Wednesday, February 1, 2012

Ngư ông vớt xác người vượt biển

ĐẦU THÁNG CHẠP NĂM 1983

Tại một làng chài hẻo lánh bên vàm rạch Tiêu Dừa, thuộc huyện U Minh, nằm sát vịnh Thái Lan vào mùa biển động. Trong một túp lều xiêu vẹo của chú Năm Hớn trở thành địa điểm “ém quân” của 12 người, kể cả ba má tôi và tôi là Tuấn, lúc đó vừa tròn 15 tuổi. Tất cả đều là chiến hữu với ba tôi trước năm 1975, chuẩn bị một cuộc vượt biển đi tìm tự do. Trưa hôm đó, ai nấy đều mang tâm trạng khắc khoải, lo âu vì biển cả thì quá bao la mà những con thuyền vượt biển quá nhỏ bé mong manh; thỉnh thoảng, tôi nhìn ra biển khơi với ánh mắt buâng khuâng đầy lo lắng, bồn chồn nhìn những ngọn sóng hình lưỡi búa cuồn cuộn đuổi nhau ỳ ầm vào bãi bùn. Má tôi ngồi bó gối bên cạnh chái bếp sau hè, tay lần chuỗi hột “mân côi” lâm râm cầu nguyện. Còn ba tôi trải tấm bản đồ trên cái chõng tre, rồi cùng người tài công và một vài người có kinh nghiệm đi biển bàn kế hoạch vượt biển.

Ba tôi lạc quan, nói:

- “Đêm nay, chúng ta rời khỏi nơi nầy. Nếu thuận buồm xuôi gió, sẽ mất khoảng hai ngày, ba đêm thì đến Mã Lai. Cam đoan ghe sẽ tấp vào đất liền khoảng giữa Kota Baharu và Kuala Dungun hoặc xuống chút nữa sẽ đụng Pedang Tioman. Sau đó, mọi người sẽ được đưa đến trại tỵ nạn “Bidong” làm thủ tục, chờ ngày đi định cư ở một nước thứ ba.”

Bác Chín Dần lái tàu nói đùa:

- “Đường biển đến trại tị nạn “Bi Đông”, phải qua “Bi đát” trước. Nhưng, mấy anh cứ tin vào tay nghề của tôi! Lái giang thuyền, chống đặc công thủy Việt Cộng là nghề của tui trước 1975 mà mấy cha! ”

Còn chú Năm Hớn, em họ của ba tôi, thổ địa ở vùng biển nầy. Chú theo nghề biển từ hồi còn trẻ cho đến bây giờ đã ngoài ngũ tuần. Chú Năm ngồi bẹp trên bờ biền, theo dõi những ngọn sóng bạc đầu, lớp sau dồn lớp trước vỗ ầm ầm vào bờ biển. Xế chiều, một cái ráng màu vàng chói chang, pha một chút sắc hồng, bất ngờ xuất hiện ở hướng mặt trời lặn. Trong khoảnh khắc, một dãy mây đen xếp chồng lên nhau như vảy cá, mang hình thù quái vị, từ phía chân trời chầm chậm kéo đến. Màu đen tang tóc, thê lương lấn dần ánh nắng mặt trời. Chú Năm Hớn biến sắc, vội vã đứng dậy đi vào nhà, nhìn mọi người, giọng nghiêm trang, nói:

- “Biển sắp động rồi đó! Chuyến ra khơi dự trù đêm nay, phải hoãn vào một ngày khác thôi!”

Ba tôi nói:

- “Hồi sáng, tôi đã theo dõi bản tin dự báo thời tiết của đài Hà Nội và đài Sài Gòn rồi: không có gió mùa đông bắc, cũng không dự đoán có bão trong vùng vịnh Thái Lan. Biển chỉ động một chút thôi mà, chú Năm!”

- “Anh tin đài, chớ không tin tôi! Thôi, cũng được,” giọng chú Năm Hớn có vẻ trách móc. “Nhưng, theo kinh nghiệm nghề đi biển cho tôi biết rằng: mỗi lần con ráng màu vàng pha lẫn sắc hồng và những đám mây đen xếp chồng lên nhau hình vảy cá xuất hiện ở chân trời là đêm nay, hoặc trể lắm tối mai, sẽ có giông bão nổi lên cho mà coi!”

Bác Chín Dần đề nghị:

- “Anh Năm ra ngoài bãi biển với tôi. Còn anh em nên ở lại trong nhà tránh tàu tuần dương của bọn Việt Cộng quan sát từ xa!”

Cả hai vừa rời nhà ra bãi biển. Mọi người lo lắng hỏi ba tôi:

- “Anh Năm Hớn nói như vậy đó! Anh tính sao đây, xếp?”

- “Mình chờ họ vô, bàn lại thật kỹ rồi biểu quyết! Đi hay hoãn lại tùy theo ý kiến của đa số!”

Khoảng nửa giờ sau, hai người trở vô nhà. Bác Chín Dần vẫn lạc quan, nói:

- “Theo tôi, biển chỉ động một tí thôi! Những ngọn sóng bạc đầu chiều nay cũng giống như ngày hôm qua. Biển trở dòng thôi mà! Bây giờ chưa tới 4 giờ chiều. Nếu từ đây đến chạng vạng mà triều cường tiếp tục dữ dội hơn, chúng ta sẽ bàn lại để lấy quyết định sau cùng,” bác tài công nhìn mọi người, hỏi. “Ý kiến anh em như thế nào?”

Mọi người đều đồng ý với bác Chín Dần, và nhìn ra biển hồi hộp, chờ đợi cơn thịnh nộ của biển cả. Nhưng, khoảng 2 giờ sau. Những cơn sóng bạc đầu tràn qua bờ kè đá, lấn vào hàng dừa trên bờ biển thì bỗng dịu dần lại. Sóng trở mình vỗ lao xao vào bãi biển . Mọi người thở phào nhẹ nhõm, trừ chú Năm Hớn lòng vẫn nặng trĩu lo âu. Má tôi lo bữa cơm chiều cho mọi người sớm hơn để chuẩn bị lên đường.

Khoảng 8 giờ đêm. Con trăng hạ tuần cong như cái lưỡi liềm tỏa ánh sáng lờ mờ trên mặt biển tĩnh lặng. Chú Năm Hớn móc cây đèn bão vào cây sào tre, rồi vác ra ngoài bãi biển. Chú cắm cây sào tre trên bãi, ngồi bẹp xuống bãi cát, ngó ra biển khơi chờ đợi ai đó.

Hai giờ sau. Một chiếc tàu đánh cá xuất hiện ngoài khơi, cách bờ biển khoảng trên 200 thước. Ánh đèn pin lóe lên trước mũi tàu, chớp tắt 4 lần. Chú Năm Hớn đứng dậy, lấy cây đèn bão quét qua, quét lại vài lần, cho biết đã nhận được ám hiệu, rồi quày quả trở vào trong nhà báo tin cho mọi người lên đường. Tôi âm thầm theo đoàn người đi ra vàm rạch Tiêu Dừa. Tôi được ba má đở lên một chiếc ghe tam bản trước; sau đó, mọi người lần lượt leo lên ghe và chui vào trong khoang. Chú Năm Hớn cho nổ cái máy “đuôi tôm”, chiếc ghe tam bản cất mũi, lướt ra ngoài khơi. Khoảng 10 phút sau, chiếc chiếc ghe cập sát vào tàu vượt biển. Đó là một tàu đánh cá đã được tân trang lại, chiều dài khoảng 14 thước, trang bị bởi một máy “lốc 8” loại 50 mã lực và một cột buồm cao khoảng 5, 6 để tăng cường sức gió. Người lái tàu là chú Sáu Báu, em ruột của chú Năm Hớn. Chờ cho mọi người vào trong cabin, chú Sáu báo cáo vắn tắt với cho ba tôi:

- “Tất cả chi phí cho chiếc tàu nầy, tổng cộng là 12 cây vàng. Hai thùng phuy loại 200 lít buộc đằng sau lái: một cái chứa nước mưa, một cái chứa dầu. Thức ăn dự trữ gồm mì gói, gạo sấy, cá khô...đủ cho mọi người dùng trong 2 tuần.”

Ba tôi hỏi:

- “Còn phao cứu cấp chú Sáu để đâu?”

- “À, 12 cái ruột xe vespa và cái ống bơm xe đạp, em để dưới khoang chỗ anh ngồi,” chú Sáu lấy 2 cây vàng từ trong túi áo trao cho ba tôi, nói. “Còn dư 2 cây vàng, anh giữ lấy, có khi dùng đến ở trại tị nạn.”

- “Hai cây vàng nầy, tôi biếu chú và chú Năm mỗi người một cây,” ba tôi quay lại nói với mọi người. “Anh em nào còn giữ tiền Hồ, xin đưa lại cho hai chú xài dùm cho.”

Mọi người vét hết tiền Hồ trong túi, tổng cộng cũng được khoảng 5 ngàn đồng. Chú Năm Hớn và chú Sáu Báu nhận tiền và vàng mừng lắm. Bác Chín Dần và ba tôi leo lên phòng lái trên mui tàu nhận tay lái và cho tàu nổ máy. Chú Năm Hớn chúc mọi người thượng lộ bình an, rồi nhảy xuống ghe quay mũi trở vô bờ. Bác Chín Dần cho tàu quay mũi hướng về Mã Lai, xả hết tốc lực...

Má tôi vẫn ngồi ở một gốc khoang, tay lần sâu chuổi “mai côi” tiếp tục cầu nguyện. Còn tôi ngồi bó gối bên cạnh cửa sổ nhìn ra ngoài biển. Màn đêm mênh mông, mặt biển đen sẫm lại, xôn xao từng cơn sóng nhẹ cuộn mình đuổi nhau; thỉnh thoảng, tôi thấy nhiều ánh đèn của ghe đánh cá nào đó lập lòe trong bóng đêm đang chạy ngược chiều; có lẽ, họ đang hướng vào bờ. Tôi tự hỏi, chắc có điều gì không ổn chăng? Bầu trời đêm vẫn lấp lánh những vì sao làm tôi yên tâm phần nào.

Nhưng, đến khoảng 3 giờ sáng. Tôi đang ngủ chập chờn nửa tỉnh, nửa mê vì say sóng, bỗng nghe tiếng bác Chín Dần từ buồng lái ở trên mui vọng xuống: “Gió mùa đông bắc! Căng buồm lên anh em ơi! Nhanh lên đi!”. Mọi người đang nằm trong khoang ghe chạy ùa ra trước mũi tàu, kéo buồm lên. Buồm căng gió thổi phần phật, kéo chiếc ghe nghiêng một bên, lướt về phía trước với tốc độ khá nhanh. Má tôi vừa pha xong một bình cà phê nóng bảo tôi mang lên mui cho bác Chín Dần và ba tôi uống tỉnh táo để vật lộn với sóng biển trắng đêm nay.

