên sự thiếu thốn sức sống, "đẫm ướt" biểu lộ cơn khóc lóc thê thảm của cảnh xa nhau, "buồn nát con tim" mô tả nỗi bi thảm cực điểm, "ôm thương nhớ" nhấn mạnh nỗi chịu đựng tái tê, "đày" nói lên nỗi xấu số đau khổ, "vẫn chưa yên" diễn tả sự dây dưa lê thê của chuyện tình, "rừng vắng" vẽ ra cảnh tượng xơ xác bơ vơ, "về lặng lẽ" mô tả sự âm thầm cô độc, "chôn kín" bộc lộ nỗi xót xa, "cho hết một kiếp" nói lên sự chua chát và cay đắng.

Lam Phương áp dụng kỹ thuật mỹ từ hóa vào những chữ đơn giản không trau chuốt thật tài tình khiến cho hình ảnh trở nên linh động. Cách dùng ẩn dụ tuyệt vời như "tà áo trinh nguyên" mô tả sự trong trắng hồn nhiên của tuổi học trò, "rừng còn thay lá" cho sự thay đổi trong cuộc đời, "hoa lá chết" cho nỗi đau đớn tuyệt vọng, "chôn kín" cho sự ấp ủ bí mật. Một nét độc đáo khác trong "Thu Sầu" là cách dùng các điển xưa tích cũ như ẩn dụ để diễn tả ý tưởng như chuyện tơ duyên do tích ông tơ bà nguyệt, trời đày và cầu ô thước do tích Ngưu Lang Chức Nữ ("Trời đày hai đứa vì thiếu tơ duyên . . . Nhịp cầu ô thước hẹn đến mai sau.") (Xem, thí dụ như, Wikipedia 2015b; 2015c). Những điển tích này làm tăng mức phong phú của cách diễn tả.

Đặc biệt, cách dùng so sánh ví von rất độc đáo: mức độ to tát của nỗi buồn, một mức độ không đếm được (uncountable), được ví von qua số lượng đếm được (countable) của sao trên trời hoặc lá rụng trong rừng ("Trên cao bao vì sao sáng/ Rừng vắng có bao lá vàng/ Là bấy nhiêu sầu"). Tiếng Việt có sự mơ hồ về danh từ đếm được và không đếm được, nhất là khi nói đến số lượng. Tiếng Việt dùng "bao nhiêu," "bấy nhiêu," "nhiều," "ít" cho cả danh từ đếm được và không đếm được, trong khi tiếng Anh phân biệt rõ ràng "much/ little" cho không đếm được và "many/ few" cho đếm được. Vì không có sự phân biệt rõ rệt này trong tiếng Việt, cách dùng mỹ từ so sánh hoặc ví von (simile) có thể dùng danh từ đếm được để ví von với danh từ không ̣đếm được như Lam Phương đã làm. Tuy nhiên, nếu không biết khéo dùng, sự ví von có thể trở nên vụng về và khập khiễng. Thí dụ, "Niềm vui đến ồ ạt như cát trên sa mạc," "Tình yêu của nàng dành cho hắn ít oi như chùa Bà Đanh" là những câu dùng ví von một cách vụng về.

Kết Luận:

Ca khúc "Thu Sầu" là lời tâm sự của một người trong mùa thu mang đến nỗi buồn của cuộc tình dang dở. Lời tâm sự bộc lộ nỗi buồn cuộc tình khi hai người không được sống bên nhau và phải chịu cảnh xa cách. Bài hát không nói rõ lý do của sự xa cách, nhưng cái mơ hồ đó làm tăng giá trị nghệ thuật vì tạo nên nét bí ẩn của cuộc tình và cho thấy sự cao thượng của người tâm sự muốn quên đi người yêu cũ và mối tình đau thương trắc trở. 

Bài hát được viết theo âm điệu truyền thống với giai điệu nhẹ nhàng, chuyển động liên kết, và tiết tấu cố định phù hợp với nội dung chuyện tình buồn. Nhạc sĩ Lam Phương diễn tả ý tưởng tài tình qua cách dùng chữ mạnh mẽ, chấm phá với điển tích xưa, và mỹ từ độc đáo.

