Monday, June 1, 2015

Kiểm tra hộ khẩu

Con Mích sủa lên ba tiếng bỗng dưng im bặt. Chị Lựu lo lắng. Điều này chỉ có thể là cướp. Dấu hiệu hệt như lần gặp cướp năm ngoái. Con Mích nhà chị cũng sủa lên một hồi ngắn rồi chẳng hiểu sao, nó lủi ngay ra sau vườn nấp.

Ba tên cướp mặt mày dữ tợn, xăm trổ đầy mình đạp cửa bước vào, dao nhọn lăm lăm trong tay:

- Tiền vàng đâu đưa hết đây.

Vợ chồng chị đứng ngây ra không biết phải xử lý thế nào vì quá bất ngờ. Thảng thốt một lúc, chị mới nói được câu:

- Nhà nghèo… có gì lấy được các anh cứ lấy… chúng tôi chẳng chống.

Chúng nhìn chòng chọc vào cổ, vào tay chị thấy chẳng có ly vàng nào liền chia nhau xông vào các phòng. Lục lọi hồi lâu không có gì. Sờ khắp người anh Kha (chồng chị) cũng không có gì. Móc túi chị được mấy đồng bạc lẻ, chúng ném toẹt xuống nền nhà, tiện chân đạp anh Kha một cái làm anh ngã dúi vào góc tường:

- Cảnh cáo mày về tội nghèo. Phí cả công chúng tao.

Ngôi nhà mà chị đang ở là của bố mẹ chồng để lại. Từ khi ruộng bị thu hồi để làm dự án Khu đô thị thì nhà chị lâm vào cảnh túng quẫn. Nhà nông không có ruộng lấy gì mà sống. Bàn ghế, tủ, điều hòa, xe máy lần lượt đội nón ra đi. Người lạ nhìn ngôi nhà khá khang trang so với các nhà xung quanh trong xóm nghèo cứ nghĩ là nhà chị có của ăn, của để.

Lần này, con Mích cũng sủa lên rồi im bặt. Chó mà không dám canh nhà chỉ có thể là gặp cướp. Nếu là cướp chắc là toán khác, vì toán năm ngoái lạ gì gia cảnh nhà chị.

Tiếng gõ cửa khô khốc trong bóng đêm nghe rờn rợn. Tim chị đập thình thịch, lòng nóng dội ngược lên. Chị chưa kịp tính xem có nên mở không thì một giọng gay gắt:

- Mở cửa ra! Công an đây!

Không phải vỏ dưa thì cũng vỏ dừa. Chân tay chị vẫn tiếp tục run bắn. Không hiểu công an đến nhà chị vào lúc khuya khoắt thế này có chuyện gì. Loay hoay mãi, chị mới mở được cửa. Ba người đàn ông bước vào. Một người mặc sắc phục xanh còn hai người mặc thường phục.

Chị Lựu cầm chiếc ấm sứt vòi định rót nước ra cốc. Người mặc sắc phục gạt đi:

- Thôi khỏi. Vào việc luôn cho nhanh. Tôi là công an huyện, đồng chí này là trưởng công an xã, còn đồng chí kia là cảnh sát khu vực. Chúng tôi đến để kiểm tra hộ khẩu. Trước hết, yêu cầu chị cho xem sổ.

Chị Lựu vào lục chiếc hòm gỗ hồi lâu rồi quay ra đưa cho viên công an huyện một quyển sổ màu xanh dương, bé bằng nửa tờ giấy A4. Anh ta mở ra:

- Nhà này có hai người thôi à? Chồng chị đâu?

- Dạ, con gái đã đi lấy chồng, còn nhà em mới mất tháng trước.

Cậu cảnh sát khu vực nhanh nhảu xác định:

- Đúng đấy anh ạ. Anh ta chết trong vụ tai nạn giao thông hôm mùng ba tháng hai.

Trưởng công an xã hỏi:

- Vậy cô đã làm thủ tục khai tử chưa?

- Dạ chưa, em cứ tưởng chết rồi thì thôi. Mới lại tang gia đang bối rối quá.

- Thôi là thôi thế nào. Nhà nước quản lý trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện. Cái gì cũng phải có quy định. Không thì xã hội loạn à.

Nói đoạn, anh ta cầm quyển sổ hộ khẩu đang để trên bàn, lật lật:

- Sinh năm bảy tư à? Bốn mươi mà góa bụa cũng uổng nhỉ. Thôi, để hôm nào rảnh, tôi đến hướng dẫn thủ tục khai tử cho. Hôm nay chỉ kiểm tra hộ khẩu thôi.

Vừa nói, anh ta vừa nhìn chòng chọc vào bộ ngực căng đầy của chị. Hai nốt chấm hồng hồng nổi lên dưới lớp áo phông mỏng như hai nửa trái sim chớm chín nói lên ngực chị đang trong tình trạng thả lỏng.

Cảm nhận đang bị trưởng công an xã quan tâm, chị Lựu đỏ mặt chạy vào nhà trong khoác thêm chiếc áo ngoài, mặc dù trời khá nóng.

Công an huyện hỏi:

- Chứng minh thư đâu?

Chị Lựu ngơ ngác:

- Sao lại còn phải chứng minh thư nữa ạ?

- Không thì lấy gì làm bằng chứng để biết chị là Vũ Thị Lựu. Nhỡ chị là khách đến trông nhà hộ thì sao?

Chị Lựu lại vào lục chứng minh nhân dân ra.

Viên công an huyện chẳng cần đối chiếu chị với ảnh trong chứng minh thư. Anh ta hờ hững cầm đặt lên bàn:

- Trong nhà có ai nữa không?

- Không… À, mà chỉ có đứa trẻ con thôi ạ.

- Không phải bỗng dưng chúng tôi vào đây. Tôi nghe quần chúng báo nhà chị có khách lạ. Chị gọi khách đang lưu trú ra đây.

Chị chạy vào, lay thằng bé dậy, dắt nó ra:

- Đứa cháu gọi em bằng dì. Mẹ nó lên mạn ngược có việc, gửi em mấy ngày.

Công an khu vực hỏi:

- Chị khai báo lưu trú chưa?

- Cháu nó mới lên mười, em tưởng…

- Tưởng ở Đài Loan nhá. Theo luật thì người từ 14 tuổi trở lên mới phải khai báo lưu trú. Như thế có nghĩa là nếu chưa đủ 14 tuổi thì phải có giấy tờ chứng minh. Khai sinh của người này đâu?

- Mẹ cháu chỉ gửi người, không gửi theo giấy khai sinh.

Trưởng công an xã ra chiều thông cảm:

- Hoặc là thứ giấy tờ nào cũng được. Như là thẻ học sinh chẳng hạn.

- Dạ, cháu nó thiểu năng trí tuệ, chưa đi học ạ.

Công an huyện nghiêm giọng:

- Như vậy, nhà chị chứa chấp khách lạ mà không khai báo lưu trú. Cũng không chứng minh được người này thuộc độ tuổi không phải báo. Thực tế, có nhiều người già sáu bảy mươi nhưng trông chỉ bằng đứa trẻ con. Ngược lại, có đứa trẻ con nhưng nặng tới năm sáu mươi cân, cao hẳn mét sáu, biết thế nào. Chị phải hiểu, chúng tôi làm việc theo pháp luật. Theo qui định, chị bị phạt một triệu năm trăm nghìn đồng. Đồng chí Vương (tên cậu cảnh sát khu vực) lấy giấy tờ ra lập biên bản.

Chị Lựu có vẻ khó giữ được thái độ nhã nhặn ban đầu:

- Các anh kiếm tiền (chị định nói là cướp nhưng chữa lại được) thì dễ. Chứ hoàn cảnh tôi lúc này thì lấy đâu ra triệu rưỡi nộp bây giờ?

Trưởng công an xã ra chiều thông cảm:

- Hay là cô nộp tại đây cũng được. Nộp tại đây thì chúng tôi giảm cho năm trăm nghìn, lại đỡ mất công ra kho bạc.

Đã ngửi thấy mùi trấn lột, chị Lựu xẵng giọng:

- Một triệu tôi cũng không có. Các anh muốn làm gì thì làm.

- Cô không chịu thì chúng tôi có biện pháp cưỡng chế. Ngôi nhà này phát mại chẳng lẽ không được vài triệu.

Công an khu vực đã viết xong biên bản:

- Chị ký vào đây.

Chị Lựu nổi đóa:

- Tao không ký tá gì hết. Tao không cướp ra tiền như chúng mày. Cút ngay khỏi nhà tao.

Nói đoạn, chị giật lấy tờ biên bản xé vụn ném vào mặt viên công an huyện. Hắn ngỡ ngàng vài giấy rồi bất ngờ giơ thẳng cánh tát chị bốp một cái. Tai chị ù đi. Một dòng nước đỏ chảy ra từ khóe miệng chị.