Hình ảnh của bác Chín Dần, người cựu chiến sĩ giang thuyền của QLVNCH, đã đi vào cuộc đời tôi như một dũng sĩ ngoài biển cả. Bác gồng cánh tay, ghì chặt cần lái thật vững chãi, chống chọi với những cơn sóng rọc từ dưới biển cuồn cuộn nỗi lên hai bên mạn tàu, mà đôi mắt của bác không rời mũi tàu, đang cỡi trên những đợt sóng cao nghệu rồi chúi mũi xuống. Tiếng gió gầm thét ghê rợn, cái cột buồm kêu răn rắt, còn chiếc tàu chòng chành hết nghiêng bên nầy rồi nghiêng bên kia, sóng biển giập vào mạn ghe, bắn tung tóe lên cả mui tàu. Tôi gọi ba tôi để lấy bình cà phê nóng, rồi hai tay ôm chặt lấy cây thang gỗ để khỏi ngã bổ nhào xuống biển. Bác Chín Dần hớp xong một ngụm cà phê nóng, vừa vuốt những giọt nước biển bám trên mặt, nói:

- “Chú Năm Hớn nói đúng đó anh! Cái ráng hồi xế chiều đã ám ảnh Năm Hớn suốt buổi chiều. Nó sắp thực sự trở thành cơn ác mộng của anh em mình rồi đó! Kinh nghiệm đi biển của ảnh hơn hẳn chúng mình,” bác Chín Dần chỉ về phía hướng 2 giờ, hỏi. “Anh có thấy ngọn hải đăng, cách mình trên mươi hải lý kia không?”

Ba tôi nói:

- “Thấy rồi, tàu của chúng ta đang trên đường đi dưới quần đảo Nam Du thì phải!” ba tôi hỏi. “Anh tính sao đây anh Chín?”

- “Chúng ta chỉ có hai con đường lựa chọn: chạy vào đảo để tránh bảo; có thể, chúng mình sẽ bị bọn cộng sản kết tội phản quốc và chui đầu vào trại tù cải tạo một lần nữa; hay là, liều mạng tiếp tục cuộc hành trình, cố vượt qua khỏi “mắt bão” càng xa càng tốt. Cơ may sống sót chỉ có 20%. Không phải tôi bất tài, nhưng chiếc ghe nầy quá mong manh. Nhưng, tôi sẽ cố gắng hết mình. Sống chết do phần số! Tôi sẽ làm theo ý kiến của đa số anh em.”

- “Anh đoán mấy giờ cơn bão sẽ ập xuống, khoảng cấp mấy?”

- “Trể lắm là trước rạng đông thôi! Gió giật có thể lên đến cấp 9, 10!”

- “Tôi hiểu ý anh rồi!”

Tôi ôm cầu thang tuột xuống, chui vào trong cabin trước, nhường chỗ cho ba tôi. Sau khi tập hợp anh em lại, trình bày vắn tắt ý định của bác Chín Dần. Ba tôi hỏi ý kiến tập thể: “Anh em nào muốn tiếp tục cuộc hành trình thì đưa tay lên!”. Trừ má tôi và tôi. Tám cánh tay cương quyết đưa lên. Ông Hai Mãnh - người lính già nhất - đại diện anh em, phát biểu ý kiến:

- “Chúng tôi chấp nhận thử thách đi vào cõi chết để tìm cái sống. Thà chết trong “tự do” giữa biển khơi, còn hơn chết dần mòn vì bị cực hình, đầy đọa trong ngục tù của bọn Cộng sản tàn bạo!”

- “Tốt! Tôi hoàn toàn đồng ý với tất cả đa số anh em!”

Ba tôi vội vã chui ra khỏi khoang, leo lên buồng lái trên mui, gặp bác Chín Dần khoảng 15 phút, rồi xuống phân công cho mọi người chuẩn bị đấu vật với bão tố: bôm hơi vào 12 cái ruột xe vespa để làm phao cứu cấp. Lấy nước ngọt từ trong thùng phuy, dự trử trong các bình nhựa vừa đủ dùng trong một thời gian đôi ba ngày, rồi vất thùng phuy xuống biển cho tàu nhẹ bớt trọng lượng, sẵn sàng đương đầu sóng to gió lớn.

Khoảng 5 giờ sáng. Sóng biển giập vào mạn tàu thật dữ dội, văng tung tóe vào trong cabin. Cơn mưa bão với gió cấp 10 đã ập tới, gió bắt đầu rít từng cơn trên mui, tiếng gió hú lồng lộn ngoài biển khơi vọng về như tiếng réo gọi của tử thần, nghe thật rùng rợn. Chiếc tàu bị sóng nhồi, chao đảo dữ dội làm tôi lại lên cơn say sóng, ói mửa tới mật xanh thêm một chập nữa. Tôi nằm bẹp dí xuống khoang tàu, co quắp trong cái mền, run lên từng cơn vì lạnh và sợ khi nghe tiếng sóng biển vỗ ầm ầm. Tôi có cảm tưởng, sóng xô dạt con tàu quay mũi về một hướng khác, đẩy nó dựng đứng lên rồi kéo xuống vực, làm tôi thót cả ruột gan. Nhìn qua khung cửa sổ nhỏ, tôi nhìn thấy ngọn sóng lưỡi búa dữ tợn dựng thành những bức tường nước cao trên 5, 6 thước như muốn cuốn tròn con tàu. Chỉ có tôi và mẹ ở lại trong khoang tàu, hai tay bấu chặt vào mạn tàu để không lăn quay long lóc.

Tiếng gầm thét của đại dương trong cơn thịnh nộ cũng không sao át nổi tiếng thét của ông Hai Mãnh trước khi bị sóng và gió bão thổi bay xuống biển: “Việt Nam Cộng Hòa muôn năm!”. Người lính VNCH năm xưa đã mang Tổ Quốc vào lòng trước khi ra trận, họ đã thanh thản mang Tổ Quốc vào lòng, làm hành trang cuối cùngï để âm thầm đi vào lòng biển cả...

Tôi thực sự kinh hoảng thấy ánh đèn pha từ mui tàu quét qua khung cửa sổ, hất xuống biển. Má tôi quăng một cái phao cứu cấp về phía tôi bảo: “Tuấn! Mang phao cứu cấp vào người ngay đi! Coi chừng tàu bị sóng lật úp bây giờ đó con ơi! ”. Đó là tiếng nói cuối cùng của mẹ tôi. Bi kịch đắm tàu trên đại dương bao la như một cuốn phim nghẹt thở quay với tốc độ nhanh. Con tàu vượt biển mong manh giờ như một chiếc lá úa quay cuồn trong vòng nước xoáy với tốc độ kinh hồn, chực kéo nó xuống đáy biển. Và tiếng ai đó la thất thanh đằng mũi tàu: “Mũi tàu bể rồi! Cột buồm sắp gẫy rồi anh em ơi!”. Cơn gió cấp 10 liên tiếp giật đến, bứng cái buồng lái rời khỏi cabin, quăng xuống biển. Một con sóng lưỡi búa biến thành cột nước hung bạo, nó đẩy con tàu dựng đứng lên lần cuối cùng, trước khi cuốn nó lại, vùi xuống đáy biển. Tôi ngước mặt nhìn lên, chỉ kịp nhìn thấy một một khối nước biển khổng lồ từ trên trời đổ ập xuống, giập thân con tàu vỡ ra từng mảnh. Một vật gì đó ngã xuống, va vào đầu tôi một cái thật mạnh - có thể là cái cột buồm đã gẫy - làm tôi ngất đi, mất hết ý niệm về không gian và thời gian, phó mặc cho sóng biển cuốn trôi đi với cái phao cứu cấp nhỏ nhoi trên người...

*

Tôi không biết đã ngất đi từ bao lâu và sóng biển vô tình đã đẩy đưa về đâu. Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình nằm trên một bãi cát trắng của một hòn đảo xa xôi nào đó, dưới ánh nắng mặt trời chói chang và một nửa thân mình còn nổi phập phều trên mặt nước nhờ cái phao cứu cấp. Tôi thu hết sức tàn, cố xoay người lại để trườn lên bờ, tôi giẫy giụa một cách tuyệt vọng vì tay chân bị co rút lại, mấy ngón tay bất lực bấu trên mặt cát. Sóng biển muốn kéo trở lại biển cả một lần nữa, nước biển leo lên lên tận cổ và tràn vào mũi làm tôi sặc sụa. Cái bản năng sanh tồn thúc đẩy tôi làm một động tác cuối cùng trước khi xuôi tay trước định mệnh. Tôi ngước đầu lên khỏi mặt nước cố gào lên một cách tuyệt vọng: “Cứu tôi với!”. Những âm thanh phát ra thều thào như một người hấp hối vì tuyến nước bọt đã đặc quánh, cổ họng khô khốc...Tôi cố nhướng đôi mắt thất thần, nhìn khoảng trời xanh bao la lờ mờ một lần cuối, trước khi trôi theo sóng biển... bỗng tôi cảm thấy thân mình được ai đó nhấc bổng lên khỏi mặt nước, rồi tôi lại ngất đi một lần nữa vì kiệt sức.

Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình được quấn kỹ trong một cái mền bông và ngửi thấy mùi dầu nóng pha lẫn với mùi khói bốc ra từ củi đốt, tỏa ra từ dưới gầm cái chõng tre chỗ tôi đang nằm. Tôi cảm thấy ấm áp chi lạvà bụng đói cồn cào. Tôi khẻ cử động mấy ngón tay và từ từ nhấc hai cánh tay để lên ngực một cách dễ dàng. Tôi nhẹ nhàng trở mình làm cái chõng tre rung rinh, kêu cọt kẹt. Dưới ánh lửa bếp lung linh, một người bạn trẻ giật mình, quay đầu lại nhìn tôi, mừng rỡ kêu lên:

- “Bác Tám ơi! Nó tỉnh dậy rồi!”

Anh ta đứng dậy, chạy đến bên cái chõng, đặt bàn tay ấm áp lên trán tôi, cười nói:

- “Trán của mầy ấm lại rồi,” anh ta hỏi. “Tao cho mầy ăn vài múi quít nghe! Môi mầy còn nhợt nhạt, khô quá đi!”

Tôi níu tay anh ta lại, ngạc nhiên, hỏi:

- “Sao anh biết tên tôi là Tuấn hả?”

Anh ta không trả lời mà thò tay vào trong túi áo bà ba, lấy ra một trái quít đã lột vỏ sẵn, tách nó ra làm đôi. Anh ta lấy một múi quít đưa lên môi, cắn nhẹ vào đầu múi cho nước ngọt trào ra, rà vào đôi môi nứt nẻ của tôi. Tôi liếm những múi quít vừa mát, vừa ngọt trên đôi môi khô và tôi tỉnh lại dần dần.

Một người đàn ông ngoài ngũ tuần nhưng vẫn còn quắc thước, dáng đi nhanh nhẹn, từ ngoài sân bước vào, đến bên cạnh tôi, nhắc chừng anh ta:

- “Con cho cháu Tuấn ăn một vài múi vừa đủ thấm giọng, trơn cổ thôi. Bao tử của cậu ấy còn trống và yếu lắm đó, Yên à!”

- “Thưa bác, con biết rồi!”

Tôi thắc mắc nhìn ông ta, hỏi:

- “Sao bác và bạn nầy đây biết tên cháu là Tuấn vậy?”

- “Cái quần đùi của cháu đã có ghi đầy đủ lý lịch và những địa chỉ cần thiết để cháu liên lạc với gia đình ở bên Mỹ và Việt Nam. Cháu quên rồi à?” ông ta bật cười, nói. “Bộ đồ bà ba của cháu đang mặc tạm trong người là của thằng Yên đó!”

Tôi nắm lấy bàn tay gân guốc của bác, nói:

- “Cám ơn bác và anh bạn Yên đã cứu mạng cháu!”

- “Ơn nghĩa gì cháu! Bổn phận của tôi mà!” ông ta quay sang nhìn Yên, hỏi. “Nồi cháo chín chưa vậy?”

Bạn Yên đáp:

- “Dạ, sắp chín rồi!”

Ông dặn dò cháu, trước khi quay lưng trở ra ngoài cửa:

- “Đút cho cậu Tuấn ăn từ từ thôi nghe, cháu! Đừng cho ăn no lắm!”