Ca khúc "Thu Sầu" không có nét sôi động hoặc thảm thiết của một chuyện tình buồn, nhưng đem lại một nỗi buồn man mác nhẹ nhàng và tác dụng sâu đậm trong tâm hồn khán giả. Bài hát nói lên tâm hồn đầy tình cảm lãng mạn nhưng trong sạch đạo đức của người miền Nam trước năm 1975.

CẢM TẠ

Tôi xin có lời cám ơn các bạn trên trang mạng Dân Làm Báo đã có lời khích lệ trong các bài về âm nhạc trước và giúp tôi có ý định viết bài này, đặc biệt là lời yêu cầu của bạn bức xúc cho thân mẫu bạn.


________________________________________

Tài Liệu Tham Khảo:

1. Cao-Đắc, Tuấn. 2014. "Chuyến Đò Vĩ Tuyến". 13-12-2014. 

2. History Matters. Không rõ ngày. What Can Songs Tell Us About People And Society? Không rõ ngày. http://historymatters.gmu.edu/mse/songs/question5.html (truy cập 30-6-2015).

3. Nhạc Việt trước 75. Không rõ ngày. Thu sầu (Lam Phương). Không rõ ngày. http://amnhacmiennam.blogspot.jp/2013/06/thu-sau-lam-phuong.html (truy cập 24-6-2015).

4. Richards-Gustafson, Flora. Không rõ ngày. Examples of Seasonal Symbolism. Không rõ ngày. http://classroom.synonym.com/examples-seasonal-symbolism-22272.html (truy cập 27-6-2015). 

5. Singh, G. 2014. Leopardi and the Theory of Poetry. University Press of Kentucky, Lexington, Kentucky, U.S.A.

6. Sutherland, Keston. 2007. Vagueness, Poetry, trong "Contemporary Poetics," by Louis Armand, Editor, Northwestern University Press, Evanston, Illinois, U.S.A., pp. 175-184.

7. Wikipedia. 2014. Mùa thu chết. 9-11-2014. 

8. _________. 2015a. Ngưu Lang Chức Nữ. 2-2-2015. 

9. _________. 2015b. Summer Triangle. 6-4-2015. 

10. _________. 2015c. Ông tơ bà nguyệt. 3-5-2015. 

ĐCSVN quê lờ!

Nhiều người đọc cái tít, nghe cái tiếng nói thường nhật của dân dã đã vội phán ngay khỏi suy nghĩ về cái nguyên căn chiều sâu của văn học và ngôn ngữ dân gian. Quả vậy, quê l... thì cứ nói là quê l... có chi đâu là xấu, là tục? Văn vẻ cao sang xa vời làm chi cho nó thêm rắc rối khó hiểu, chẳng hạn như: "Quê cái động hoa vàng", "quê cái mả cha", quê chim, quê bướm... Động hoa vàng, mả cha, chim bướm có mắc mớ gì tới cái "triệu năm văn vật" xưa như trái đất, xưa như từ thuở hành tinh này có xuất hiện những loài sinh vật cái có... lờ?.

Nói thiệt cho "tình hình rất thiệt" nha, dạo này lũ Ba Đình đang bận rộn bày vẽ đòi nghiêm trị, trừng phạt khi nghe, khi thấy những ai ăn nói theo kiểu chân thật dân dã, nghĩa là "có sao nói vậy người ơi" mà họ đã quên mẹ nó rằng chính bọn họ mới là nguyên nhân gây ra cảnh quê mùa dốt nát, ăn tục nói phét theo kiểu đầu đường xó chợ, láu tôm láu cá theo kiểu đấu tố "Cải Cách Ruộng Đất", "Nhân Văn Giai Phẩm" mà hệ quả của nó đã ảnh hưởng và kéo dài sự di hại vô luân vô lý cho đến ngày hôm nay qua sách lược 'Trăm năm trồng người" của tên điếm đàng hoàn hảo Hồ Chí Minh.