Chị Lựu không còn biết sợ nữa. Chị đạp thẳng vào sườn tên công an huyện làm hắn ngã ngồi xuống ghế, đầu đập vào góc tường. Hắn vừa loay hoay ngồi dậy, vừa chỉ tay quát:

- Chống người thi hành công vụ hả? Các đồng chí! Giải nó về huyện.

Hắn rút điện thoại ra:

- Đề nghị anh điều xe và người tăng cường để bắt đối tượng chống người thi hành công vụ. Nhà con Lựu, xóm Bãi.

Chị Lựu quệt máu miệng, đứng dậy rồi cầm lấy chiếc ghế vừa ngồi, phang thẳng vào đầu tên công an huyện:

- Này chống này! Tao chống cho chúng mày bắt đi tù luôn thể. Tử hình tao cũng được. Chồng tao chết rồi, tao không thiết sống ở cái gầm trời khốn nạn này nữa.

Kiểu gì thì ba người đàn ông cũng không thể thua một người đàn bà góa. Trưởng công an xã và công an khu vực lao ngay đến áp sát chị. Tên công an khu vực túm tóc chị, quấn hai vòng vào tay, dập liên tiếp đầu chị vào tường.

Trưởng công an xã đẩy cậu công an khu vực ra, nhận lấy nhiệm vụ khống chế chị Lựu. Một tay hắn quàng sau lưng, tay kia luồn qua nách chị, chộp vào chỗ có nửa trái sim nhô lên. Thoáng vài giây, có lẽ nhận ra chỗ ấy không phải là tử huyệt để khống chế kẻ chống đối, vả lại làm thế cũng khó coi nên hắn duỗi năm ngón tay ra, miết vào bộ ngực đầy ứ của chị rồi đan lấy tay kia tạo thành thế gọng kìm khiến đối tượng không thể dễ dàng di chuyển.

Tuy nhiên, bắt chị không đơn giản chỉ như thế. Chị có sức lực của người phụ nữ chưa quá hoa niên, lại có sự nhanh nhẹn của người nông dân quen lao động chân tay. Ngực chị bị khóa nhưng đó đâu phải là bộ phận có thể dùng tấn công hay tự vệ. Hai tay chị cào cấu vào mặt trưởng công an xã còn chân đạp liên tục vào hai tên kia mỗi khi chúng xông vào tiếp sức. Giằng co được chừng 15 phút thì hai xe cảnh sát được tăng cường tới.

Một tiểu đội cảnh sát nhảy xuống. Lúc này, việc khống chế chị Lựu đơn giản hơn. Bốn thằng túm lấy chân tay chị khiêng đi ấn vào xe. Con Mích nhà chị trốn từ đầu, hình như lúc này nó đã hiểu điều gì đang xảy ra với chủ nó. Nó chạy về phía trước, tru lên thảm thiết. Thấy không tác dụng gì, nó vừa sủa, vừa xông vào đám người đang bắt chủ nó đi. Tay công an huyện rút súng nổ một phát. Con Mích ngã ra, giãy giãy mấy cái rồi nằm bất động.

Chợt nhớ ra, tay công an huyện quát mấy cậu lính vừa được tăng cường:

- Vào lôi luôn thằng cư trú bất hợp pháp lên đồn để làm rõ.

Thằng bé từ đầu mặt tái mét, ngây ra không biết nói gì, vì nó chưa biết nói. Đám lính định nhét nó vào chiếc xe đầu tiên, nơi dì nó đã bị đưa lên từ trước. Nhưng viên công an huyện kịp thời can thiệp:

- Cho nó vào xe sau để tránh thông cung.

Hai chiếc xe nổ máy phóng về phía thị trấn huyện, để lại phía sau xác con Mích với ngôi nhà trống và trả lại sự im lặng bao trùm lên xóm Bãi. Dân xóm thấy bóng công an, nhà nào nhà nấy đóng chặt cửa, không ai dám thò mặt ra.

***

Lời cuối truyện:

Chị Lựu sau đó bị kết án 18 tháng tù về tội chống người thi hành công vụ. Trong trại giam, chị ở cùng phòng với Hạnh, một tù nhân chính trị bị án 7 năm về tội tuyên truyền chống Nhà nước. Hạnh là một cô gái chưa đến ba mươi tuổi, yêu đời, hay quan tâm và đấu tranh bảo vệ quyền lợi cho các nữ tù nhân khác. Tiếp xúc với Hạnh, chị Lựu hiểu biết thêm nhiều chuyện. Thì ra, nỗi thống khổ của con người không chỉ có chị và những người dân quê chị. Và những con người như mấy tay công an kiểm tra hộ khẩu nhà chị đêm hôm đó, cũng như đám cán bộ địa phương cũng chỉ là loại người đáng thương, sản phẩm của một cái gì đó rất trừu tượng mà Hạnh đã giúp chị hình dung ra. Cũng nhờ Hạnh mà chị hiểu từ trước đến nay, chị sống không ra con người mà không hề biết. Nỗi sợ hãi đã làm cho chị không biết được mình có quyền gì. Chị cứ nghĩ, cuộc đời nó phải là như thế. Đi tù, chị mới hiểu tại sao người ta gọi nhà tù là trường học.

18 tháng trôi qua "như một giấc ngủ trưa". Ra tù, chị lục lại hồ sơ vườn ruộng đã bị cưỡng chế, nhập vào các đoàn dân oan đi đòi quyền sống. Điều đó có nghĩa, hàng ngũ đấu tranh thêm một chiến sĩ nữa. Không chỉ đòi quyền lợi cho mình, chị và những người dân oan còn tham gia các hoạt động xã hội khác như làm thiện nguyện, bảo vệ môi trường, bảo vệ biển đảo của Tổ Quốc. 

Dù thường xuyên bị bắt bớ, đàn áp nhưng chị cảm thấy bây giờ cuộc sống của chị mới có ý nghĩa. Chị không còn thui thủi như một cái bóng nữa. Nhà chị ngày càng nhiều bạn bè và những người dân oan lui tới. Lòng chị xốn xang hình dung về tương lai của Đất nước, của Dân tộc. Chị đặc biệt phấn khích mỗi khi hòa vào dòng người vừa giương biểu ngữ vừa hát: "Dậy mà đi! Dậy mà đi! Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi!..."

1/6/2015


Nguyễn Tường Thụy

Đảng Cộng Sản Hà Nội bán con người Việt Nam như bán nô lệ!


I. Khái Quát

Mặc dù là một nước Xã Hội Chủ Nghĩa - tức là một đường lối chính trị được rao giảng là vì người nghèo- cho người nghèo nhưng Việt Nam lại đang là nước đứng đầu về tệ nạn xuất khẩu con người ra năm châu bốn bể. Thân phận con người Việt Nam trong Xã Hội Chủ Nghĩa chẳng lẽ nào cũng ngang hàng như hàng hóa hay sao?

Bốn chữ "xuất khẩu lao động" không hề nghe đến và tưởng tượng nổi vào thời Việt Nam Cộng Hòa nhưng lại trở thành phổ biến dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa kể từ năm 1980 trở đi. Đi theo Chủ Nghĩa Xã Hội mà lại bán con người như thế thì là một sự khôi không thể ngờ được trong lịch sử Việt Nam ta.

Bốn chữ "xuất khẩu cô dâu" cũng là bốn chữ mà người dân Việt Nam Cộng Hòa không nghĩ ra nổi, cũng chỉ xuất hiện dưới thời đại Xã Hội Chủ Nghĩa mà thôi. Tệ nạn buôn người qua ngã "xuất khẩu cô dâu" đang lan rộng, trở thành là phương thức buôn bán con người hợp pháp.
Nhiều công nhân xuất khẩu Việt Nam chịu cảnh lao động khổ sai (1) 

Người nghèo cùng cực phải bán thân, bán sức lao động trở thành nô lệ ở xứ người mà sống, đất nước ngày nay sao còn có người chẳng thấy điều này là sỉ nhục, là căm phẩn mà vẫn nhởn nhơ toan tính chuyện mua quan bán tước, chạy chức chạy quyền vào Đảng để ấm thân.

II. Thành tích "xuất khẩu lao động" của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

1. Thống kê về “xuất khẩu lao động

Giới chức Cộng Sản Hà Nội thừa nhận trong số 500 ngàn lao động Việt Nam được xuất khẩu, thì ít nhất 246 ngàn người là lao động nữ. 

Không ráng tạo ra các chương trình an sinh xã hội, tài trợ tài chánh dồi dào cho người nghèo về nhà cửa, thực phẩm, giáo dục, Cộng Sản Hà Nội thúc đẩy bán con người ra năm châu bốn bể để lấy ngoại tệ về cho Đảng, bất kể người dân phải làm những công việc nặng nhọc, thấp hèn mà dân bản xứ chê bai không muốn làm. Việt Nam được coi là một trong những nước xuất khẩu lực lượng ở đợ OSIN nhiều nhất Đông Nam Á. 