Bốn hôm sau. Tôi hồi phục dần dần và có thể đi lại quanh quẩn trong nhà. Trong lúc họ đi vắng, tôi đi ra ngoài bãi biển một mình vào buổi hoàng hôn. Mặt trời đỏ rực từ từ chìm xuống dưới đường chân trời để lại một vầng ánh sáng đỏ rực trên mặt biển bao la. Màn đêm mông lung sẫm lại dần, từng cơn sóng nhẹ xôn xao đuổi nhau chạy vào bãi cát trắng xóa. Có thể nào, đại dương hiền hòa như thế, mà cách đây mấy hôm, biển nỗi cơn thịnh nộ, giống như chảo nước sôi khổng lồ sôi sục, rồi biến thành những đợt sóng lưỡi búa cuồn cuộn dâng lên cao bằng tòa nhà 4, 5 từng lầu, nhận chìm, quét sạch tất cả mọi vật trên đường đi của nó.

Trên bầu trời cao thăm thẳm, một cánh chim hải âu lạc loài, sải đôi cánh bay vào vùng bay vùng biển tĩnh lặng, rơi rớt lại phía sau là những tiếng kêu buồn thảm, làm tôi bỗng thương cha nhớ mẹ vô cùng. Không biết số phận của ba má tôi giờ nầy ra sao, sống chết thế nào? Tôi vùng đứng dậy, chạy dọc theo bờ biển, vừa gào lên thất thanh: “Ba ơi! Má ơi!...” Nhưng, tôi chỉ nghe tiếng dội của chính mình từ ngoài khơi vọng lại một cách tàn nhẫn. Tôi chỉ còn đủ hơi sức chạy được vài mươi thước rồi ngả quỵ trên bãi cát, ôm mặt khóc nức nở. Bạn Yên từ đâu chạy đến, quỳ xuống bên cạnh tôi. Anh ta thấy tôi ôm mặt khóc, cũng khóc theo, rồi mếu máo nói:

- “Tao cũng mồ côi cha mẹ như mầy, Tuấn ơi!”

Tôi gạt nước mắt, hỏi nó:

- “Ba má anh cũng chết ngoài biển như bá má của tôi?”

- “Không, tía má tao bị người ta giết!”

- “Ai giết?”

- “Bác Tám giết, rồi ông ấy mang tao ra hòn đảo hoang nầy dạy dỗ tao nên người!”

- “Tại sao bác Tám lại giết ba má của anh chớ?”

- “Tao thường nghe bác Tám thường hay lẩm bẩm một mình: “Tôi giết tía má thằng Yên!” Nhưng, tao mang ơn bác Tám suốt kiếp! Không có ổng, làm gì tao sống đến ngày hôm nay.” Yên nói.

- “Tôi không hiểu anh nói gì hết! Nhưng thôi, chuyện của anh!” tôi hỏi. “Đảo nầy tên gì, ở đâu?”

- “Đảo nầy nhiều san hô lắm nên tao gọi là đảo “San Hô”, còn bác tao gọi là đảo “Sám Hối”, vì đảo nầy không có tên trong vùng biển nầy.”

- “Đảo nầy là hoang đảo, phải không anh?” tôi hỏi.

- “Không hẳn vậy đâu! Khi bác đưa tao đến đảo nầy, đã có mươi gia đình chài lưới ở phía sau đảo. Nhưng cách đây vài năm, một đợt sóng thần khổng lồ bốc lên khỏi bờ biển, bất ngờ ập đến làng chài vào lúc nửa đêm, cuốn cả làng ra biển. Từ đó, không có ai léo hánh đến đảo nầy nửa.” Yên đứng dậy, nói. “Thôi, mình về nhà. Tao nướng tôm hùm cho mầy ăn.”

Anh Yên nắm tay tôi trở về bãi biển trước nhà. Chúng tôi ngồi dưới hàng dừa cong vút, những tàu lá nhuộm vàng ánh trăng nhợt nhạt, xào xạt đón gió đêm sương. Bạn Yên chạy vào trong nhà lấy một cái mền quàng lên người tôi, rồi bắt đầu nhốm lửa. Những thanh củi từ từ đượm lên ngọn lửa sáng rực, nhưng ít bốc khói, hơi nóng tỏa ra thật ấm áp. Tôi chà xát hai bàn tay trên ngọn lửa rồi áp vào mặt mình, cảm thấy thật dễ chịu. Còn Yên đứng dậy, đi ra bãi biển, kéo cái lọp bằng tre đan từ dưới mặt biển lên, rồi đi trở lại, ngồi đối diện với tôi. Anh ta thò tay vô trong lọp bắt ra hai con tôm hùm xanh, vỏ lốm đốm trắng, sức nặng mỗi con trên một kí lô chớ không ít. Yên lấy cây neo là một que thép nhỏ, nhọn đầu, dài khoảng 5 tấc dùng để neo cái lọp xuống bãi cát, vừa để lụi tôm hùm. Tôi cầm một đầu, Yên giữ một đầu xoay đi, xoay lại cho đến khi vỏ hai con tôm hùm trở thành màu đỏ hồng. Thỉnh thoảng, nước từ mình con tôm hùm rỉ ra từng giọt, rơi xuống than hồng, phát ra những kêu xèo xèo. Tôm hùm nướng trên bãi biển vừa thổi vừa lột vỏ, nóng gần phỏng tay. Tôi đưa con tôm lên miệng xé một miếng nhỏ, nhai ngấu nghiến, thịt tôm ngon ngọt làm sao.

Tôi hỏi:

- “Bác Tám biến đi đâu từ chiều hôm qua, cho đến bây giờ chưa thấy ổng trở về nhà vậy, anh Yên?”

- “Ổng đi tìm vớt xác người vượt biển!” Yên nói. “Sau những ngày biển động, bác Tám không đi biển săn cá mập, chỉ đi quanh quẩn chung quanh đảo suốt ngày để cứu thuyền nhân bị đắm tàu hoặc vớt xác họ về chôn cất.”

- “Mong cho ông gặp được ba má của tôi!” trong đầu tôi lóe sáng niềm hy vọng dù mong manh, tôi hỏi. “Đảo nầy có lớn lắm không?”

- “Chỉ đi bộ một ngày là giáp một vòng đảo,” anh ta nói. “Bao giờ mầy khỏe hẳn, tao sẽ dẫn mầy đi một vòng đảo cho biết! Thôi, tụi mình vào nhà ngủ đi, Tuấn!”

Tôi bước vào nhà, khép cánh cửa lại tránh gió lùa vào, rồi ngả mình lên cái chõng tre, mệt mỏi ngủ thiếp đi vào lúc nào cũng không hay...cho đến khi một bàn tay ấm áp đặt lên trán tôi làm tôi giật mình mở bừng mắt ra thì trời đã sáng bửng. Bác Tám ngồi bên cạnh cái chõng, ôn tồn hỏi:

- “Trên chuyến tàu vượt biển của cháu, ngoài mẹ cháu ra, còn có người đàn bà nào khác nữa không?”

Tôi trả lời:

- “Dạ, chỉ có một mình mẹ con thôi!”

- “Thôi, như vậy là đúng rồi,” bác thở dài, tiếp. “Mẹ con đã chết rồi!”

Tôi ngỡ ngàng, hỏi:

- “Tại sao bác biết chắc như vậy?”

Ông ta nói:

- “Dậy đi! Ra ngoài sân, bác chỉ cho cháu xem vật nầy.”

Thấy tôi theo bác ra ngoài sân, Yên cũng ngồi dậy cùng đi ra ngoài. Trên sân, một cột buồm đã gẫy với tấm vải buồm bị cắt xén một góc và một cái phao cấp cứu bằng ruột xe vespa. Bác lấy một xâu chuỗi “mai côi” trong túi áo ra, đưa cho tôi, nói:

- “Bác đã tìm thấy vật nầy đeo trên cổ xác chết của một phụ nữ khoảng ngoài 40 tuổi, trôi tấp vào bãi biển phía Nam đảo cùng với cột buồm đã gẫy,” bác thở dài, nói. “Vì thân thể ngâm dưới lâu ngày đã biến thành dị dạng, nên ông đã cắt vải buồm để liệm bà và chôn trong nghĩa trang dưới chân đồi gần đây thôi!”

Tôi run run, cầm xâu chuỗi “mân côi” , vật bất ly thân của mẹ tôi, mà nước mắt ràn rụa. Cái phao cứu cấp và xâu chuỗi nầy đủ để chứng minh rằng: “mẹ tôi đã chết!”. Tôi ngồi quỵ xuống đất, úp mặt trong lòng bàn tay khóc ngất. Bác Tám và bạn Yên ôm chầm lấy tôi chia sẻ nổi đớn đau nầy.

- “Hãy nhớ lấy ngày nầy để giỗ cha mẹ con. Sáng mai, bác sẽ đưa con đến nghĩa trang để viếng mẹ của con.” bác nhìn Yên, đột ngột hỏi. “Tối qua, con đốt lửa trên bãi biển, phải không Yên?”

- “Dạ phải!” Yên nói. “Con nướng tôm hùm đó!”

Bác vuốt đầu Yên, nhắc nhở:

- “Từ đây về sau, tuyệt đối không được đốt lửa trên bãi biển nữa nghe, Yên!”

Yên ngạc nhiên, hỏi:

- “Tại sao vậy, bác?”

Bác Tám nói:

- “Đảo “San Hồ”â gần như là một hoang đảo, nằm lẽ loi cách quần đảo Thổ Châu về phía tây nam khoảng 40 hải lý.”

Tôi lấy tay quẹt nước mắt, ngắt lời:

- “Còn quần đảo Thổ Châu cách đất liền có xa không bác?”

- “Khoảng 200 hải lý, trên 200 cây số đường chim bay,” bác nói tiếp. “Vùng biển nầy lắm bọn hải tặc Thái Lan, đón cướp tàu thuyền nhân, giết người đoạt của, hãm hiếp đàn bà trẻ con vô cùng dã man. Mình đốt lửa lên chẳng khác nào bảo cho chúng biết: “Lạy ông, con ở bụi nầy!”. Các cháu hiểu lời bác rồi nói chớ?”

Anh Yên nói:

- “Dạ, con hiểu rồi!”

Bác nhìn tôi, hỏi:

- “Cháu muốn trở về đất liền, sống với thân nhân họ hàng hay tạm ở đây một thời gian ngắn. Bác sẽ tìm cách đưa cháu vượt biển một lần nữa. Cháu muốn sao cho bác biết,” thấy tôi còn chần chừ, bác tiếp. “Thôi, cháu yên tâm ở lại đây! Suy nghĩ cho kỹ, rồi cho bác biết cũng chưa muộn mà.”

Anh Yên hỏi:

- “Hôm nay, bác đi biển hay ở nhà?”

Ông ta lơ đãng nhìn ra biển khơi, nói:

- “Gần giữa tháng chạp rồi, mùa bủa lưới cá mập bắt đầu giữa tháng giêng cho hết tháng 4 âm lịch. Bác có hẹn sẽ ra khơi với chú Tư Sún vào trung tuần tháng sau. Lần nầy, dự định sẽ hoạt động vùng ngư trường trong khu tam giác Hòn Khoai – Côn Đảo và Bãi Cảnh Dương thuộc quần đảo Trường Sa khoảng 3 tuần lễ mới trở về đất liền.”

Anh Yên nắm tay bác Tám, nói:

- “Lần nầy, cho con đi theo bác với nghe!”

- “Không được, con phải ở nhà với cháu Tuấn chờ bác về rồi hãy tính!”