Chửi cộng sản hoài thì ta cũng chán mà nó cũng chán, cho nên lâu lâu tưởng cũng nên khen chúng một vài phát cho chúng "phấn khởi", vã lại cũng để cho có công bằng. Nhìn sự thể ở một góc độ nào đó, nếu so sánh cách sử dụng ngôn từ ở trong nước hiện về mặt văn hóa dân gian với văn hóa toàn trị, tư tưởng của độc đảng thì chúng ta sẽ thấy rằng có sự trùng hợp lô-gic. Và nếu số người nào đó (kể cả những người cộng sản mà đa số là ít học) cho rằng "sự thể" này là đúng thì tại sao họ lại mâu thuẫn với cái gốc của họ là bần cố nông, vô sản thất học cùng quan niệm "Hồng hơn Chuyên"? Sự mâu thuẫn ấy là: Trừng phạt và nghiêm cấm những người "ăn tục nói phét" mà tiêu biểu là: "Bún mắng cháo chửi" ở Hà Nội sắp bị sờ gáy?" Đăng ở cơ quan truyền thông nhà nước, báo Pháp Luật (*).

Hơn 70 năm cho miền Bắc, 40 năm cho cả nước, có biết bao bài viết, lời khuyên, lời đề bạt, kiến nghị... với vô vàn lời lẽ đường hoàng, cao xa, sâu sắc, thâm thúy... nhưng người cộng sản có bao giờ nghe và có bao giờ hiểu bởi đầu óc vốn dĩ của họ. Nhưng hiện tượng tục tĩu với tính đặc trưng "dân dã" đã khiến cho bọn văn hóa Ba Đình cảm thấy bực bội và khó chịu bởi họ phải chịu trách nhiệm về cái xã hội mà họ đang cai trị và tự cảm thấy rất quê... lờ thì cũng đủ chứng minh cho mọi người thấy rằng sự thô tục của một xã hội dưới trào cộng sản đã đến mức độ quá đáng, vượt cả sự giới hạn.

Ngạn ngữ phương Tây: "Like father, like son" hay "The apple never falls far from the tree", còn Việt Nam ta thì: "Cha nào con nấy", "Hổ phụ sinh hổ tử" là hoàn toàn không sai, cho nên ĐCSVN hãy tự nhận lấy trách nhiệm của chính mình về việc đã hủy hoại cả nền đạo lý của dân tộc và đảng CSVN chớ bao giờ quên lời dạy quí giá của người xưa: "Tiên trách kỷ hậu trách nhân"
  
02.07.2015


____________________________________

Ghi chú

Ba chuyến đi Mỹ của Phạm Quang Nghị, Phạm Bình Minh và Nguyễn Phú Trọng

Chỉ trong khoảng thời gian ngắn từ hai năm trở lại đây, những chuyến đi ngoại giao dồn dập của các giới chức Hoa Kỳ, Việt Nam và Trung Cộng gây nhiều suy đoán về mối bang giao tay ba nầy, nhất là sự liên quan của Mỹ trong chiến thuật Xoay Trục sang Châu Á. Sau đây là vài ghi nhận của một số quan sát viên lưu tâm đến vấn đề Mỹ, Trung Cộng và Việt Nam.

1- Chuyến đi Mỹ của Phạm Quang Nghị

Trong năm 2014 báo chí đã ồn ào bàn tán về chuyến đi Mỹ của Phạm Quang Nghị với tư cách Ủy viên Bộ Chính Trị, Bí Thư Thành Ủy Hà Nội, trong khi Phạm Bình Minh đang chuẩn bị sang Mỹ để hội đàm với ngoại trưởng Kerry theo lời mời. Nhưng bất ngờ Bộ Chính Trị “chặn” Phạm Bình Minh lại và đưa Phạm Quang Nghị đi Mỹ, ông Phạm Quang Nghị đã gặp một số giới chức cao cấp và chính khách Mỹ như Thứ trưởng Ngoại giao đặc trách các vấn đề chính trị Wendy Sherman, ông Thomas Shannon, cố vấn của Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ John Kerry, Phó Cố vấn An ninh Quốc gia của Tổng Thống Obama Tony Blinken, kể cả quyền Chủ Tịch Thượng Viện Patrick Leahy, và Thượng nghị sĩ John McCain. Nhưng ngoại trưởng Kerry từ chối tiếp đón ông Nghị. 