Sau đây là bản thống kê thành quả buôn bán con người- xuất khẩu lao động của Cộng Sản Hà Nội ra năm châu bốn bể, tổng kết các tài liệu từ Cục Quản lý Lao động Ngoài nước, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội và thống kê của cơ quan Liên Hiệp Quốc: United Nations Inter-Agency Project on Human Trafficking- UNIAP


Số lượng 747 ngàn người xuất khẩu lao động quá nhiều như vậy chỉ có thể đạt khi chế độ Cộng Sản độc quyền ở Hà Nội thúc đẩy khuyến khích xuất khẩu lao động. Các công ty dịch vụ tuyển người lao động ra ngoại quốc điều do Nhà Nước hoặc Đảng nắm hết. 

Tất cả các nạn nhân của cái gọi là xuất khẩu lao động phải mượn tiền để lo các chi phí dịch vụ khi nộp đơn đăng ký xin được xuất khẩu lao động cho nên dù bị ngược đãi như nô lệ ở xứ người, các nạn nhân cũng phải ráng chịu đựng vì bị ngập chìm trong nợ nần do tổn phí lo lót nộp cho Đảng và Nhà Nước để được đi xuất khẩu lao động.

Trang web dưới đây (của Đảng) cho thấy rõ ý đồ thúc đẩy xuất khẩu lao động- mua bán con người công khai của Cộng Sản Hà Nội (2)


Các nạn nhân nghèo khổ cùng cực phải bán sức lao động mà sống làm gì mà có nổi phân nữa số tiền cước phí cũng như tiền đặt cọc (từ 200 Mỹ kim đến 600 Mỹ kim.)

Ở Việt Nam, nhiều khi dành dụm cả nửa đời bằng sức lao động xích-lô ba gác cũng chỉ gom góp được hai ngàn đô là cùng trong một quốc gia có 17.5% tỷ lệ nghèo khó- với mức thu nhập bình quân quốc dân thấp nhất Đông Nam Á, không quá hai ngàn Mỹ kim một năm.

Cho nên, hầu hết các nạn nhân phải mượn tiền cả hai đầu, một đầu cho vay nặng lãi của bọn cò mồi tay chân và một phần từ các ngân hàng do cán bộ Đảng nắm. Đó là chưa kể tiền "trà nước" hối lộ qua các cửa để hồ sơ được suôn sẻ xuôi lọt. 

Dân nghèo tay trắng, không học thức không nghề nghiệp lấy đâu ra 1,200 đô-la mà nộp phí ngoại trừ mượn nợ bán thân. Chưa gì mà các nạn nhân đã chìm ngập nợ nần khoảng trên dưới gần cả ngàn Mỹ kim để có thể lên đường đi lao động-trở thành một thứ hàng hóa nô lệ trong hoạt động buôn người của chế độ.

Chính phủ đã có tiền cho mượn đi xuất khẩu lao động cả ngàn đô, sao không dùng tiền đó, cho các nạn nhân mượn để ăn học chi phi ở Đại Học, khi ra trường nếu có việc làm thì từ trả lại trong thời hạn 30 năm? Không, Cộng Sản Hà Nội không biết tính toán kiểu đó, họ chỉ bán dân để lấy ngoại tệ liền ngay tức khắc mà thôi.

Đây là căn nhà của bà Loan, mẹ của anh Trần Văn Tuyên. Anh Tuyên sanh năm 1991, đi lao động ở Mã Lai, bị ngược đãi và chết cháy tại Mã Lai. Ở trong một căn nhà như vầy thì gia đình anh Tuyên làm gì có 1,200 Mỹ kim để nộp hồ sơ xin đi lao động trừ phi lún sâu trong nợ nần để được đi lao động. (3)

Các nạn nhân chìm ngập trong nợ nần nên cắn răng chịu đựng tù đày, mong vừa trả nợ, vừa giúp gia đình thoát khỏi nghèo khó cùng cực. Thật không ngờ, dân tộc Việt Nam, văn hiến kiêu hùng đánh bại Mông Nguyên nay lại phải bán thân ở đợ nhục nhã khắp năm châu, bị đối xử như nô lệ.

Phải chăng đó là thành quả tốt đẹp của cái gọi là Chủ Nghĩa Xã Hội, chống đối chuyện người bóc lột người?

2. Thảm cảnh của nạn buôn bán con người do Đảng Cộng Sản Hà Nội tiến hành

Hàng loạt các vụ các nạn nhân của "xuất khẩu lao động" sống tồi tệ như nô lệ lần hồi được khám phá phanh phui. Ngoài vụ xưởng may ở Nga năm 2012 với 14 công nhân bị chết cháy vì bị nhốt trong xưởng không đường thoát; vào tháng chín năm 2005, hơn ba mươi công nhân- xuất khẩu lao động của Việt Nam đã phải kêu cứu trước chính quyền sở tại Malyasia. Mọi người bàng hoàng trước tình trạng các công nhân này khi phải sống trong các thùng "container," không có cầu tiêu hay nhà vệ sinh, tiêu tiện tại chỗ như heo hay như tù.

Chỉ trong ba năm 2006 đến 2008, chỉ dựa trên tin tức, bản thống kê số người Việt Nam xuất khẩu lao động bị sát hại hay thiệt mạng sẽ như sau:

Bản thống kê 2: Số người Việt Nam bị thiệt mạng khi đi "xuất khẩu lao động" 2006-2008


Đó là chưa kể những tai nạn lao động mà người Việt phải cắn răng chịu đựng vì không có luật pháp hay công đoàn bảo vệ khi đi xuất khẩu lao động. Các tai nạn lao động xảy ra với người Việt Nam đi xuất khẩu lao động điều bị giấu nhẹm nhưng các cơ quan từ thiện của Liên Hiệp Quốc, giới truyền thông cũng đếm được 600 tại nạn lao động dành cho nhân công Việt Nam tại Mã Lai chỉ trong ba năm 2006 đến 2008. Đài Loan cũng có khoảng 500 tai nạn lao động trong cùng thời gian.

Theo bản thống kê 1, Việt Nam có khoảng 748 ngàn lao động ở ngoại quốc thuộc diện "xuất khẩu lao động,” sống chết đói khổ không thể biết được. Giới hữu trách của Liên Hiệp Quốc cho rằng nếu 30 ngàn công nhân Việt Nam tại Nga thuộc diện "xuất khẩu lao động" sống tồi tệ như những nô lệ không có công đoàn, không có luật pháp che chở thì lao động Việt Nam ở những nơi khác cũng sẽ gặp những bất công tương tự.

Giới chức trách tại Nga đã khẳng định 14 công nhân Việt Nam bị chết cháy tại xưởng may ở thành phố Yegoreev vào ngày 11 tháng Tám năm 2012 là do các công nhân này bị khóa nhốt như nô lệ trong xưởng khiến không thể thoát ra khi xưởng bóc cháy do chạm điện. Những công nhân này sang Nga làm việc dưới dạng xuất khẩu lao động, và phải sống trong điều kiện tồi tệ, giam cầm.

Chị Bùi Thị Mịa, một nạn nhân của cái gọi là "xuất khẩu lao động", được giới chức trách Nga cứu thoát khi điều tra sau vụ cháy cho RFI biết như sau: "Từ lúc em sang ấy đến lúc về là 18 tháng lúc em xuống sân bay Việt Nam, em không có một đồng tiền trong tay… làm việc mỗi ngày 16, 17 tiếng đồng hồ... ăn uống thì mỗi tháng được một lần rau quả tươi..."

Giới hữu trách Liên Hiệp Quốc cùng với Cộng Sản Hà Nội buộc lòng phải thừa nhận 40% trăm lao động Việt Nam đi xuất khẩu lao động tại Mã Lai hoàn toàn sống trong điều kiện ngược đãi như nô lệ. Như vậy, theo bản thống kê 1, 40% của 193,531 lao động Việt tại Mã Lai là vào khoảng 77 ngàn người Việt Nam phải chịu cảnh ngược đãi, nô lệ cưỡng bức lao động mỗi ngày. 

Điều này không có nghĩa là ở những quốc gia khác, các công nhân xuất khẩu lao động Việt Nam có một tỷ lệ lệ đối xử khá hơn ở Mã Lai. Vụ 14 công nhân xuất khẩu lao động Việt Nam bị nhốt rồi chết cháy trong xưởng may của Nga càng chứng tỏ ở mọi nơi, mọi quốc gia, thân phận người Việt Nam nghèo khó xuất khẩu lao động đang bị Đảng Cộng Sản Hà Nội bán đi một cách hợp pháp thông qua chương trình xuất khẩu lao động, điều chịu cùng một tỷ lệ, một nguy cơ ngược đãi nô dịch khổ sở kinh khủng giống như ở Mã Lai.