Yên sụ mặt xuống, nhìn tôi, hỏi:

- “Mầy có muốn theo tao đi biển không?”

Thật tình, tôi cũng có máu phiêu lưu và mạo hiểm, truyền thống của gia đình. Ba tôi là sĩ quan “biệt kích dù”, chú tôi là chuyên viên ngành hàng hải cho đội thương thuyền ngoại quốc, hiện định cư tại tiểu bang California. Vì vậy, tôi gật đầu mạnh dạn, nói liền:

- “Đi thì đi! Sợ gì chớ!”

- “Mới đắm tàu mà không sợ chết à,” bác Tám nhìn tôi như dò xét, hỏi. “Cháu muốn ra khơi cho biết, thiệt không?”

Tôi nói:

- “Cháu đã bị đắm tàu, đã không chết thì sẽ không bao giờ chết ngoài biển nữa đâu, bác ơi!”

Bác Tám nhìn hai đứa tôi, nói:

- “Thôi, hai đứa ở nhà nghe! Bác ra ngoài gềnh đá bạc, kiểm tra lại chiếc ghe câu để tối nay đi câu mực.”

Bác Tám quay lưng đi rồi. Tôi nóng lòng viếng mộ mẹ, lại càng không thể chờ đến ngày mai. Tôi hỏi:

- “Ê, Yên nầy! Nghĩa trang gần đây không? Anh có thể dẫn tôi đến đó ngay bây giờ được không?”

- “Cũng gần đây thôi! Nhưng tao không biết cái mộ nào của má bạn. Chờ ngày mai, ổng dẫn mầy đi tiện hơn; vả lại, tao không muốn làm trái ý của ổng đâu!” Yên nhìn tôi, nói. “Nếu mầy muốn, tao dẫn mầy đi tham quang một vài nơi chung quanh đảo cho biết.”

Nằm ở nhà mấy hôm liền dưỡng sức. Tôi cảm thấy trong lòng bứt rứt, muốn đi một bộ cho giãn gân cốt. Tôi chấp nhận liền:

- “Ừ, đi thi thì đi!”

Yên dẫn tôi đi dọc bãi biển, khu vực tây bắc đảo, nơi có những gềnh đá chìm nổi hoặc nhô lên mặt biển, mang những hình thù kỳ dị trông thật lạ lùng và những dãy san hô huyền ảo, lung linh dưới mặt nước biển màu xanh lơ trong vắt. Tôi có nhìn thấy đàn cá nhiều màu sắc rực rỡ, lội nhởn nhơ bên những bãi san hô kiếm mồi. Dọc theo bờ biển là những bãi tắm thật lý tưởng và thơ mộng. Tiếng sóng biển vỗ rì rào vào bãi cát như mơn trớn mời gọi. Cả hai đứa tôi cùng chạy ào xuống bãi biển, bơi lội thỏa thích. Đắm mình trong nước biển mát lạnh và trong đến độ tôi nhìn thấy một bầy cá “lòng tong biển”, lội vờn quanh người tôi một cách dạn dĩ. Sau đó, chúng tôi ngả mình trên bãi cát tắm nắng, lắng nghe tiếng kêu ríu rít của đàn nhạn biển bay lượn trên những rặng cây xanh trong khu rừng thưa. Tắm xong, chúng tôi rời khu vực nầy để leo đồi. Len lỏi qua những gềnh đá chập chùng, xuyên qua rừng cây xanh mượt mà là một dòng thác nhỏ mơ màng, nước trắng xóa chảy róc rách tìm đường ra biển lớn.

Đứng từ trên cao, tôi có thể nhìn tổng quát toàn đảo. Đảo không đủ kích thước để gọi là đảo, mà gọi là “hòn” thì đúng hơn. Phía sau là đá núi với khu rừng hoang dã, lá cây xanh ngắt một màu. Phía trước là biển xanh loang nắng. Tôi ngẩn ngơ và xúc động lạ thường trước cảnh hùng vĩ của đại dương. Anh Yên chỉ cho tôi thấy một cái vịnh nhỏ phía sau vách núi đá, cát sạch, kín gió và sâu, nơi thích hợp cho loài tôm hùm xanh, sanh sôi nẩy nở. Nó thường dùng một cây sào dài có ngạnh, lặn xuống nước, luồn dưới những hốc đá săn tôm hùm cho tôi thưởng thức trong suốt thời gian lưu lại ở đảo nầy.

Bỗng, tôi thấy bác Tám mình trần trùng trục, đang còng lưng, gồng mình nắm hai đầu cái khiêng, kéo lê một người nằm trên đó, không biết còn sống hay đã chết. Hai đầu cán cày trên bãi cát để lại hai vệt dài ngoằn ngoèo như vết rắn bò.

Tôi nói:

- “Ê, anh Yên! Bác Tám đang kéo cái khiêng đi trên bãi biển kìa!”

- “Bác Tám vớt thêm một xác người chết trên biển nữa rồi đó!” anh ta giục tôi. “Thôi, tụi mình chạy xuống biển, tiếp bác Tám một tay đi!”

Bất ngờ, thấy chúng tôi từ đằng xa chạy bay đến. Bác Tám đặt cán khiêng xuống đất, lấy tay quẹt những mồ hôi động trên trán. Bác hỏi:

- “Tụi bây đi đâu vậy?”

- “Con dẫn thằng Tuấn đi tham quan đảo,” Yên nói. “Bác cho tụi con phụ một tay với.”

- “Thôi khỏi! Tụi bây đi về nhà trước đi!”

Nằm trên cái khiêng đan bằng tre đan là một một xác người đàn bà trung niên mặc bộ đồ bà ba màu đen, gương mặt nhăn nhúm như cô động sự đau đớn trước khi chết. Nhưng, hai cánh tay bà vẫn còn ôm chặc hài nhi nằm trong cái đai bằng vải. Thân thể cả hai trở thành dị dạng và sắp bắt đầu thối rữa. Tôi không dằn được xúc động. Nhớ đến cha mẹ, nước mắt của tôi trào ra. Còn anh Yên bụm mặt khóc rưng rức. Bác Tám ôm hai đứa tôi vào lòng, nói:

- “Đây là cái giá của “Tự Do”! Những thuyền nhân phải đem sanh mạng của chính mình đánh vật với tử thần, họ phải đi vào cõi chết để mưu tìm hai chữ “tự do” mà không phải ai cũng gặp may mắn đâu,” bác Tám thở dài, tiếp. “Ba mẹ cháu Tuấn chết vì bão tố phong ba, còn mẹ con người nầy chết vì những thứ nầy...”

Bác Tám thò tay trong túi quần đùi may bằng vải buồm, đóng nhiều lớp muối cứng ngắt như da trâu, móc ra một nắm đầu đạn súng trường, rồi bác sè bàn tay ra cho hai đứa tôi coi. Giọng bác trở nên uất ức, nói:

- “Bác đã tìm thấy 13 đầu đạn AK 47, ghim trong thân thể của mẹ con người đàn bà xấu số nầy.”

- “Ai bắn họ vậy, bác Tám?” tôi hỏi.

Tôi nhìn thấy ánh mắt của bác Tám long lên sáng quắt như có lửa. Bác gằn từng tiếng, nói:

- “Bọn công an biên phòng Việt Cộng!”

Và trong đêm trường hiu quạnh đó, bác Tám không ra khơi câu mực như thường lệ. Sau bữa cơm chiều đạm bạc, bên ngọn đèn dầu lấy từ mỡ cá mập, cháy leo lét trong căn nhà nhỏ, cất bằng gỗ tạp nhưng rất vững chắc, có khả năng chống đỡ những cơn gió cấp 6, 7. Bác Tám nốc cạn một xị rượu đế do bác tự cất lấy, rồi vuốt đầu thằng Yên, nói:

- “Đã đến lúc, bác phải nói hết sự thật về cái chết của tía má cháu mà bác cũng có dự phần ở trong đó!”

Anh Yên mếu máo, hỏi:

- “Tía má của cháu có tội gì mà bác Tám giết chớ?”

- “Câu chuyện thương tâm đó xảy ra như vầy,” bác Tám kể. “Vào đầu tháng 3 năm 1978, sau khi ba sư đoàn chính quy 3, 8 và 330 thuộc QĐND Việt Nam cùng với 2 trung đoàn cơ động tỉnh Đồng Tháp và Hậu Giang trực thuộc Quân Khu 9, đánh bật sư đoàn 2 và 210 của Khemer Đỏ chạy về bên kia biên giới. Bác nghe nói, tình hình bên Miên lúc đó lộn xộn lắm, nên Quân Khu 9 tiếp tục bố trí mấy sư đoàn nầy, lo việc phòng thủ biên giới Việt - Miên.”

- “Lúc đó bác Tám đang làm gì, ở đâu?” Yên hỏi.

- “Trung đội trưởng du kích xã Ba Chúc,” bác Tám tiếp. “Xã nầy có trên vài mươi ngàn dân sinh sống, đa phần là nông dân theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương và cách biên giới Việt - Miên khoảng 7 cây số. Bỗng dưng, vào buổi trưa trung tuần tháng 4 năm 1978, Bí thư huyện ủy Tri Tôn nhận lệnh của cấp trên, điều động du kích xã Ba Chúc phối hợp với các đơn vị chính quy thuộc sư đoàn 330, khẩn trương cho tập trung trên 3.000 dân làng Ba Chúc vào các chùa và trường học... ngủ qua đêm, để bộ đội bảo vệ an ninh được dễ dàng. Bác được phân công tác, lùa dân làng nằm trong khu vực sốc Lương Phi, cách chân núi Tượng khong xa lắm - trong đó có gia đình cháu Yên - vào trường trung học cấp 2 thuộc xã Ba Chúc, cách con kinh Vĩnh Tế khoảng 5, 6 cây số.”

- “Con nhớ ra rồi! Tối hôm đó, tía con bị cơn sốt rét rừng hành hạ mà bác và mấy chú du kích xã cũng không tha. Bác còn hăm bắn tía con, nếu không chịu theo đoàn người đi ra tập trung tại trường học.” Yên nói tiếp. “Tía con có nói với bác: nơi nầy cách biên giới Việt - Miên gần 7 cây số. Bộ đội ta bố trí dầy đặc, con kiến cũng chưa chắc chui qua lọt. Thằng Pol Pot, nó có ăn gan trời cũng không dám xua quân Khmer Đỏ vượt biên giới và lội qua con kinh Vĩnh Tế để tấn công vào làng Ba Chúc của mình mà!”

- “Đúng vậy, chính vì quá tin tưởng vào lòng yêu nước, thương dân của bộ đội cộng sản, mà bác đã vô tình tiếp tay với họ, gián tiếpï giết hại trên 200 đồng bào ruột thịt miền Nam tại khu vực sốc Lương Phi, một nơi mà đồng bào Việt và Miên sống chung đụng hòa bình với nhau,” bác Tám thở dài, tiếp. “Đúng nửa đêm, bác khóa các cánh cửa trường và cổng ra vào; đồng thời, bố trí tiểu đội du kích xã chung quanh trường học theo đúng kế hoạch hành quân của họ bày ra. Bác lẻn ra bụi chuối, cách trường học khoảng vài ba chục thước để phóng uế. Bất ngờ, bác phát hiện ra một toán lính Khmer Đỏ khoảng một trung đội đi ngang qua chỗ bác ngồi. Nhưng, nhờ bụi chuối um tùm mà họ khôngï phát hiện được bác. Thì ra, bọn họ không phải là lính Khmer Đỏ...”

Yên nóng ruột, hỏi:

- “Không phải lính Khmer Đỏ của Pol Pot, vậy chắc là lính Ngụy rồi!”