Chuyến đi có thể mang theo thông điệp của người lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam về vị trí của ông Nghị. Đương kim Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng muốn cho chính quyền Mỹ thấy ông Phạm Quang Nghị là một ứng cử viên mà ông Trọng sẽ đề cử vào ghế Tổng Bí thư và chuyến đi cũng giúp ông Nghị học kinh nghiệm đối ngoại và cũng để chứng tỏ năng lực của ông khi tranh chức vụ Tổng Bí Thư đảng. 

Phạm Quang Nghị, một người thuộc phe Nguyễn Phú Trọng, thân Trung Cộng, được cử đi Mỹ thay Phạm Bình Minh cũng có tác dụng như một liều thuốc an thần cho Trung Cộng. Tín hiệu này cho thấy phe bảo thủ trong đảng có vẻ muốn chủ động và trực tiếp hơn trong quan hệ với Mỹ.

Giáo sư Thayer cho rằng Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tỏ thái độ nhân nhượng Trung Cộng quá mức khi không đáp ứng lời mời của Ngoại trưởng Mỹ dành cho ông Phạm Bình Minh.

Báo chí Việt Nam tường thuật rằng tại các cuộc gặp gỡ với các giới chức cao cấp của Mỹ, ông Nghị yêu cầu Hoa Kỳ mở rộng thị trường cho các hàng hóa do Việt Nam sản xuất, hạ các rào cản thương mại, khuyến khích đầu tư vào Việt Nam và thừa nhận nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế thị trường.

Món quà lạ lùng mà ông Nghị “tặng” cho Thượng Nghị Sĩ John McCain, được coi là một sự lố bịch ngoại giao. Hai tấm ảnh chụp bia kỷ niệm chỗ bắn rơi máy bay của ông McCain, bia khắc ông McCain đang quỳ gối giơ tay đầu hàng và có dòng chữ “NGÀY 26 10 1967 TẠI HỒ TRÚC BẠCH QUÂN VÀ DÂN THỦ ĐÔ HÀ NỘI BẮT SỐNG TÊN JOHN SNEY MA CAN THIẾU TÁ KHÔNG QUÂN MỸ LÁI CHIẾC MÁY A4 BỊ BẮN RƠI TẠI NHÀ MÁY ĐIỆN YÊN PHÚ. ĐÂY LÀ MỘT TRONG 12 CHIẾC MÁY BAY BỊ BẮN RƠI CÙNG NGÀY” .

Một món quà quái gở mà chưa có quốc gia văn minh nào tặng cho chủ nhà khi đến viếng, ngoại trừ người cộng sản Việt Nam. Món quà của người tiền văn minh! Cộng thêm sự kém cỏi về ngoại giao khi viết sai tên người nhận và vô lễ khi dùng từ “tên john sney”.

2- Chuyến đi Tàu của Phạm Bình Minh

Ông Phạm Bình Minh, con trai của cựu Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, trước đây đã phản đối Hội nghị Thành Đô bán nước cho TC và đã cay đắng thốt lên: “thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã khởi sự...”.