Nếu đúng là như vậy, nhân rộng 40% bị ngược đãi ở Mã Lai cho tổng số 747 ngàn lao động thì con số nạn nhân bị Đảng Cộng Sản bán đi thông qua chương trình xuất khẩu lao động tính từ 2001 đến 2011, bị nguy cơ ngược đãi nô dịch khổ sở kinh khủng sẽ là khoảng 298 ngàn người.

Hơn một phần tư triệu con người Việt Nam sống như nô lệ, bị lao dịch mỗi ngày khắp bốn bể năm châu trên thế giới. Đó là kết luận sáng chói cho thành tích buôn người của Đảng Cộng Sản Hà Nội thông qua chương trình "xuất khẩu lao động." 

Và nếu LỆ PHÍ GIẤY TỜ NỘP CHO ĐẢNG- NHÀ NƯỚC là 1,200 Mỹ kim cho mổi thân phận Việt cùng đinh nghèo khó bán sức lao động thì thông qua thân phận của 747 ngàn con người bị XUẤT KHẨU, Đảng Cộng Sản Hà Nội thu trước về túi riêng bao nhiêu?

III. Thành tích "xuất khẩu cô dâu" của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Thế nhưng trong việc mua bán con người, Đảng Cộng Sản Hà Nội không dừng lại ở chương trình xuất khẩu lao động mà còn buôn người qua một chương trình khác- quy mô, tàn nhẫn hơn và đem về nhiều ngoại tệ không kém thông qua phí giấy tờ dịch vụ- Đó là chương trình xuất khẩu cô dâu.

"Xuất khẩu cô dâu" là một điều mà chẳng có một công dân Việt Nam Cộng Hòa nào mà có thể tưởng tượng hay nghĩ đến nổi. Chỉ có sự "sáng suốt" của Cộng sản Hà Nội mới có thể đẻ ra chiêu bài "xuất khẩu cô dâu" kinh rợn như thế.

Việt Nam trở thành một quốc gia xuất khẩu đàn bà đứng hàng đầu tại Đông Nam Á. Vấn đề hôn nhân là một vấn đề đòi hỏi thời gian, duyên phận và tình cảm nay đã bị Đảng Cộng Sản Hà Nội biến thành một giải pháp hợp pháp để tiếp tục xuất khẩu thân phận con người đổi lấy ngoại tệ.

Đảng Cộng Sản Hà Nội làm ngơ và lấy tiền cấp giấy phép cho các dịch vụ môi giới hôn nhân dành cho người ngoài quốc, nở rộ từ Nam chí Bắc. Nếu không có sự khuyến khích của Cộng Sản Hà Nội thì làm gì mà chuyện xuất khẩu cô dâu có thể lan rộng đại trà như vậy.

Nhờ đó, các hoạt động mua bán đàn bà cũng có cơ hội phát triển thông qua sự hôn nhân giả tạo sau khi đã đóng đầy đủ các cước phí giấy tờ.

Chỉ dựa trên tin tức từ các hãng thông tấn như BBC, VOA, các báo chí của Cộng Sản Hà Nội thì số lượng cô dâu Việt tại các quốc gia châu Á sẽ như sau:


Tuy nhiên, giới hoạt động chống mua bán phụ nữ trẻ em của Liên Hiệp Quốc cho rằng con số thống kê trên là cách biệt quá xa với con số thực tế trước tệ nạn mua bán phụ nữ Việt Nam đang diễn ra đại trà phổ biến do Đảng Cộng Sản Hà Nội âm thầm trợ giúp và làm ngơ để lấy ngoại tệ. 

Tin tức minh họa sự tố cáo của thế giới đối với giới chức Cộng Sản Hà Nội về những liên hệ mua bán phụ nữa trẻ em VN (4)

Cộng sản Hà Nội hời hợt khi đưa ra những con số thống kê về tệ buôn bán phụ nữ thông qua thủ tục hôn nhân và chỉ xuôi cò thừa nhận các dữ liệu thống kê khi đã được giới chức Liên Hiệp Quốc thông báo. Hiện tại, Việt Nam có khoảng 30 ngàn cô dâu bị mất tích không biết rõ số phận ra sao. 

Vào ngày 15 tháng Giêng năm 2015, cảnh sát Mã lai đã giải cứu khoảng 136 phụ nữ Việt ra khỏi tình trạng bị cưỡng bức hành nghề mãi dâm. Trong số gái mãi dâm bị bắt tai Mã lai năm 2012, sở cảnh sát cho biết tổng số phụ nữ gái mãi dâm gốc Việt đã lên đến 3,456 người. Đương nhiên, con số mà nhà chức trách Mã Lai đưa ra không thấm vào đâu so với tổng số gái Việt hành nghề mãi dâm tại xứ này hiện chưa được pháp luật bắt bỏ tù. 

Số phụ nữ Việt Nam bị cưỡng bức hành nghề mãi dâm tại Mã Lai hầu hết đều là nạn nhân của hôn nhân giả tạo với người Trung Quốc, Đài Loan bán sang Mã Lai. Chỉ có 35% là nạn nhân của các vụ xuất khẩu lao động

Riêng tại Ghana, VOA đưa tin cảnh sát sở tại cùng với Interpol đã bắt và giải cứu 6 phụ nữ Việt Nam bị bắt làm nô lệ tình dục do các "má mì" Trung Quốc đưa sang. (5)

Tệ nạn xuất khẩu cô dâu qua ngã biên giới Trung-Việt đang gia tăng đến mức kinh khiếp và được mọi tổ chức của Liên Hiệp Quốc lên tiếng cảnh báo. Thành ngữ “Brides for sale” đang trở thành phổ biến trong giới truyền thông thế giới khi diễn tả những hoạt động buôn bán phụ nữ Việt Nam- xuất khẩu cô dâu (MARRIAGE TRAFFICKING) xuyên qua biên giới Việt-Trung.

Bản Đồ 1: Các trục lộ "Xuất Khẩu" buôn người từ Việt Nam sang Trung Quốc (source UNIAP*)


Chi tiết của bản đồ 2 phía dưới cho thấy các cô dâu Việt được "cung cấp" từ những nơi như Nghệ An, Yên Bái, Lào Cai, Tây Ninh và Sóc Trăng. Như vậy, "xuất khẩu cô dâu" đã trở thành đại nạn cho dân tộc Việt từ Nam chí Bắc sau 40 năm theo kinh tế Chủ Nghĩa Xã Hội độc tài Đảng trị. Đây cũng là dấu hiệu cho thấy nền an sinh xã hội Việt Nam đã hoàn toàn đổ vỡ.

Bản đồ 2: Những địa phương "cung cấp" cô dâu Việt XUẤT KHẨU qua Trung Quốc (source: UNIAP*)


Xin ghi chú là các hoạt động bán mua phụ nữ cho vấn đề tình dục (sex trafficking) vẫn thường xuyên đội lốt hôn nhân giả tạo. Các tỉnh miền Bắc cung cấp 100% tổng số phụ nữ XUẤT KHẨU thuộc diện "sex trafficking" sang biên giới Việt Nam- Trung Quốc. Số liệu thống kê về tệ nạn mua bán phụ nữ Việt qua ngã xuất khẩu cô dâu còn bị rời rạc vì những báo cáo điều dựa trên sự phát hiện của giới hữu trách hoặc của giới truyền thông trong khi con số thực tế các hoạt động mua bán phụ nữ Việt Nam thông qua ngã hôn nhân thoát lưới Pháp Luật, thoát ánh mắt theo giới của báo chí, interpol thì sẽ cao hơn rất nhiều, không cách gì có thể ngờ đến nổi.

Các đường dây mua bán phụ nữ thông qua hôn nhân thì tổ chức ngày một tinh vi, có sự trợ giúp của các viên chức tham nhũng khiến tệ nạn mua bán phụ nữ, xuất khẩu cô dâu tại Việt Nam cứ mỗi lúc mỗi gia tăng. Sự việc trầm trọng đến nỗi buộc cộng sản Hà Nội phải thừa nhận có 30 ngàn cô dâu bị mất tích.

Vào năm 2006, trước áp lực của các tổ chức liên Hiệp Quốc, VN-Express phải làm bộ kêu hoảng cho có kêu vì từ đó đến nay, tình hình mua bán phụ nữa Việt qua ngã xuất khẩu cô dâu hay XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG vãn không hề thay đổi, suy giảm mà còn nguyên hiện trạng nhọc nhằn khổ đau.(6)


Cũng từ năm 2006 đến nay, tỉ lệ phụ nữ Việt Nam bị bán qua biên giới, nhất là biên giới Việt Trung vẫn không hề suy giảm, cho nên bản tin trên của VN_EXpress chỉ là một sự minh họa một đại nạn của dân tộc, đang gậm nhấm từ từ vào tinh thần, quốc hồn quốc túy và quốc sĩ của dân tộc, đang bất lực trước nạn buôn người ngày một hoành hành dưới sự trợ giúp của một chế độ, một đội ngũ công an lên đến cả triệu người, "chỉ biết còn Đảng còn mình"

Thân phận của những cô dâu XUẤT KHẨU cũng không khá gì hơn những người bị XUẤT KHẨU dưới diện lao động. Các cô dâu Việt bị xuất khẩu tường trình với giới chức trách của Liên Hiệp Quốc là họ bị bán đi bán lại cho nhiều gia đình, họ bị nhốt trong nhà, bị đánh đập và nếu không hiểu bên gia đình chồng nói gì vì khác biệt ngôn ngữ, họ bị phạt bằng cách bỏ đói.