- “Không phải lính Khmer Đỏ mà cũng không lính Việt Nam Cộng Hòa mà là bộ đội thuộc sư đoàn 330 chính quy cộng sản!”

- “Sao bác Tám biết?” tôi hỏi.

- “Bác nghe tên trưởng toán ra lệnh cho đồng bọn: triệt để thi hành lệnh của đồng chí chính ủy là đốt sạch, giết sạch, không cho một người nào sống sót, kể cả mấy tên du kích xã,” bác Tám kể tiếp. “Khoảng 15 phút, sau mấy tiếng nổ long trời lở đất, ngôi trường phát hỏa dữ dội. Bác Tám thấy đám đông còn sống sót, từ trong trường học chạy túa ra ngoài sân đều bị bộ đội giương lưỡi lê, dùng mã tấu đâm chém loạn xạ cho đến chết hết, họ mới chịu ngừng tay. Cuộc thảm sát dã man nầy, không kém tội ác của bộ đội Việt cộng gây ra ở Huế và các tỉnh Miền Nam Việt Nam lúc Tết Mậu Thân năm 1968. ”

Yên hỏi:

- “Còn tiểu đội du kích lúc đó ở đâu? Sao không thấy họ phản ứng gì hết?”

- “Chờ cho bọn bộ đội rút đi, bác mới lò mò trở ra hiện trường,” bác Tám thở dài, ngao ngán, nói. “Thủ đoạn giết người man rợ của bọn lính Pol Pot còn chào thua bộ đội cộng sản. Cả sân trường nhầy nhụa, bê bết máu, những tử thi mất đầu, mất tay chân...ông già, bà cả, đàn ông, đàn bà, trẻ con và anh em du kích bị giết sạch nằm chồng chất lên nhau thấy mà hãi hùng. Duy chỉ có một người sống sót.”

- “Ai mà mạng lớn quá vậy, bác Tám?” tôi hỏi.

- “Thằng Yên nầy chớ ai,” bác Tám vò đầu Yên, rồi tiếp. “Bổng nghe tiếng ai đó khóc thúc thít, bác bèn bật đèn cây đèn pin lia nhanh trên sân trường, mới nhìn thấy cái chân của nó còn ngo ngoe dưới hai cái xác chết khác. Chính nhờ cha mẹ ôm con đở đạn mà nó thoát chết, nó chỉ bị một lưỡi lê đâm xuyên qua đùi; may mà không trúng xương. Bác lật đật cõng nó lên vai chạy băng đồng, vượt qua kinh Vĩnh Tế, chạy về miệt sông Giang Thành. Bác trốn trong nhà người anh họ là Út Trương vài ngày để chăm sóc vết thương của thằng Yên.”

Yên thắc mắc, hỏi:

- “Cùng là “lực lượng vũ trang cách mạng”, mà tại sao bộ đội chính quy tàn sát du kích và đồng bào vô tội Miền Nam, trong số đó có cả tía má của con?”

- “Đây là độc chiêu chánh trị của bọn Cộng sản Việt Nam: “ném đá dấu tay” rồi “giết người bịt miệng”; sau đó, chúng đổ lên đầu bọn Khmer Đỏ xâm phạm lãnh thổ, giết hại đồng bào nhằm mục đích kích động lòng căm thù giữa dân tộc Việt Nam và Campuchia. Hơn một tháng sau, bộ đội viễn chinh Cộng sản Việt Nam ồ ạt vượt biên xăm lăng Campuchia. Theo chỗ bác được biết, có trên 3.000 đồng bào vô tội, gồm cả đàn bà, trẻ con sống rải rác trong làng Ba Chúc bị bộ đội cộng sản thảm sát nội trong đêm đó!” bác Tám chậc lưỡi, thở dài nói. “Sau đó, chánh quyền huyện Tri Tôn cho xây một nhà mồ hình lục giác, bên trong nhà mồ là một hộp kính có 8 cạnh chứa đầu lâu và hài cột của các nạn nhân, để tố cáo tội ác “trời không dung, đất không tha” của bọn khát máu ... Khmer Đỏ!”

- “Ngoài anh Yên ra, còn có ai sống sót trong vụ thảm sát nầy không hả, bác Tám?” tôi hỏi.

- “Chỉ có vài người sống sót,” bác Tám bóp trán, cố nhớ lại, nói. “Nhân chứng thì có bà Trần thị C..., ông Nguyễn văn Ch... ở trong xã Ba Chúc. Nhưng người quan trọng nhất là một ông giáo trường Trung học cấp 2, xã Vĩnh Tế đã lên án bọn lãnh đạo Cộng sản Việt Nam bằng một câu nói bất hủ: “Ngày xưa, Lưu Bị khóc dân Kinh Châu. Ngày nay, bọn cộng sản khóc đồng bào sống rải rác trong xã Ba Chúc bằng những giọt nước mắt cá sấu!” Sau đó, ông bị đuổi khỏi nhiệm sở và bị tên Sáu Nhỏ trùm Công An tỉnh An Giang bắt đi tù. Không biết bây giờ, ông giáo nầy còn sống hay đã chết rồi!”

Tôi hỏi:

- “Tại sao bác và anh Yên lưu lạc ra đến tận hòn đảo xa xôi nầy?”

Bác Tám nói:

- “Trong thời gian điều trị vết thương cho cháu Yên, bác được anh Út Trương cho biết: bác có tên danh sách truy nã của chánh quyền huyện Tri Tôn. Vì vậy, bác phải dẫn cháu Yên cao bay xa chạy đến hòn đảo vắng vẻ nầy để sám hối tội lỗi của mình đã gây ra.”

Thật vậy, trong những ngày lưu lại đảo “Sám Hối”. Sau những ngày biển động, tôi thấy bác Tám thường lang thang trên bờ biển vắng một mình để đón những xác thuyền nhân xấu số, vô thừa nhận, trôi dạt theo thủy triều, tấp vào đảo nầy để được bác chôn cất họ tử tế. Có những xác gần như đã thối rửa, có những xác chết nằm co quắp trên bãi biển dưới sương khuya hoặc dưới ánh mặt trời nóng bỏng, có những xác thiếu phụ, trẻ thơ chết không một mảnh vải che thân, có những xác chết bị đập vỡ sọ đầu, mình lỗ chỗ vết đạn AK hoặc bị chém cụt tay, cụt chân. Có một lần, tôi thấy bác Tám bồng xác chết của một bé gái Việt Nam chưa quá tuổi vị thành niên bị bọn hải tặc Thái Lan hãm hiếp, rồi vất xác xuống biển mà hai hàng nước mắt của bác Tám chảy ròng ròng...

Tờ mờ sáng hôm sau. Sau khi ăn qua loa vài chén cơm nguội với khô cá biển. Bác Tám kê vai vác cây cột buồm đã gẫy lên vai, rảo bước về phía nghĩa trang của người vượt biển. Yên và tôi lẽo đẽo theo sau, ngược xuống phía nam đảo, vượt qua mấy gềnh đá thì gặp một con suối nhỏ từ trên núi chảy ra biển. Nước suối trong vắt và lạnh buốt. Chúng tôi xăn quần, bì bõm lội suối. Vượt qua khỏi rặng cây xanh, cách bờ biển độ 200 thước thì gặp một nghĩa trang nằm bên phải. Tôi đếm tất cả 152 nấm mồ, đấp đơn sơ bằng đất cát đã được bác Tám chôn cất ngay hàng thẳng lối; dù sao, nghĩa tử là nghĩa tận. Nghĩa trang hướng về phía mặt trời lặn thật trang nghiêm. Mỗi dãy gồm 15 nấm mồ, mẹ tôi ở đầu dãy thứ 16. Còn thi hài của hai mẹ con người đàn bà xấu số mà bác Tám vớt được ngày hôm qua trên bãi biển, được chôn cất bên cạnh mẹ tôi. Tôi chạy băng vào rừng, hái được bó hoa dại đặt trước nấm mồ đất đấp chưa khô.

Thời gian trôi qua thật nhanh. Mới đó mà đã trung tuần tháng giêng rồi. Một buổi sáng nắng ấm, Yên đang dạy tôi cách dùng chĩa săn tôm hùm trốn tại các hốc đá ở trong vịnh. Tôi vừa trồi lên khỏi mặt nước; bất ngờ, thấy một chiếc tàu lạ xuất, đang từ từ tiến vào trong vịnh. Tôi vội vàng nhoài mình xuống nước, ra dấu cho Yên trồi lên mặt nước. Vừa nhìn thấy chiếc tàu, Yên mừng lắm, nói: “Tàu bủa lưới cá mập của chú Tư Sún đó! Tụi mình có dịp ra khơi rồi, Tuấn ơi!”. Yên chụm hai bàn tay lại làm loa, gọi lớn: “Con là thằng Yên nè! Chú Tư ơi!”. Yên lội sãi ra đón tàu, còn tôi lội nhanh vô bờ đứng chờ họ.

Đó là một chiếc tàu loại đi bủa lưới “cá mập” trọng tải trên mấy trăm tấn, chiều dài khoảng 25 thước, cabin chiếm một phần ba, trang bị bởi một máy nổ 400 sức ngựa, có thể hoạt động liên tục ngoài biển cả tháng mà không cần tiếp tế lương thực, xăng dầu. Thuyền trưởng kiêm tài công là chú Tư Sún và thủy thủ đoàn 21 người đa số là họ hàng với nhau, hợp đồng ăn chia với nhà nước cộng sản. Thủy thủ trẻ nhất trạc tuổi tôi là Nguyệt - con gái duy nhất của chú Tư - Nguyệt mồ côi mẹ nên chuyến hải hành nào Nguyệt cũng đi theo cha để học nghề săn “cọp biển”. Tôi còn nhớ, chú Tư thường hay nói đùa: “Đứa nào muốn làm rể tao, phải đủ sức câu một con cá mập nặng cở 10 tấn trở lên!” Mấy cậu thanh niên nghe đều lắc đầu, le lưỡi, hít hà...

Thủy thủ đoàn thả neo cho tàu đậu trong vịnh tránh gió, rồi lần lượt lên bờ mang theo lương thực, chủ yếu là gạo tiếp tế cho bác Tám, đủ sống ít nhất đôi ba tháng, chờ chuyến sau. Họ dựng lều trên sân ngủ qua đêm. Trong lúc họ say giấc, tôi một mình, mang theo vài nén nhang đi lên nghĩa trang viếng mộ mẹ. Sương đêm giăng giăng khắp nơi trong nghĩa trang lạnh lẽo. Tôi đốt ba nén nhang thắp trước ngôi mộ mẹ, nhìn làn khói trắng mỏng manh, tỏa ra lẫn vào màn sương đêm mịt mù. Tôi gối đầu lên mộ mẹ ngủ thiếp đi trong tiếng sóng biển rì rào, ngọt ngào như lời ru của mẹ.

Tiếng ai gọi tôi từ dưới bãi biển vọng lên ơi ới: “Tuấn ơi! Tuấn ơi!...” làm tôi giật mình, mở mắt ra thì trời đã sáng bửng. Tôi liền chạy bay ra bãi biển về nhà thì gặp Yên đang lội bì bõm dưới suối. Bắt gặp tôi, Yên mừng lắm,nói:

- “Đêm qua, mầy ngủ ở đâu vậy?”

- “Nằm ngủ quên trên nghĩa trang!” tôi nói.

- “Lẽn đi mà không cho ai biết làm tao và bác Tám lo quá chừng,” Yên giục. “Thôi, về nhà lẹ lên đi! Chờ mầy về là tàu nhổ neo đó!”