Nhận lời mời của Ủy viên Quốc vụ viện Trung Cộng, ông Dương Khiết Trì, Phó Thủ Tướng kiêm Ngoại Trưởng CSVN, ông Phạm Bình Minh đã tới Bắc Kinh, tham dự phiên họp lần thứ 8 Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam Trung Cộng ngày 17-19/6. Theo truyền thông trong nước, hai bên đã trao đổi về vấn đề trên biển, nhấn mạnh cần tuân thủ thỏa thuận về những nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam – Trung Cộng, đàm phán và tìm kiếm giải pháp mà hai bên có thể chấp nhận được, cùng kiểm soát bất đồng trên biển. Hai bên cũng đồng ý thực hiện đầy đủ bản Tuyên Bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ Quy Tắc Ứng Xử ở Biển Đông (COC) ; không có hành động làm phức tạp thêm, mở rộng tranh chấp, duy trì quan hệ hai nước và hòa bình, ổn định ở Biển Đông.

Buổi chiều ngày 18/6/2015, tại Đại Lễ Đường Nhân Dân, ông Phạm Bình Minh đã tiếp xúc với Thủ tướng Trung Cộng, ông Lý Khắc Cường. Vẫn theo truyền thông trong nước, hai bên tiếp tục đồng ý kiểm soát tốt bất đồng ở Biển Đông, không làm phức tạp tình hình trên biển, giải quyết bất đồng trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982. Cùng ngày, ông Phạm Bình Minh đã gặp mặt Ngoại trưởng Trung Cộng, ông Vương Nghị.

Tức khắc ngay sau khi ký kết, nhiều tàu cá của Việt Nam ra khơi đánh bắt tại ngư trường truyền thống trên quần đảo Hoàng Sa, liên tiếp bị tàu của Trung Cộng đâm, cướp tài sản, ngư cụ, toàn bộ số hải sản đánh bắt được và hành xử thô bạo với ngư dân Việt Nam. 

Hình ngư dân bị đánh đập đến mang thương tích. 

Ông Phạm Bình Minh ký các bản cam kết có hại cho VN theo lệnh của Ủy Ban Chỉ Đạo Hợp Tác Song Phương mà thực chất là VN thực hiện gần như vô điều kiện mọi yêu cầu của Trung Cộng.

Trong việc xây dựng, bồi cơi những bãi san hô, bãi đá ngầm, Trung Cộng tuyên bố việc xây dựng nhằm mục đích tuân thủ trách nghiệm và nghĩa vụ quốc tế bằng cách cung cấp các cơ sở mới để hỗ trợ, tìm kiếm và cứu nạn trên biển, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, nghiên cứu khoa học hải dương, quan sát khí tượng học, bảo vệ môi trường, an ninh hàng hải, dịch vụ sản xuất ngư nghiệp và các lĩnh vực khác. Đó là hành động thật, với giọng điệu giả mà Trung Cộng luôn lập lại trong bang giao quốc tế..

Trung Cộng lo rằng vì chuyện Biển Đông, Việt Nam rất có thể hoàn toàn ngã theo Mỹ. Trong khi đó Hoa Kỳ cũng đang có những ủng hộ nhất định đối với Việt Nam ở Biển Đông. Về lâu dài mong muốn Việt Nam trở thành mắt xích quan trọng trong chiến lược tái cân bằng châu Á. (Đa Chiều).

Trung Cộng cũng muốn Việt Nam không lên tiếng trước những vi phạm luật quốc tế của họ ở Biển Đông để cô lập Philippines. Do đó Bắc Kinh thường truyền đạt thông điệp, chủ trương của họ về Biển Đông thông qua các kỳ họp của Ủy Ban Chỉ Đạo Quan Hệ Hợp Tác Việt Nam và Trung Cộng.

Ông Phạm Bình Minh đã ký bản Cam Kết không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp, duy trì quan hệ hai nước và giữ hòa bình, ổn định ở biển Đông, thỏa thuận những nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển giữa VN TC, đàm phán và tìm kiếm giải pháp mà hai bên có thể chấp nhận được, cùng kiểm soát bất đồng trên biển. Ông gián tiếp hợp thức hoá những hành động ngang ngược mà Trung Cộng đã làm.

3- Chuyến đi Mỹ sắp tới của Nguyễn Phú Trọng

Tin tức từ trang mạng điện tử cho biết Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng sắp đi Mỹ với lời hứa hẹn là sẽ được Tổng thống Barack Obama đón tiếp theo nghi thức cao nhất dành cho các nguyên thủ.