Thảm cảnh của các cô dâu Việt bị xuất khẩu, đương nhiên, không thể vài dòng mà có thể diễn tả hết được nổi đau, máu và nước mắt của họ. Đây chỉ là một sự tóm lược tối thiểu về những gì mà thân phận người phụ nữ Việt Nam phải trải qua do chính sách khuyến khích bán buôn thân xác con người của chế độ Cộng Sản Hà Nội để kiếm ngoại tệ.

Trung bình, ngoài chi phí vé máy bay, chi phí du lịch và ăn ở, người đi mua cô dâu Việt phải tốn lệ phí giấy tờ cho Đảng là 2,700 Mỹ kim cho đến 5,500 Mỹ kim. Nếu thực sự là như vậy thì với 242 ngàn cô dâu đã XUẤT KHẨU, Đảng lấy về bỏ túi trước mắt là bao nhiêu?

KẾT

Tệ nạn XUẤT KHẨU con người qua diện xuất khẩu lao động hay diện xuất khẩu cô dâu lẩn mua bán thân xác phụ nữ tại Việt Nam sẽ không có hy vọng thuyên giảm hay "cải thiện"" khi mà chế độ Cộng Sản Hà Nội chỉ biết buôn dân kiếm ngoại tệ hơn là ban bố chinh sách tài trợ tài chánh dồi dào cho giới lao động nghèo có cơ hội học nghề, mua bán sinh nhai, cải thiện đời sống và phát triển thành đạt NGAY trên quê hương Việt.

Chưa từng có trong lịch sử, mỗi ngày dân tộc Việt Nam sẽ có hơn một phần tư triệu người đang sống tệ cơ cực tệ hơn cả con heo hay tù, làm lụng cắn răng để trả nợ cho Đảng, và chấp nhận chết chóc trong bi thương nhọc nhằn không ai thương xót. 

Cũng chưa từng có trong lịch sử, 30 ngàn cô dâu Việt Nam mất tích mãi mãi là một dấu hỏi cho lương tâm dân tộc Việt, bao giờ, chúng ta tìm thấy lại những đứa con bất hạnh của đất nước, đang trần truồng ghẻ lở đâu đó khóc gào kêu cứu, tiếng kêu cứu bi ai bị bít bùng trước những con người cờ đỏ Cộng Sản, trước những con người sợ cờ đỏ Cộng Sản, sống vô tri quên đi nổi đau của đồng loại.

Đâu rồi tiếng vọng ngàn thương tình tự dân tộc?

01/06/2015



_________________________________________

Chú thích:

(*) UNIAP: UNITED NATION INTER-AGENCY PROJECT ON HUMAN TRAFFICKING

Nhà nước khủng bố bằng công cụ bạo lực!!!

Sự gia tăng lối hành xử bạo lực của CA đối với những người đòi công lý hay đòi dân chủ, tiên thiên coi họ như kẻ thù đã làm suy giảm nguyên khí quốc gia, gây chán nản cho các công dân thiện chí, chẳng thể nào làm Đất nước phát triển. Tụt hậu toàn diện của đất nước, thất bại mọi mặt của các chính sách, sai lầm đủ thứ của nhà cầm quyền, tội ác tràn lan trong dân chúng và bất ổn triền miên trong xã hội, ngành CA và những ai đang điều khiển nó gánh trách nhiệm không phải nhỏ. Họ tưởng bạo lực và dối trá có thể bình định được lòng dân đang phẫn uất và củng cố được chế độ đang suy tàn sao? Họ có bao giờ nghĩ đến hình phạt mà nhân dân, lịch sử và kể cả các Đấng linh thiêng sẽ dành cho những kẻ đã lợi dụng quyền lực để gây tội ác?

*

Người ta còn nhớ việc làm đầu tiên của ông Nguyễn Tấn Dũng khi vừa mới nhậm chức lãnh đạo chính phủ là giải tán ngay “Ban Nghiên cứu của Thủ tướng”, nơi hội tụ những chuyên gia, những trí tuệ thông thái hàng đầu của đất nước được hai vị tiền nhiệm là Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải thành lập tin dùng. Thay vào đó, với não trạng của một ủy viên đảng ủy công an (CA) trung ương, Nguyễn Tấn Dũng đã mời một tay CA có nhiều thành tích đàn áp dân chủ nhân quyền làm tư vấn, làm đặc phái viên bên cạnh: trung tướng Nguyễn Văn Hưởng! Rồi suốt hai nhiệm kỳ của ông, công luận đều nhận thấy bộ máy nhà nước ngày càng bị CA hóa sâu rộng. Rất nhiều quan chức CA cấp cao đã trở thành bí thư, chủ tịch tỉnh, cán bộ cao cấp của lắm bộ ngành. Chẳng hạn ông Trương Hòa Bình, chánh án Tòa án nhân dân tối cao, từng là một trung tướng CA. Ông Nguyễn Hòa Bình, nguyên thiếu tướng CA, nay được bổ nhiệm làm viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân. Trung tướng CA Phạm Dũng hiện là trưởng ban Tôn giáo chính phủ. Cấp huyện cũng thế. Bên trong bộ máy nhà nước, bộ máy đảng của nhiều địa phương, tỷ lệ quan chức nguyên là CA cũng đáng kể. Riêng lực lượng CA thuần túy và hàng tướng tá CA thì ngày càng hùng hậu!

Tại sao có tình trạng CA hóa nhà nước và xã hội như thế? Có nhiều nguyên nhân. Trước hết, đó là bản chất của chế độ CS: phải luôn cai trị nhân dân bằng bạo lực! Tiếp đến, trong hoàn cảnh VN, đó là từ kinh tế đến tài chánh, văn hóa đến giáo dục, an ninh đến môi trường ngày càng đi xuống. Trái lại cảnh nghèo khổ, nỗi bất mãn của dân chúng và sự hỗn loạn, mức tội ác trong xã hội ngày càng đi lên. Cộng thêm vào đó, nhờ các phương tiện truyền thông đại chúng ngày càng phát triển, sự hiểu biết của người dân về tình hình đất nước xã hội và về bộ mặt chủ nghĩa chế độ ngày càng gia tăng, khiến sức phản kháng và chí đấu tranh của mọi tầng lớp đồng bào ngày càng bừng dậy. Thành thử nhà nước độc tài ngày càng thấy phải trấn áp nhân dân bằng công cụ bạo lực.

Công cụ đó chính cái là lực lượng được họ giữ chặt trong tay bằng lời thề cưỡng ép: “trung thành tuyệt đối với đảng CS”, bằng danh hiệu tâng bốc: “thanh gươm lá chắn của đảng”, bằng khẩu hiệu gây mụ mị: “chỉ biết còn đảng thì còn mình”. Dĩ nhiên, ai cũng thấy những cái đó nói lên thái độ vô ơn trắng trợn đối với toàn dân là tập thể sản sinh CA từ lòng mình và nuôi dưỡng CA từ tiền mình, thái độ phỉ báng tàn tệ đối với chức năng và danh dự của CA là chỉ phải biết lấy Tổ quốc và Nhân dân làm đối tượng phục vụ. Những cái đó ngoài ra còn giết chết lương tri và lương tâm của những con người đang làm một nghề cao quý tự bản chất lẫn cần thiết cho xã hội, mở đường cho bao thái độ kiêu căng hống hách, ứng xử vô luật (sử dụng côn đồ), hành động ám muội (giả dạng côn đồ), nghĩa là tàn bạo đối với nhân dân. Thái độ vô cảm và ác độc như thế mà hiện đầy dẫy mới đây đã được một cựu học viên cảnh sát tiết lộ đến lạnh người trong bài “Vì sao CA vô cảm?”: “Chắc hẳn không ít người vẫn còn nhớ vụ học viên Học viện Cảnh sát Nhân dân đăng tải loạt album treo cổ chó vào năm 2011. Đó là một phần của chương trình đào tạo… Đầu tiên, tôi xin trình bày về nội dung của bài thực hành ‘Quan sát & khám nghiệm hiện trường’. Mục đích của bài, đúng như tên gọi, nhằm đào tạo cho các sĩ quan tương lai có những kinh nghiệm đầu tiên về việc quan sát tử thi, biểu hiện của tử thi qua nhiều kiểu chết khác nhau. Điểm đáng chú ý của bài học là các học viên không thực hành với những xác chết thật mà thay vào đó là những con chó còn sống. Khi tham gia bài học này, họ phải tự tay giết chết vật mẫu là các chú chó vô tội… Trong quá trình thực hành, học viên phải trải nghiệm mọi phương pháp giết người bằng cách trực tiếp hành hình những con chó, còn trong tâm trí phải tưởng tượng đó là người. Đây là lệnh! Ngoài mục đích chính trên thì thông qua bài học, học viên còn đạt được kỹ năng tra khảo tội phạm mà không phải chùn tay. Giờ thì các bạn hiểu lý do vì sao có những cái chết bất thường khi nghi phạm bị hỏi cung rồi chứ? Vì trong tâm trí những chiến sĩ CA, mạng người không khác mạng chó!”.