Thấy tôi và Yên chạy lúp xúp từ đằng xa, bác Tám mừng rỡ vẫy tay, gọi lớn: “Lẹ lên đi tụi bây! Tàu sắp nhổ neo rồi đó!”. Tôi hỏi:

- “Mấy người trên tàu đâu rồi, bác Tám?”

- “Họ đi lên tàu hết rồi để chuẩn bị nhổ neo. Lần sau, có đi đâu thì phải cho bác hoặc thằng Yên biết nghe cháu,” bác đưa cho tôi và Yên, mỗi đứa một bọc áo quần. Còn bác vác trên vai một cái thùng gỗ dài khá nặng. Bác giục. “Thôi, đi lên tàu kẻo mọi người chờ đợi.”

*

Sau khi mọi người lên tàu, Nguyệt có nhiệm vụ điểm danh thủy thủ đoàn, rồi chạy lăng xăng đếm từng người. Có lẽ, lần đầu chạm mặt tôi, Nguyệt hỏi rất tự nhiên:

- “Anh tên gì vậy?”

- “Lê Trần Tuấn!” tôi trả lời.

- “Anh là thủy thủ mang số 25 đó nghen!” nàng cười hóm hỉnh, rồi leo lên buồng lái phía trước mũi tàu.

Vài phút sau. Con tàu nổ máy, rẽ sóng hướng ra biển khơi. Tôi chui vào trong cabin, rồi đi ra đằng sau lái tàu, nhìn về phía đảo “Sám Hối”. Trên bãi cát trắng xóa, hàng dừa cao cong vút chồm ra biển, những tàu lá xanh mướt, phe phẩy đón gió như những cánh tay vươn ra, vẫy chào tạm biệt. Rừng cây xanh trên đồi núi nhạt nhòa dần trong tầm mắt và tôi lại thẫn thờ nhớ đến mẹ, người vĩnh viễn ở lại nghĩa trang của người vượt biển như người vợ thủy chung, hướng về phía mặt trời lặn để chờ đợi cha tôi...

Một ngày ở trên tàu, chỉ có tôi là người vô tích sự, ăn không ngồi rồi. Mấy người trong thủy thủ đoàn tất bật công việc, chủ yếu là hoàn chỉnh lại lưới bủa, khâu lại các chỗ rách hoặc hở. Lưới bủa là một sợi dây triên dài 20 ngàn thước, toàn cước “ni long” mà đường kính đến 3, 4 ly. Sợi triên nầy có nhiều “dây thẻo” dài 25 thước do 3 sợi bện lại thành 1 nên rất chắc. Dưới cùng là một chùm lưỡi câu khoảng 10 cái, đúc bằng thép có ngạnh, to bằng đầu đũa ăn, dùng để móc mồi câu cá mập. Một vài người khác chuyên lo việc mài giũa lưỡi câu cho thật sắc.

Cuối cùng, tôi tìm ra một công việc rất thích hợp là phụ với Nguyệt và Yên lo việc nấu ăn cho thủy thủ đoàn. Thực phẩm căn bản vẫn là thịt cá mập dưới dạng thịt khô hoặc đông lạnh trong hầm chứa nước đá dưới khoang tàu. Thịt nạc có màu trắng, không có mở, chiên lên thành món steak ăn ngon như thịt bò. Sau bữa cơm trưa và chiều thì lo dọn dẹp, rửa chén bát; thỉnh thoảng, bác Tám và và chú Tư , cha của Nguyệt từ trên buồng lái xuống thăm chúng tôi. Chú Tư nhìn anh Yên chăm chú, rồi nói thì thầm với bác Tám điều gì đó rồi cả hai phá lên cười; hình như, Nguyệt biết chuyện, mặt nàng bỗng đỏ gay vì thẹn...

Đêm đó, tàu bỏ neo tại hòn tại Hòn Khoai phía dưới mũi Cà Mau ngủ qua đêm. Sau bữa cơm chiều, chúng tôi lại làm thêm món nhậu cho mọi người uống rượu lấy gân. Đó là món da cá mập phơi khô, cạo sạch chất nhám bên ngoài, rồi ngâm nước sôi cho mềm trước khi cắt từng miếng nhỏ trộn với dưa chua và rắc đậu phộng lên, ăn ngon tuyệt. Thủy thủ đoàn tụm ba, tụm bảy trên mui, đằng mũi tàu hoặc trong cabin. Rượu vào lời ra, tiếng cười dòn như pháo nổ. Đến 9 giờ tối, mọi người đi ngủ sớm để ngày mai bắt đầu bủa lưới cá mập.

Tôi nằm trong một góc khoang, bên cạnh bác Tám và anh Yên.. Trong giấc ngủ chập chờn, tôi lại nằm mơ thấy mẹ tôi đang ngồi bó gối trên bãi biển chiều hôm, đôi mắt mẹ thật buồn, ngó mong lung ra ngoài trùng khơi sóng vỗ như chờ đợi cha tôi. Dáng mẹ ngồi lặng lẽ, câm lặng như bức tượng đá. Bất chợt, hai hạt lệ trào ra khóe mắt, chảy dài xuống đôi má cằn cỗi. Tôi chỉ gọi được hai tiếng: “Mẹ ơi!...” rồi giật mình ngồi bật dậy. Trong cabin tràn ngập ánh trăng rằm.

Quấn cái mền quanh mình cho ấm, tôi đi ra đằng sau lái rồi leo lên mui tàu. Tôi ngồi yên lặng như con cú dưới ánh trăng. Trăng trên biển sáng và rực rỡ quá và gần như tôi thấy được màu xanh của rừng trên Hòn Khoai. Làng chài ven biển trên Hòn Khoai, đèn nhà ai vẫn còn ánh lên những đốm lửa chập chờn. Sau lưng Hòn Khoai là quê hương tôi, chỉ cách một vài giờ tàu lướt sóng là đưa tôi trở lại đất liền. Những ngọn đèn bão của những chiếc ghe câu mực, di động lung linh trên mặt biển làm tôi nhớ quá cửa Định An, nơi dòng sông Hậu đổ ra biển là quê nhà tôi đó, nơi tôi sanh ra đời và lớn lên theo từng mùa nước nổi...Bước chân của ai rón rén, đi trên mui lợp thiếc phập phều làm tôi giật mình, quay đầu nhìn lại, thì ra là Nguyệt, nàng ngồi xuống cạnh tôi, nói: “Khuya rồi! Đi ngủ đi, anh Tuấn!” Tôi gật đầu và theo nàng trở xuống cabin.

Tiếng kẻng đánh thức mọi người dậy vào lúc 6 giờ sáng. Trong lúc tàu chạy vào vùng ngư trường, mọi người chuẩn bị móc mồi cá vào lưỡi câu. Vào khoảng vài tiếng sau, chú Tư Sún bắt đầu cho tàu giảm tốc, chạy ngược lên phía bắc về phía Côn Đảo và trong suốt hải trình 20 hải lý, bằng chiều dài của sợi dây triển. Dàn lưới bủa lần lượt được thả xuống biển. Mỗi sợi dây thẻo cách nhau 100 thước, trên có đánh dấu bằng một cái phao tròn như quả banh, có cắm lá cờ trắng để dánh dấu. Tôi đếm 200 cái phao tất cả; thỉnh thoảng, bác Tư ném xuống biển một miếng thịt trâu còn đẫm máu xuống biển, để nhử cá mập bu tới. Đánh hơi thấy mùi máu tươi, bầy cá mập từ dưới biển nổi lên mặt biển, tranh nhau đớp mồi, vi của chúng nhô lên khỏi mặt nước cả thước. Bất ngờ, một con cá mập trắng nặng cả tấn, từ dưới biển bất thần phóng mình lên khỏi mặt nước, rồi rơi ùm xuống biển làm bắn nước tung tóe lên tàu. Đến xế chiều, việc bủa lưới lưới hoàn tất. Chú Tư cho mọi người nghỉ ngơi lấy sức để chuẩn bị công việc vô cùng vất vả cho ngày hôm sau: xẻ thịt cá mập.

Đêm đó, tàu bỏ neo giữa biển. Đến 3 giờ sáng, tiếng kẻng đánh thức mọi người dậy thật sớm. Sau khi ăn lót dạ, chú Tư cho nổ máy tàu, chạy thật chậm ngược theo hàng cờ nhỏ cắm trên mấy cái phao nổi, để cho thủy thủ đoàn cuộn lưới bủa lên sàn tàu cùng với những con cá mập nặng từ nửa tấn mắc câu, được xẻ thịt liền tại chỗ rồi phân loại theo đúng tiêu chuẩn: “Nhất vi, nhì gan, tam bì, tứ nạc”. Ngày đầu tiên, thu hoạch được khoảng 30 con “cọp biển” nặng từ 200 ký đến 500 ký. Chủ yếu là lấy vi cá, có giá trị kinh tế cao nhất, một bộ vi chiếm 1% trọng lượng toàn thân. Tôi tập sự lấy gan cá mập dồn vào thùng phuy, tiếp tay với họ.

Mấy ngày hôm sau, bủa trúng một con cá mập loại trắng khổng lồ, nặng cở 3 tấn, loại cá mập nầy nổi tiếng khát máu và hung dư.õ Cái miệng rộng toác hoác, đưa hai cái bàn nạo với hai hàm răng nhọn bén như dao cạo, hai bên mép nhô ra hai cái răng cưa có khả năng nghiền nát cả một khúc gỗ lớn như cột buồm, đó là nỗi kinh hoàng của thuyền nhân, chẳng may bị bão tố quật xuống biển.

Con cá mập trắng đập đuôi vùng vẫy dữ dội khi bị kéo vào sát mạn tàu. Chú Tư cho vài người lực lưỡng dùng chĩa đâm chết trước khi trục lên khoang tàu xẻ thịt. Nhìn con cá mập trắng nằm chình ình trên khoang tàu, chú Tư khoái quá cười toe toét, nói với bác Tám: “Chuyến nầy trúng mối rồi!”. Quả thật, chỉ có bộ vi đã cắt được gần 40 kí rồi, nội bộ gan đã chứa gần đầy cái phuy. Trước khi vất bao bì xuống biển để tránh cho tàu khỏi quá tải, Nguyệt nhờ bác Tám dùng dao bén mổ cái dạ dầy, để tìm những vật lạ không thể tiêu hóa được. Lần nầy, Nguyệt tìm thấy vài tấm thẻ bài và vài đôi giày “bốt” của những người lính thuộc QLVNCH; rất có thể, họ đã chết trên đường di tản hoặc đã tận lực chiến đấu với bọn lính biên phòng VC ngoài biển khơi lúc vượt biển tìm tự do?”

Tôi ngạc nhiên, hỏi:

- “Nguyệt sưu tầm những vật nầy để làm gì vậy?”

Nàng không trả lời, chỉ nhờ tôi múc nước biển tẩy sạch máu cá bám trên những vật nầy, trước khi đem phơi nắng trên nóc ca bin. Xong đâu đó, nàng nắm tay tôi đi vào trong một gốc khoang, lôi ra một cái rương gỗ khá to. Nàng nói: “Nguyệt đã tìm thấy những vật nầy trong bụng những con mập bị vướng lưới, anh cứ mở nắp rương ra coi!”

Tôi tò mò mở nắp rương ra xem, đó là một bộ sưu tập của những người lính thuộc QLVNCH đủ mọi quân binh chủng, từ những khẩu súng Colt 45 đã rĩ sét, những đôi giày bốt, những huy hiệu, huy chương, những cái bút nịt còn đính huy hiệu nhãy dù, thủy quân lục chiến, những cánh bay còn nguyên vẹn, những bộ quân phục rách rưới, tả tơi...