Ông Trọng phải diện kiến Tập Cận Bình từ 7 đến 10/4 năm 2015 trước khi đi Mỹ hội kiến với Tổng Thống Obama Hoa Kỳ từ 7-9/7/2015. Chuyến viếng thăm TC của ông Trọng hứa hẹn gìn giữ mối quan hệ song phương sẽ tiếp tục tốt đẹp trên căn bản 4 tốt và 16 chữ vàng. Trung Cộng có lẽ sẽ gây áp lực để Việt Nam không tiến hành các hành động pháp lý về tranh chấp trên biển Đông, và không tiến quá gần Hoa Kỳ và có thể chỉ thị cho Việt Nam giới hạn việc tiếp nhận vũ khí từ Hoa Kỳ.

Phe lợi ích của Nguyễn Tấn Dũng có lúc đưa ra những tuyên bố gây ấn tượng về dân chủ và pháp quyền, về luật phạt tù những kẻ ngăn cản tự do ngôn luận, về thí điểm diễn đàn trí thức phản biện. Nhưng kể từ sau chuyến viếng thăm Bắc Kinh của Nguyễn Phú Trọng gió đã đổi chiều. Có lẽ ông Trọng đã được ông Tập hứa hẹn điều gì đó, chỉ bảo hướng đi trong đaị hội đảng lần thứ 12 sắp đến. 

Có thể ông Tập đã hà hơi cho ông Trọng là phải nâng cao uy tín, giữ vững nhóm thân Bắc Kinh để tiếp tục khống chế Việt Nam, nắm vững VN trong chiến lược Biển Đông của Mỹ.

Nhiều người nghĩ rằng việc ông Nguyễn Phú Trọng chỉ dám nhận lời thăm Mỹ sau khi thăm Trung Cộng. Ông cũng có thể đã nhận lệnh của Bắc Kinh, sau khi họ Tập đã tính toán kỹ kịch bản, đường đi nước bước để biến ông Trọng thành một con bài có lợi trong cuộc bang giao với Mỹ và cũng để dễ bề biến Việt Nam thành chư hầu của Trung Cộng.

Về phía Hoa Kỳ, Tổng thống Mỹ Obama bày tỏ mong muốn làm sâu sắc hơn nữa quan hệ với Việt Nam, nhấn mạnh quan hệ đối tác toàn diện Việt - Mỹ được thiết lập năm 2013 đã tạo ra khuôn khổ cho việc thúc đẩy hơn nữa quan hệ song phương, đặc biệt trong các lĩnh vực kinh tế, an ninh, năng lực hàng hải, biến đổi khí hậu và môi trường, giáo dục và quyền con người.

Việt - Mỹ sẽ tiếp tục thúc đẩy khai triển hiệu quả hơn nữa chín lĩnh vực ưu tiên của quan hệ đối tác toàn diện, từ chính trị đến kinh tế, quốc phòng, an ninh, khoa học, công nghệ, giáo dục, giao lưu nhân dân và các vấn đề khác. Về hợp tác đa phương, hai bên chia xẻ những lợi ích chiến lược trong việc thúc đẩy xây dựng cộng đồng ASEAN và củng cố vai trò trung tâm của ASEAN trong các cấu trúc khu vực đang định hình, đồng thời tiếp tục hợp tác trong các diễn đàn khu vực cấp cao Đông Á (EAS), Diễn Đàn Hợp Tác Kinh Tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn Đàn Khu Vực ASEAN (ARF).

Những người lạc quan cho rằng đây là một cơ hội lớn để ông Trọng rửa tiếng nhơ bán nước cho Trung Cộng để giữ quyền lực.

Nếu ông Trọng không nhân dịp này mà lập công chuộc tội với nhân dân VN, liên minh thực sự với Mỹ để bảo vệ và phát triển đất nước, giải tán đảng cộng sản VN, thiết lập thể chế dân chủ tự do, tôn trọng nhân quyền, chinh trị đa nguyên thì tội “cõng rắn về cắn gà nhà” của ông và giới cầm quyền tham nhũng VN thật ngàn năm khôn rửa.