Nhìn lại những gì công cụ bạo lực này (gồm công an, cảnh sát, dân phòng, gọi tắt là CA) gây ra cho nhân dân đất nước gần cả thập niên qua, chúng ta thấy có những nét nổi bật như sau:

1- Tàn phá văn hóa đạo đức Dân tộc: Đó là phá đám tang của các đảng viên phản tỉnh như Trần Độ, Lê Hiếu Đằng, Trần Lâm…, thậm chí đám tang dân thường như bà Hồ Nhu thuộc giáo xứ Cồn Dầu năm 2010. CA cũng nhiều lần đốt phá nhà chứa đồ tang lễ của Đồng bào H’Mông tại Cao Bằng (tháng 3-2013, 10-2014, 2-2015). Đạo lý truyền thống “nghĩa tử là nghĩa tận” lần đầu tiên trong lịch sử Dân tộc, đã bị lực lượng này ngang nhiên chà đạp. Chưa hết, CA còn nhiều lần xâm phạm lễ tưởng niệm các liệt sĩ chống Trung Quốc bằng cách tự mình hay dùng tay sai cản phá buổi lễ, chửi bới hành hung những người đi tưởng niệm.

2- Đàn áp nhân dân đòi quyền sống: Các cuộc biểu tình đòi đất của dân oan từ bắc chí nam như Văn Giang, Bắc Giang, Dương Nội, Tiên Lãng, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Thủ Thiêm, Thủ Đức, Long An… đã mau chóng bị dẹp tan trong máu và nước mắt, trong đánh đập và bỏ tù nhờ bàn tay của những CA lạnh lùng, mù quáng tuân theo lệnh trên hay mờ mắt vì món tiền thưởng. Những thiện nguyện viên cứu giúp họ như hai ông Hà Thanh và Tiến Sơn cũng bị hành hung (03-2015). Cuộc xuống đường của dân Bình Thuận tháng 4-2015 phản đối nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân gây ô nhiễm đã bị cảnh sát cơ động đối phó bằng dùi cui, súng chỉ thiên và lựu đạn cay. Những ai hỗ trợ công nhân đình công đòi quyền lợi cũng bị giam cầm, xử án, bỏ tù. Người dân Hà Nội biểu tình bảo vệ cây xanh hoặc bị đưa về đồn tra hỏi (04-2015), hoặc bị CA giả dạng côn đồ hành hung thô bạo như Trịnh Anh Tuấn, Nguyễn Chí Tuyến. Thậm chí người dân xuống đường chống quân xâm lăng, đòi quyền sống cho dân tộc, CA cũng chẳng để yên; các lớp dạy sinh ngữ miễn phí tự nguyện cũng bị đặt vấn đề rồi dẹp bỏ.

3- Tra tấn, giết chết người bị tạm giam: Từ thập niên nay, đồn CA đã trở nên nỗi khiếp đảm cho dân lành. Theo báo cáo của Quốc hội (04-2015), trong 3 năm qua, đã có hơn 260 người chết đang khi bị tạm giữ. Phần lớn họ bị bắt vào đồn vì những vi phạm nhỏ nhặt, nhưng rồi đã bị tra khảo đến chết để lấy khẩu cung. Điều đáng nói là hầu hết đều bị vu khống tự tử nhưng hiếm có CA nào bị xử lý đúng pháp luật.

4- Bạo hành với ai hoạt động nhân quyền: Trước hết, đó là cấm hành nghề hoặc áp lực đuổi khỏi nghề những luật sư bênh vực nhân quyền như Lê Trần Luật, Võ An Đôn… Thứ đến, gây rối cuộc sống của những ai hoạt động nhân quyền, có khi không cho họ xuất cảnh. Tiếp nữa, khóa cổng chặn đường những công dân muốn tham dự các cuộc hội họp về nhân quyền thậm chí do chính khách ngoại quốc tổ chức; bao vây, cướp giật đồ đạc của những ai đến tham dự các phiên tòa chính trị (vụ Lấp Vò 8-2014), chặn đường hành hung bạn hữu các tù nhân lương tâm như ông Phạm Văn Trội (01-2014), ông Trần Anh Kim (01-2015). Ngang nhiên và tàn bạo hơn nữa là truy sát, đánh trộm đến trọng thương như các ông Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Bắc Truyển, Trương Minh Đức, Trương Văn Dũng, Nguyễn Văn Thạnh, các bà Trần Thị Nga, Nguyễn Hoàng Vi, gia đình ông Huỳnh Ngọc Tuấn…. Chưa hết, còn phục kích để bắt giam vô cớ rồi xử án vô luật như đối với bà Bùi Minh Hằng, anh Phạm Minh Vũ và bạn đồng hành của họ.

Các nhà hoạt động cho quyền tôn giáo cũng bị CA và côn đồ chặn đường gây sự như Hội đồng Liên tôn VN, nhiều chức sắc và tín đồ Công giáo, Tin lành, Phật giáo, Cao đài, Hòa Hảo. Đặc biệt, các cộng đoàn Tin lành Mennonite hay các Hội thánh Tin lành tại gia thường xuyên là nạn nhân thói bạo hành của họ. Những nhà báo tố cáo CA tham nhũng hối lộ, mua quan bán chức… rốt cục đã phải nếm cảnh lao tù như phóng viên Hoàng Khương, chủ bút Kim Quốc Hoa.

5- Hành hạ các tù nhân lương tâm: Bắt đầu thẩm vấn dạng tù nhân này, CA thường dùng biện pháp hèn hạ là lường gạt, tra tấn thể xác và bức bách tinh thần để họ phải nhận tội. Hai trường hợp bức cung nổi tiếng nhất là buộc Nguyễn Văn Chưởng và Hồ Duy Hải vào tội giết người để nay bị tuyên án tử. Mới đây, nhiều tướng tá CA tại Quốc hội còn chống cả quyền im lặng của bị cáo. Một khi họ đã thụ án, CA tiếp tục cưỡng buộc nhận tội những tù nhân bất khuất, bằng nhiều biện pháp tàn độc bẩn thỉu như bỏ đói (Đặng Xuân Diệu), nhờ tù nhân hình sự đánh đập (Hồ Thị Bích Khương), biệt giam kỷ luật (Nguyễn Đặng Minh Mẫn), cắt thăm nuôi (Đinh Nguyên Kha), không chăm sóc y tế đầy đủ (Nguyễn Xuân Nghĩa), đày đi thật xa gia đình (Mai Thị Dung, Tạ Phong Tần). Đặc biệt là đầu độc cho chết trong tù (như Huỳnh Anh Trí, Đinh Đăng Định). Công an trại tù còn bóc lột tù nhân (chính trị lẫn hình sự) bằng cách bán hàng với giá cắt cổ, đòi hối lộ để cho chút thoải mái hay giảm án tù, nhất là cưỡng bức lao động khổ sai đến kiệt lực. Thành viên các trại cai nghiện, “trung tâm giáo dục” và “trường phục hồi nhân phẩm” cũng không thoát khỏi số phận bi thảm đó. Chính quốc tế từng lên án chuyện này.

Kết luận: Sự gia tăng con số khổng lồ của CA –đặc biệt sự gia tăng nhanh chóng số tướng CA trong thời bình và sự phân bổ các tướng lãnh này vào nhiều bộ ngành và địa phương- đã tạo một áp lực thường xuyên và khủng khiếp lên bộ máy nhà nước, lên cuộc sống nhân dân, khiến chẳng mấy ai có thể làm việc theo lương tâm và trong an bình để đóng góp xây dựng xã hội. Sự gia tăng lối hành xử bạo lực của CA đối với những người đòi công lý hay đòi dân chủ, tiên thiên coi họ như kẻ thù đã làm suy giảm nguyên khí quốc gia, gây chán nản cho các công dân thiện chí, chẳng thể nào làm Đất nước phát triển. Tụt hậu toàn diện của đất nước, thất bại mọi mặt của các chính sách, sai lầm đủ thứ của nhà cầm quyền, tội ác tràn lan trong dân chúng và bất ổn triền miên trong xã hội, ngành CA và những ai đang điều khiển nó gánh trách nhiệm không phải nhỏ. Họ tưởng bạo lực và dối trá có thể bình định được lòng dân đang phẫn uất và củng cố được chế độ đang suy tàn sao? Họ có bao giờ nghĩ đến hình phạt mà nhân dân, lịch sử và kể cả các Đấng linh thiêng sẽ dành cho những kẻ đã lợi dụng quyền lực để gây tội ác?

Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 220 (01-06-2015)

Ban Biên Tập

Tuyên ngôn Ba Đình về Quyền Câm Mồm

Trong tình hình biển Đông không gì mới, trước việc đế quốc Mỹ cố tình gia tăng căng thẳng trong khu vực về thông tin những sự cố mà bộ chính trị đảng đã biết từ lâu, chúng tôi tuyên bố khẳng định Quyền Câm Mồm của lãnh đạo đảng cộng sản trước nhân dân Việt Nam và trước thế giới về những tranh chấp chủ quyền vốn thật sự không hề có giữa 2 đảng cộng sản Việt-Trung do đồng chí Mao vĩ đại đẻ ra.

Trong việc báo chí quốc tế đưa tin Bắc Kinh đem các loại vũ khí hạng nặng đến các đảo nhân tạo trước đây thuộc chủ quyền Việt Nam, sau đó trở thành vùng tranh chấp chủ quyền, rồi biến thành vùng cùng nhau khai thác, và bây giờ trở thành vùng cắm cờ 5 sao vĩ đại, phía lãnh đạo đảng chúng tôi tại Hà Nội vẫn chưa có được thông tin chính thức nào từ các đồng chí lãnh đạo đảng ở Bắc Kinh. Do đó, chúng tôi quyết định bảo lưu quyền câm mồm của chúng tôi trước những thông tin xuyên tạc của bè lũ đế quốc Mỹ và mọi thế lực thù địch khác.

Khi được hỏi lãnh đạo Việt cộng có mong muốn Hoa Kỳ ngăn chận hành động của Trung cộng ở biển Đông, chúng tôi xin được trả lời như sau: Chúng tôi rất khó đưa ra mong muốn cụ thể từ các quốc gia nào, nhất là đối với các đồng chí có cùng tên Cộng với chúng tôi. Do đó, chúng tôi yêu cầu nhân dân Việt Nam cũng như các quốc gia khác tôn trọng quyền câm mồm của lãnh đạo đảng cộng sản. Nhân đây, liên quan đến Mỹ và Trung Quốc, chúng tôi tạm cất quyền câm mồm để nhắc lại lập trường của lãnh đạo đảng về quan hệ Việt-Trung-Mỹ như sau: Đế quốc Mỹ đã ngang nhiên áp đặt chế độ thực dân kiểu mới, biến miền Nam Việt Nam thành căn cứ quân sự của Mỹ, đàn áp tàn bạo Cách mạng miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại khốc liệt ở miền Bắc. Chúng đã gây ra biết bao tội ác dã man, biết bao đau thương, mất mát đối với đồng bào, đất nước Việt Nam. Đối với Trung Quốc, chúng tôi chân thành cảm ơn các nước XHCN, nhất là Liên Xô, Trung Quốc đã giúp chúng tôi trong sự nghiệp đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào.

Riêng trong mối quan hệ Việt Trung, chúng tôi một lần nữa tái khẳng định: để tiếng hát nâng tình hữu nghị Việt-Trung đời đời bay cao, để tình cảm 4 vàng 16 tốt đời đời bền vững và là gia sản quý báu của hai đảng Mao-Hồ truyền lại cho thế hệ ngàn đời mai sau, chúng tôi sẽ tiếp tục câm mồm và lẳng lặng tiếp nối sự nghiệp của đồng chí Hồ Quang, tiếp nối không ngừng nghĩ để hoàn tất sự nghiệp của cha già DT: bên kia biên giới là nhà, bên này biên giới cũng là quê hương.

Quyền Câm Mồm là quyền bất khả xâm phạm của lãnh đạo đảng. 

Đó là quyền đã được các đồng chí lãnh đạo đảng thành tâm, nghiêm chỉnh thực thi trong suốt 25 năm qua kể từ giây phút bế mạc Hội nghị Thành Đô. 

Quyền Câm Mồm cũng là đặc quyền của lãnh đạo đảng. 

Đối với mọi thành phần khác, bao gồm 90 triệu nhân dân làm chủ đất nước Trung-Việt, thì ngược lại - hành động khăng khăng câm mồm và xem câm mồm là một quyền sẽ được ghép tội là diễn tiến hòa bình và chống lại nhân dân.

Quyền câm mồm của đảng muôn năm!

Đảng cộng sản Trung-Việt muôn năm!

Sự nghiệp bên kia bên này biên giới đều là nhà của Hồ chủ tịch muôn năm!


Là người Việt, nên biết và hiểu Biển Đông là gì...

Nguyên tắc đầu tiên của sự lừa bịp và ăn cướp của thầy trò CS Tàu-Việt là: nếu dân Việt không biết chính xác mình có gì (Biển Đông, hải đảo, lãnh thổ biên giới) thì cũng sẽ không biết mình đã mất gì! Thứ hai, đó là nguyên tắc của chính sách ngu dân nói chung của CSVN: dân ngu thì không biết mình có những thứ gì, quyền gì đã bị đảng cướp mất. Và thứ ba, đó là nguyên tắc, ai có thể bóp méo lịch sử (về Biển Đông) thì người đó có thể thay đổi tình trạng tương lai (của Biển Đông) theo ý mình...

*

Biển Đông là đại phúc của dân tộc Việt Nam

Nước Việt, dân tộc Việt chúng ta có một đại đại phúc là đất nước nhỏ mà có trên 3,200 km bờ biển dài và đẹp, từ bãi Trà Cổ phía bắc ngàn đảo Hạ Long trong Vịnh Bắc Bộ, chạy qua 13 đường vĩ tuyến (từ 21N đến 8N) dọc theo chiều dài đất nước và xuyên qua lịch sử dân tộc mấy ngàn năm, đến mũi Cà Mau rồi vắt lên Hà Tiên, nhấn lại ở đảo Phú Quốc trong vịnh Thái Lan. Chính cuộc hành trình về hướng Nam đó đã định hình không chỉ hình hài đất nước Việt mà cả tên gọi của dân tộc Việt, đã định hình cả tinh thần và tính cách dân tộc Việt. Bởi vì, Việt - đó là thoát Hán vượt về phương Nam để có Tự do và Độc lập cho dân tộc, để có bờ cõi riêng hạnh phúc, là đất nước Việt Nam trải dài bên bờ Biển Đông.

Cuộc đào thoát vô cùng ngoan cường, ngoạn mục và dài lâu đó đã để lại cho dân tộc Việt chúng ta một món quà - kho báu vĩ đại và ngoạn mục từ Tổ tiên Việt và và Lịch sử Việt, mà có lẽ dân tộc ta phải có đại phúc mới có được, đó là Biển Đông, và phải vô phúc lắm mới không biết gìn giữ bảo vệ nó cho Thịnh vượng ngàn năm của mình.

Vâng, Biển Đông có thể biến nước Việt thành quốc gia biển giàu mạnh từ biển, nhưng cũng có thể giam cầm và tàn phá xơ xác đất nước và dân tộc Việt như nó đã và đang “làm” hàng ngàn năm nay, và nhất là hiện nay - khi người Việt không hiểu biển và sợ biển. Sự giam cầm đó xuất phát từ chính nỗi sợ và sự vô cảm trước Biển Đông của người Việt đang sống trên dải đất lẽ ra là có đại phúc đó.

Vậy mà mỗi người Việt chúng ta đã biết, đã hiểu gì và coi trọng yêu quí Biển Đông của mình như thế nào? Hay, chúng ta để Biển Đông ở đâu trong lòng, trong tim, trong óc mình - từng cá nhân và cả dân tộc Việt? Biển Đông là gì với mỗi người Việt chúng ta, với nhà nước, với cả dân tộc Việt hôm nay?

Phải đau xót thú nhận rằng, người Việt chúng ta không biết gì nhiều về Biển Đông “của mình”, không bằng bất kỳ ai khác. Tôi muốn nói là chúng ta biết rất ít về Biển Đông, ít hơn nhiều các dân tộc khác như Philippines, Malaysia... - tất nhiên không thể so với các dân tộc vĩ đại như người Nhật, Mỹ... dù họ ở rất xa và không có “mẩu” Biển Đông nào! 

Nhưng ngược lại, rất hào phóng, Biển Đông vẫn cung cấp dồi dào hải sản, đầu khí, hải cảng, đường biển và những nơi nghỉ mát... cho chúng ta, dù chúng ta dường như không xứng đáng với Biển Đông về những thứ đó, lại càng không biết ơn Biển Đông vì những điều đó.