- “Nguyệt góp nhặt những vật nầy để làm gì?” tôi ngạc nhiên, hỏi. “Dùng để bán cho những người sưu tầm những kỹ vật của chiến tranh?”

- “Những di vật vô giá nầy thuộc về những chiến sĩ vô danh QLVNCH. Họ đã một thời xã thân chống bọn cộng sản xâm lược để bão vệ nền Độc Lập - Tự Do - Dân Chủ thực sự của Miền Nam Việt Nam trước đây,” Nguyệt nhìn tôi, tiếp. “Rằm tháng 7 năm nay, Nguyệt sẽ đem những vật nầy lên chùa để nhờ các sư chân tu tụng kinh siêu độ cho họ.”

Tôi lại càng ngạc nhiên về sự hiểu biết của nàng. Tôi hỏi:

- “Ai nói cho Nguyệt biết về những điều nầy vậy?”

- “Bác Tám chớ ai,” Nguyệt chỉ cái radio hiệu National, máng tòn ten ở trên vách, nói. “Ngoài ra, Nguyệt còn nghe mấy đài phát sóng ở nước ngoài nữa cà!”

Tàu bủa lưới cá mập lênh đênh trên vùng biển đông sang đến đầu tuần lễ thứ ba, khai thác được trên chục tấn hải sản đủ loại. Sau khi neo tàu, ngủ qua đêm cách Hòn Khoai về phía nam độ 30 hải lý. Chú Tư quyết định cho quay mũi tàu hướng về Vũng Tàu để bán tươi sản phẩm cho thị trường hải sản là công ty xuất khẩu Phan Thiết - Vũng Tàu. Nhưng một biến cố bất ngờ xãy ra làm ảnh hưởng đến cả cuộc đời của tôi...

Theo đúng kế hoạch. Trời vừa rạng đông, trong lúc thủy thủ đoàn còn đang yên giấc, ngủ dưởng sức sau gần 3 tuần lễ lao động vất vả trên biển cả. Chú Tư cho tàu nổ máy, quay mũi tàu về hướng Vũng Tàu. Bác Tám, tôi và anh Yên phụ giúp nhổ neo rồi đứng trên mũi tàu hóng gió biển. Bác Tám nói:

- “Về đến bến bãi, bác và thằng Yên sẽ đưa cháu trở lại quê nhà. Cháu nghĩ sao?”

- “Bác đưa cháu về đến Sài Gòn là được rồi. Cháu có người dì ruột ở tại Tân Định,” tôi nắm tay anh Yên, nói. “Nhờ anh chăm sóc dùm ngôi mộ của má tôi.”

Yên vỗ vai tôi, nói:

- “Đừng lo, chuyện nhỏ thôi mà!”

- “Làm sao, tôi liên lạc được với bác Tám và anh?” tôi hỏi.

Bác Tám nói:

- “Cháu cứ viết thơ, gởi về địa chỉ nhà của chú Tư tại thị trấn Dương Đông - Phú Quốc là được rồi!”

Bất ngờ, nhìn thấy một cột khói đen kịt bốc lên đằng phía chân trời, chú Tư từ trên buồng lái trên cabin, gọi vọng xuống:

- “Nhìn về hướng 2 giờ. Tôi thấy khói lửa dậy ở chân trời!”. Bác Tám lấy tay che mắt cho đở chói nắng, nhìn về hướng chú Tư chỉ, hốt hoảng nói:

- “Xảy chuyện rồi đó chú Tư!” bác Tám quay qua, bảo anh Yên. “Con vào trong cabin, mở nắp thùng gổ, lấy cái ống dòm đem ra cho bác Tám.”

Vài phút sau, anh Yên trở ra đưa cái ống dòm cho bác Tám. Tất cả đi lên buồng lái gặp chú Tư. Bác Tám đưa cái dòm lên ngang với tầm mắt vừa quan sát, vừa kể lại diễn tiến những gì đang xảy ra ở đằng chân trời:

- “Bọn hải tặc đang khống chế hai chiếc ghe của thuyền nhân. Chúng đã tách rời họ ra, đàn bà trẻ con qua một chiếc để cưỡng hiếp. Còn đàn ông và thanh niên bị dồn qua một chiếc ghe khác, trước khi phóng hỏa đốt ghe. Tôi còn thấy nhiều người phóng xuống biển, đang lội bì bõm dưới biển bị bọn chúng dùng chĩa nhọn đâm họ như đâm cá. Máu loang đỏ mặt nước,” bác Tám chữi thề. “Đ. m tụi hãi tặc Thái Lan thiệt dã man mà! May quá, một tàu tuần dương có treo lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện.”

Chú Tư Sún mừng quá, reo lên:

- “Như vậy là đồng bào được công an biên phòng cứu rồi đó!”

- “Cứu cái con mẹ gì chớ!” bác Tám văng tục. “Mẹ bà nó! Tụi nó đâu có thèm tiếp cứu đồng bào đâu nà. Chúng đang quay mũi tàu trở lại Côn Đảo thì phải.”

- “Tính sao đây, anh Tám?”

- “Bằng mọi giá, mình phải cứu đồng bào thôi!”

- “Lấy cái gì chơi tụi hải tặc Thái Lan đây?”

- “Đừng lo, tui có đồ nghề chơi tụi nó mà,” bác Tám bình tỉnh, nói. “Anh cứ cho tàu tăng tốc, chạy cập hông chúng nó. Tui xuống cabin lấy đồ nghề và đánh thức tất cả anh em dậy, chuẩn bị chiến đấu.”

Tiếng kẻng báo động vừa vang lên. Tất cả thủy thủ đoàn chạy đều chạy ùa ra hai bên mạn tàu. Còn bác Tám vác cái thùng đồ nghề ra, đặt xuống hông trái tàu. Hai tàu chạy ngược chiều nhau, khoảng cách rút ngắn dần. Bây giờ, mắt thường cũng thấy mũi tàu của bọn hải tặc Thái Lan hiện rõ dần. Bác Tám ngước mặt lên phòng lái, nói:

- “Chạy cập hông! Nhớ giữ cự ly 20 thước là được rồi!”

Chú Tư nói vọng xuống:

- “Tui nghe rõ rồi, anh Tám!”

Bác mở nắp thùng gỗ, xách một khẩu B40 và một khẩu AK47 dựng bên mạn tàu, rồi lắp đạn vào. Và mọi hồi hộp chờ đợi giây phút quyết liệt sắp xảy đến, vì chiếc ghe của thuyền nhân bị kéo phía sau, chỉ cách tàu của bọn hải tặc có vài thước. Nếu quả B40 chệch hướng, sẽ trúng ghe của thuyền nhân, nó sẽ nổ tan như xác pháo.

Khoảng cách rút ngắn từ 100 thước, còn 50 thước... Tàu hải tặc khai hỏa trước, một loạt đạn AK47 nổ ròn rã, tiếng đạn bay veo véo trên đầu chúng tôi. Bác Tám bình tỉnh đặt khẩu B40 lên vai phải, song song với mạn tàu, ngón tay trỏ đặt vào cò súng. Chú Tư Sún giảm tốc. Tàu của bọn hải tặc lao vút tới sẵn sàng va chạm. Chú Tư lách con tàu sang bên phải. Vừa thấy mũi tàu của bọn hãi tặc trờ tới, bác Tám vươn vai đứng dậy, nhanh chóng xiết cò. Một ánh lửa phụt hậu lóe lên, đầu đạn B40 rời nồng lao thẳng vào mục tiêu...Một tiếng nổ “ầm” dữ dội phát ra làm nhức tai, buốt óc. Chiếc tàu hải tặc bốc cháy, trước khi nổ bung ra thành những mảnh vụn, chìm xuống biển. Một cái đầu lâu của tên hải tặc nào đó văng lên tàu. Thuận chân, anh Yên đá nó bay xuống biển. Tôi chồm lên mạn tàu nhìn phía ghe của thuyền nhân. Vừa thấy cả chục tên hải tặc còn trần truồng từ trên ghe phóng mình xuống biển thoát thân. Bác Tám nộ khí xung thiên, vớ lấy khẩu AK47 nhả đạn, mặt biển loang máu, bọn hải tặc Thái Lan bị tiêu diệt toàn bộ. Chiếc ghe của thuyền nhân trôi dạt về phía sau...

Chú Tư lái tàu cập sát vào chiếc ghe của các nạn nhân. Bác Tám ôm khẩu AK47 nhảy xuống trước, anh Yên và tôi nhảy xuống sau. Nguyệt thả cuộn thang dây, leo xuống ghe sau cùng. Một cảnh tượng vô cùng thương tâm đập vào mắt tôi. Trong khoang tàu, chỉ có đàn bà và trẻ con, gương mặt người nào cũng lộ vẻ kinh hoàng, ràn rụa nước mắt. Một người đàn bà ngồi thu mình trong một gốc khoang, đôi mắt thất thần như người mất trí, đang ôm một đứa con gái bé bỏng không một mảnh vải che thân vào lòng. Một người đàn bà đứng tuổi, gương mặt rắn rỏi, đôi mắt cương nghị. Thấy bác Tám cầm khẩu AK47 trong tay, bà hỏi:

- “Ông là bộ đội Việt Cộng?”

- “Đúng, trong thời chiến tranh giải phóng tôi là cán bộ VC. Nhưng,” bác Tám cười, nói. “Bây giờ tôi đã thức tỉnh rồi! Thực chất của chiến tranh giải phóng dân tộc chỉ là một cuộc chiến tranh xâm lược Miền Nam để hôi của, bọn quan cách mạng gốc miền Bắc xa hội chủ nghĩa cai trị dân miền Nam mình còn dã man, tàn bạo gắp trăm lần bọn thực dân Pháp. Tôi giã từ chủ nghĩa Cộng sản từ khuya rồi, cô ơi!”

- “Cám ơn ông đã cứu chúng tôi, thoát khỏi tay bọn hải tặc Thái Lan!”

- “Ơn nghĩa gì, mình là người Việt Nam cả mà! Tôi chưa đến đổi mất hẳn tính người như bọn công an biên phòng VC,” bác Tám hỏi. “Tất cả mọi người trên ghe đều bình yên cả chớ?”

- “Người nào cũng bị chúng cưỡng hiếp tập thể. Người lớn chúng tôi còn đủ sức chịu đựng. Chỉ tội nghiệp cháu gái đó, mới có 10 tuổi đầu mà bị cả chục thằng hải tặc lực lưỡng như trâu, thay phiên nhau cưỡng hiếp. Cháu đang hấp hối trên tay mẹ.”

Nguyệt nhìn người đàn bà đó, hỏi:

- “Xin lổi, dì tên chi?”

- “Dì tên Trúc!”

Trúc dẫn mọi người đến gặp mẹ con người đàn bà đáng thương đó. Nguyệt quỳ xuống bên cạnh người đàn bà, nhìn gương mặt em bé đẹp như thiên thần, đang thở những hơi thở cuối cùng trên tay mẹ. Những giọt nước mắt mong manh ứa ra khỏi khóe mắt, tinh khiết như những giọt sương mai, đọng trên một đóa hoa hồng vừa chớm nở, lặng lẽ chảy thành dòng trên đôi má ngây thơ. Em thở hắt ra, rồi nghẽo đầu sang một như một cánh chim non bị trúng đạn. Tiếng khóc của người mẹ vở ra thành một chuỗi âm thanh uất nghẹn, đớn đau. Bà rú lên như điên dại và mọi người trên ghe nhoài người tới, ôm chầm lấy bà...