Nguyễn Phú Trọng có cái may mắn của lịch sử để thực hiện sứ mạng này, và cũng là cơ hội để ông có thế chuộc lại những lỗi lầm cực kỳ to lớn, nguy hiểm do những người tiền nhiệm và cả chính ông gây ra cho dân tộc.

Hai chuyến đi của Tổng Bí Thư Trọng có thể sẽ thiết lập cơ sở để đảng CSVN đóng vai trò quyết định trong các quan hệ quốc tế trong 5 năm tới sau cuộc bầu cử của đảng lần thứ 12 vào đầu năm 2016.

Theo nhận định của nhà văn Võ Thị Hảo thì hành trang Mỹ du của ông Trọng là một chiếc va li trong đó cuộn tròn một con rắn Trung Cộng.

02.07.2015

Ban bảo vệ sức khỏe trung ương: Tướng Thanh "đang trị bệnh tại Pháp"

Đúng 0 giờ ngày 2/7/2015, báo Tuổi Trẻ dẫn nguồn tin từ ban bảo vệ và chăm sóc sức khỏe trung ương cho biết, bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh "đã đi Pháp để trị bệnh cách đây một tuần".

Như vậy, sau 12 ngày hoàn toàn "mất tích", đây là lần đầu tiên một cơ quan của đảng chính thức lên tiếng về sự vắng mặt của tướng Thanh.

"Ông Thanh từng bị chấn thương vùng ngực từ thời chiến tranh, lâu dần chấn thương đó khiến một bộ phận phổi bị xơ", báo Tuổi Trẻ dẫn nguồn tin cho biết.

Cũng theo báo này, ông Thanh đã được phẫu thuật khối u ở phổi vào tối ngày 30/6/2015. 

Tuy nhiên, tình trạng hồi phục sau ca mổ của ông này không được tiết lộ.
Điều khá đặc biệt là dù luôn miệng gọi Trung Cộng là "bạn vàng", nhưng chính bản thân ông Thanh lại chọn nước Pháp chứ không dám để "bạn" Trung Cộng chữa bệnh giúp.

Sinh mệnh chính trị của tướng Thanh

Theo dự kiến, đại tướng Phùng Quang Thanh sẽ tháp tùng tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong chuyến thăm Mỹ vào tuần tới, bắt đầu từ ngày 7 đến 9/7/2015. 

Nguồn tin của BBC cho rằng, trong chuyến đi này hai bên sẽ ký kết bản 'Tuyên bố tầm nhìn chung Việt Nam - Hoa Kỳ về quan hệ quốc phòng, định hướng hợp tác quốc phòng thời gian tới'.

Với hoàn cảnh bệnh tật như trên, khả năng tướng Thanh có thể sang Mỹ là không nhiều. 

Thêm vào đó, sinh mệnh chính trị của người đứng đầu bộ quốc phòng CSVN hiện cũng đang là điều khó nói trước.

Theo như một số lời đồn đoán, nhờ được Tàu chống lưng nên đại tướng Phùng Quang Thanh là một ứng cử viên nặng ký cho chiếc ghế tổng bí thư, hoặc ít nhất cũng là chủ tịch nước vào năm 2016.

Dù vậy, những thông tin trên dễ khiến người ta liên tưởng đến một kịch bản tương tự như những gì xảy đến với trưởng ban nội chính trung ương Nguyễn Bá Thanh.

Rõ ràng, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đang đối mặt với nguy cơ chấm dứt sự nghiệp chính trị ở tuổi 66. 

Câu hỏi được đặt ra: Ai sẽ lên thay tướng Thanh nắm giữ bộ quốc phòng? Nếu nhân vật đó là thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh thì xem như Bộ Quốc phòng CSVN đã đến hồi mạt vận.

2/7/2015

Powered By Blogger