Có một qui luật thế này của Tự nhiên, rằng nếu ta không hiểu, không trân quí cái gì đó thì ta không thể có (sở hữu) Nó, và càng không thể là chủ nhân đích thực của Nó (có chủ quyền) được. 

Ví dụ: Nếu bạn không hiểu và yêu thương trân quí vợ/chồng mình thì sẽ/đã có ngày nàng/chàng là... của hàng xóm-bạn bè “tốt! hảo!”; Hay: Nếu bạn không hiểu biết lại coi khinh tiền bạc thì bạn chắc chắn không có nhiều tiền! Trên 80% người nghèo là vì thế đó, vì đồng tiền cũng biết bỏ những người chủ luôn khinh rẻ mình ra đi, chỉ có những đồng tiền “còm” mới đành ở lại với họ.

Và ví dụ về người Việt, nước Việt với kho báu đại phúc Biển Đông hôm nay cũng gần như vậy. Câu hỏi ở đây là, người Việt ta có ngu toàn diện đến như vậy về Biển Đông?

Đó là câu hỏi tôi mạo muội tự đặt ra để tìm câu trả lời ở đây, cùng người Việt.

Người Việt hôm nay biết gì về Biển Đông?

Câu hỏi trên dẫn ngay đến câu hỏi tiếp là: Người Việt hiện nay được chế độ CSVN này nhồi nhét gì (từ nhỏ), cho phép được biết gì, nói gì (khi đã là công dân XHCN) về Biển Đông? CSVN đã và đang thống trị hoàn toàn mọi nội dung thông tin và giáo dục trong xã hội VN từ hơn 70 và 40 năm nay, mà Biển Đông từ 1945 là nội dung luôn “nhậy cảm” bị đảng CSVN kiểm duyệt, dưng bít hay ngăn cấm người dân nói, viết về nó gắt gao nhất? 

Ai và tại sao lại không muốn cho người Việt chúng ta biết về Biển Đông của mình? Rất tiếc đó là mục tiêu và mưu đồ của chính đảng CSVN và Tàu cộng. Vì muốn dâng Biển Đông cho Tàu cộng từ đầu (từ khi đảng sinh ra) nên CSVN luôn giấu và cấm đoán mọi thông tin về những quyền và lợi của Việt Nam ở Biển Đông, thậm chí chúng bóp méo các bằng chứng lịch sử về biển Đông, tạo các bằng chúng pháp lý (như công hàm PVĐ 1958) một cách có chủ ý, hệ thống, toàn diện và triệt để suốt 70 năm qua, sao cho có lợi cho Tàu cộng. Đó là lý do tại sao người Việt mọi tầng lớp, nhiều thế hệ qua hầu như không được biết gì cặn kẽ về Biển Đông. Đó là lý do tại sao người Việt lại chỉ biết những thông tin sai lệch mơ hồ về Biển Đông. Đó là lý do tại sao VN đã mất toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, một phần Trường Sa vào tay Tàu cộng suốt trong thời gian CSVN cầm quyền hiện nay. 

Nguyên tắc đầu tiên của sự lừa bịp và ăn cướp của thầy trò CS Tàu-Việt ở đây là, nếu dân Việt không biết chính xác mình có gì (Biển Đông, hải đảo, lãnh thổ biên giới...) thì cũng sẽ không biết mình đã mất gì! Thứ hai, đó là nguyên tắc của chính sách ngu dân nói chung của CSVN: dân ngu thì không biết mình có những thứ gì, quyền gì đã bị đảng cướp mất. Và thứ ba, đó là nguyên tắc, ai có thể bóp méo lịch sử (về Biển Đông) thì người đó có thể thay đổi tình trạng tương lai (của Biển Đông) theo ý mình.

Vì thế, hiểu biết đầy đủ và đúng đắn về Biển Đông là vấn đề nhức nhối hàng đầu với mỗi người Việt hôm nay - từ thanh thiếu niên đến những người trưởng thành, đến những người già uyên bác, từ công nhân nông dân đến trí thức VN. Hiện nay, chúng ta hầu như không được biết gì cả hoặc biết toàn những sự lừa bịp của đảng về Biển Đông!

Ở nhà trường, trẻ em Việt từ bé đến hết đại học hầu như không được chế độ CSVN này dạy gì và cho được dạy gì Biển Đông suốt nhiều thế hệ nay. Trong xã hội, chế độ CSVN này công dân không được nói, được nghe gì về Biển Đông cả, và nếu có thì phải theo tin bị kiểm duyệt của đảng, tin bị bóp méo, hay tin bịa của chính Tàu cộng mớm cho đảng. Ai có suy nghĩ độc lập hay nghi vấn, không đồng ý với Tàu cộng về Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa là nhẹ thì “bị thế lực thù địch lợi dụng”, vừa vừa thì “xuyên tạc nói xấu chế độ”, và “nặng hơn” là tự nhiên bị côn đồ tự phát rình đón đánh trộm.

Vì thế cho nên, người Việt chúng ta phải biết chính xác mình có gì - Biển Đông là gì, tại sao chúng ta phải quan tâm và hiểu biết trân quí nó thì mới giữ được nó và có nó...

Vài điều cơ bản và đơn giản người Việt nên biết và cần biết về Biển Đông

Những điều quan trọng mà một người Việt bình thường cần biết và nên biết, phải biết về Biển Đông thực ra không nhiều, có thể chứa gọn trong một trang A4. Vậy mà CSVN không thể cho chúng vào nội dung giảng dạy địa lý, lịch sử, tự nhiên cho học sinh cấp 1, cấp 2 trở đi để khi là công dân Việt trưởng thành chúng biết rõ và có thể tự học để biết nhiều hơn về Biển Đông khi quan tâm. Lý do CSVN không làm thế thì tôi đã nói ở phần trên, đó thật là một tội ác vô cùng thâm độc.

Và đây, vài thông tin tôi chọn về Biển Đông đủ để thấy giá trị và tầm quan trọng của Biển Đông với đất nước và dân tộc Việt. Nhất là đủ để hiểu tại sao Tàu cộng lại thèm Biển Đông của chúng ta đến thế.

Biển Đông không chỉ là biển kín (thông với các đại dương bằng các eo biển Malacca và Đài Loan) lớn nhất trong 15 biển của Trái Đất (khoảng trên 3,5 triệu km2), nó là biển có nhiều đảo, quần đảo nhất và được bao bọc bởi nhiều đảo nhất thế giới (trên 30 ngàn hòn đảo của Philippines và Indonesia) và có tuyến đường biển đông đúc nhất hành tinh đi qua.

Nhưng điều quan trọng nhất không chỉ là Biển Đông cho nước ta một vùng lãnh hải (lãnh thổ trên biển) khá lớn - thêm khoảng 66,000 km2, bằng trên 20% diện tích trên bờ, mà là theo Luật Biển UNCLOS Việt Nam có trên 1,11 triệu kms thuộc khu đặc quyền kinh tế EEZ - Exclusive Economic Zone (khoảng 1,500kms bờ biển x 370 kms EEZ +/và 1,500 kms bờ biển x 150 kms EEZ = 880,000 km2 EEZ), hơn gấp 2 lần diện tích đất hình chữ S. Đó chính là kho báu vô cùng to lớn mà Tổ tiên Việt để lại cho chúng ta. Và hơn thế nữa, trên Biển Đông Tổ tiên Việt còn để lại cho chúng ta hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với hàng trăm đảo và bãi đá có thể cho nước Việt cả chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải và EEZ rộng gần 1 triệu km2 nữa (gồm Hoàng Sa khoảng trên 350,000 km2 và Trường Sa khoảng 650,000 km2 EEZ là gần/trên 1 triệu km2 EEZ).

Như vậy, nếu thực sự làm chủ được và được làm chủ kho báu Biển Đông Tổ tiên Việt để lại, Việt Nam sẽ có diện tích EEZ biển để khai thác lớn gấp trên 5 lần diện tích đất liền (một diễm phúc hiếm đất nước nào có được) nữa, với xác xuất phân bổ tài nguyên dưới thềm lục địa tương đương như trên bờ, nhưng về dầu khí EEZ VN lại rất nhiều tiềm năng, thì đất nước ta sẽ thực sự có thể rất giàu và mạnh.

Còn nếu mất Biển Đông, VN không chỉ mất cơ hội trở thành quốc gia biển giầu mạnh lên 5-10 lần hiện nay, mà còn chắc chắn sẽ mất luôn lãnh thổ trên đất liền - cả đất nước vào tay Tàu cộng. Đó cũng chính là nhiệm vụ cuối cùng và “món nợ” của đảng CSVN đối với Tàu cộng mà không người Việt nào muốn để cho CSVN làm được thế.

Chúng ta hãy bắt đầu bằng hiểu biết rõ Biền Đông là gì đối với Tổ quốc và Dân tộc Việt Nam.

02.06.2015


Powered By Blogger