Chỉ riêng có dì Trúc là còn giữ được bình tỉnh. Theo tôi, đó là một người đàn bà đầy bản lãnh, đứng trên đầu sóng, ngọn gió mà không hề nao núng. Dì Trúc nhìn bác Tám, hỏi:

- “Ông có thể giúp chúng tôi được không?”

- “Cô cần gì, cứ nói!”

- “Xăng dầu và lương thực để tiếp tục cuộc hành trình còn dở dang.”

Bác Tám ngạc nhiên, hỏi:

- “Ai là người lái ghe?”

- “Tôi!” dì nói đầy vẽ tự tin, tiếp. “Chồng tôi là Hãi Quân Đại Úy, tôi đã phụ với chồng tôi lái chiếc ghe xấu số nầy! Tất cả đàn ông, thanh niên trên ghe đều bị bọn hải tặc giết chết hết hồi nãy!”

- “Thôi được, tôi đưa cô lên tàu gặp chú Tư Sún, coi chú có thể giúp được việc gì cho cô không?”

Khoảng một tiếng đồng hồ sau. Dì Trúc trở xuống ghe tuyên bố với mọi người: “Cuộc hành trình vượt biển tìm tự do vẫn tiếp tục! Tôi là người lái ghe! Người nào tin tưởng tôi thì ở lại, còn muốn trở về đất liền thì leo lên tàu đánh cá! Trễ lắm là ngày mốt, tàu sẽ đưa mấy chị em về đến bến cảng Vũng Tàu! Ai muốn tiếp tục cuộc hành trình thì đưa tay lên!”

Tất cả mọi người đều đồng ý tiếp tục cuộc hành trình. Trong lúc mọi người chuyền xăng dầu, lương thực, nước ngọt từ tàu đánh cá xuống ghe. Bác Tám kêu tôi ra đứng đằng mũi ghe, hỏi:

- “Cháu có muốn đi theo họ không?”

Tôi mạnh dạn, đáp:

- “Dạ muốn chớ!”

- “Hay lắm!” bác Tám nói. “Để bác gởi gấm cháu cho cô Trúc, chăm sóc cháu trong thời gian ở trại tỵ nạn.”

Tôi nói:

- “Con tự lo liệu được mà, bác Tám!”

Xế chiều, tôi trở lên tàu đánh cá từ giã mọi người. Gởi gấm mộ mẹ cho anh Yên chăm sóc dùm. Bác Tám xiết chặc tay tôi, chúc: “thượng lộ bình an”. Còn Nguyệt nhìn tôi, nói: “Em có cái nầy tặng anh Tuấn.” Tôi chưa kịp trả lời, Nguyệt khoát lên người tôi một cái áo len còn thơm mùi chỉ mới. Tôi trở xuống ghe, mọi người ùa ra mạn tàu vẫy tay chào từ giã. Chiếc ghe quay mũi hướng ra biển đông, tiếp tục cuộc hành trình vượt biển tìm tự do. Chú Tư cho tàu đánh cá nổ máy hướng vào đất liền. Tôi lưu luyến nhìn theo cho đến khi chiếc tàu mất hút đằng sau chân trời...

Hoàng hôn trên biển. Màn đêm buông xuống thật chậm và biển hôm nay lặng gió. Sóng biển vỗ vào mạn ghe nhè nhẹ, êm như tiếng ru hời của mẹ. Biển tối dần, bầu trời như hẹp lại bởi con trăng lưỡi liềm không đủ sức tỏa ra ánh sáng rực rỡ. Người đàn bà bất hạnh ôm xác con thơ, đi ra ngồi trước mũi ghe, lặng lẽ như cành liễu rũ già nua bên bờ hồ, rồi bà cất tiếng ru con, điệu ru nước mắt như nghẹn trong cổ họng, rồi vỡ thành tiếng khóc nức nở. Mọi người trong ghe quây quần chung quanh bà yên lặng cầu nguyện. Bà không đủ can đảm thả xác con xuống biển. Dì Trúc phải làm công việc nầy thay cho bà. Dì đặt em nằm trên tấm ván ghe, âu yếm đặt lên má em một nụ hôn vĩnh biệt trước khi thả em xuống biển. Nhìn xác con trôi dật dờ theo sóng biển, bà mẹ đau đớn, thét lên một tiếng: “Trời ơi!” rồi ngất đi...

Bây giờ chỉ còn lại mình tôi đứng trước mũi ghe, nhìn xác em trôi bồng bềnh như cánh hoa lục bình lẽ loi dạt ra cửa biển quê tôi. Sóng biển sẽ đưa thân xác em trôi về đâu? Vào trong cõi luân hồi mù mịt khói mây hay tan vào lòng đại dương ngàn năm lạnh lẽo. Tôi vẫy tay chào vĩnh biệt em lần cuối cùng, khi xác em trôi khuất dần sau tầm nhìn của tôi...

Sau ba ngày đêm không ngủ, Dì Trúc vẫn dũng cảm và vững vàng trên tay lái, đưa chiếc ghe định mệnh đến bến cảng Tarampa, trạm đầu tiên thuộc quần đảo Nam Dương, trước khi được chuyển tiếp đến trại tỵ nạn Galang: NGƯỠNG CỬA CỦA TỰ DO!

Nguyễn Vĩnh Long Hồ

http://vantuyen.net/index.php?view=story&subjectid=26310#.TyiG3cVBmSp

Ngày tết ôn chuyện cũ: nghĩ gì khi Dương Văn Minh đầu hàng năm 1975

Không biết sao tự nhiên năm nay đón Xuân mới, tôi lại lẩm cẩm thích tìm hiểu vào đúng thời điểm Dương Văn Minh đầu hàng thì bạn hữu nghĩ gì làm gì và cái tết đầu tiên sau khi miền Nam rơi vào tay cộng sản thì họ đón tết ra sao? Có phải là điềm gì không, tôi không biết.

Với tôi thì không bao giờ tôi quên được đúng lúc Dương Văn Minh đầu hàng, bầu trời Sài Gòn bỗng dưng u tối trong mươi phút cho dù đó là trưa Tháng Tư, nắng như đổ lửa. Lúc đó tôi đang ở nhà bà chị ruột tại Quận 1. Tôi nghe mà không tin, cứ ngỡ như mơ. Tuy vậy, sợ hãi nên sau đó lấy “acetone” chùi hết móng tay, phụ cùng bà chị vứt hết quần áo quân nhân, sách vở có hai bàn tay Việt Mỹ. Trở về nhà ở Gia Định, đường đi không bị kẹt lắm nhưng ngổn ngang rác do mọi người sợ hãi đem vứt. Ngay sáng 1/5 thì vào trường Khoa Học trình diện. Tết năm đó, họ hàng vẫn kéo nhau lên nhà bác tôi (trưởng tộc) nhưng không khí không như xưa vì ai cũng nghèo đi, ai cũng sợ hãi cho tương lai bấp bênh và những ngày tháng đen tối trước mặt…Cả mấy năm sau, tôi vẫn ở tình trạng mơ hồ như thế. Khi đi về miên Tây, tôi cứ tự hỏi “ Quê hương mình như thế này đây, miền Nam mình như thế này đây, bây giờ lại bị lũ đười ươi cướp hay sao?”. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn “khinh rẻ” lũ đười ươi. Với tôi, họ, lũ cán chóp bu, không phải là “người”!

Khi nhận thư trả lời của bạn hữu thì đúng là mỗi người một cảnh và từ đó một suy nghĩ . Nhà văn Từ Trì ở Pháp, lúc đó đang làm ở ngành ngoại giao kể như sau:

Năm 1975, chúng tôi ăn Tết ở Tokyo. Tuy lúc đó tình hình bên nhà chưa đến nỗi nguy ngập lắm nhưng trong thâm tâm của người công dân VNCH có tình trạng bất an. Chúng tôi ở bên ngoài nên thấy rõ tình hình, biết rằng sau hiệp định Paris 1973 cộng quân đang chuẩn bị chiếm miền Nam. Đêm trừ tịch anh em sứ quán gượng vui đến ăn Tết với kiều bào để cố gắng trấn an mọi người. Nhưng tôi cảm thấy ai ai cũng lo lắng.

Ngày 30 - 04 - 1975 : khi tôi tới Tòa Đại Sứ thì thấy sinh viên du học và kiều bào ở Nhật vào đứng đầy chặt trong sân. Khi bị mất nước đồng bào ở ngoại quốc cố bấu víu vào Sứ quán như là một mảnh đất còn lại của quê hương. Ông Đại Sứ và chúng tôi quyết định gia hạn thẻ thông hành (giờ gọi là hộ chiếu) 5 năm cho tất cả các kiều bào để họ có lý do xin chính quyền Nhật cho ở lại trong khi chờ đợi xin tỵ nạn ở nưóc khác.

Trước hôm đó mấy hôm các nhà ngoại giao phục vụ tại Tokyo được Thủ Tướng Nhật mời dự tiệc trong vườn dinh Thủ Tướng để mừng mùa anh đào nở (Cherry blossom) nhưng vì cộng quân tiến dần về Sàigòn nên chúng tôi quyết định không tham dự.

Sau ngày 30/04 vì tôi ngày trước học bên Pháp nên ông Đại Sứ yêu cầu tôi tới Sứ quán Pháp để lo việc xin cho kiều bào xin tỵ nạn tại Pháp. Một đồng nghiệp khác vì đã học ở Mỹ về cũng có sứ mạng tương tự khi đến Sứ quán Mỹ.

Sứ quán Pháp đón tiếp tôi lịch thiệp và dành mọi dễ dàng khi cấp chiếu khán (visa) nhập cảnh Pháp. Sứ quán Mỹ đón tiếp không lấy gì là niềm nở, không hứa hẹn gì vì họ nói chưa nhận được chỉ thị của chính phủ Mỹ.

Gia đình chúng tôi ở lại Nhật cho tới cuối tháng 6 mới qua Pháp vì đợi hết niên học để con cái không bị gián đoạn trong việc học hành. Trong thời gian này chính phủ Nhật vẫn cho chúng tôi giữ nguyên các quyền lợi ngoại giao như đặc quyền đặc miễn (immunity and privileges) cho tới khi rời nước Nhật.

Có lẽ lúc đó ở hải ngoại nên nhà văn Từ Trì lo cho đồng hương và cũng không có thì giờ để nhớ đúng lúc Dương Văn Minh đầu hàng thì mình đang ngủ hay đang làm gì?

Ông Nguyễn văn Tần, lúc 75 là Thiếu Tá Hải Quân thì kể:

Lúc DVM ra lịnh đầu hàng, tôi trên đường ra Côn Sơn họp với Bộ Tư Lịnh Hạm Đội.

Tôi thật sự chết sững vào khoảng 5 phút, không biết mình nghĩ gì. Tết đầu tiên tôi ở Maryland, ngồi buồn rồi đi ngủ, nằm mơ thấy đứa em út của tôi bị VC rượt bắn. Tôi la lên và lăn từ trên giường xuống đất. Ngồi dậy, tôi tỉnh ngủ xuống nhà ngồi chờ sáng để đi làm.

Một “người lính” khác, ô Nguyễn Ngọc Anh ( cựu Chủ Tịch CĐ NVQG Arizona), vào 75, đang trong ngành không quân:

Lúc ông DVM tuyên bố đầu hàng, vì đang ở Côn Sơn nên tôi không trực tiếp nghe, mà chỉ nghe mấy cấp chỉ huy nói lại. Bây giờ đọc câu hỏi của chị tôi mới sực nhớ lại là từ rạng sáng 29 tháng 4, sau khi VC pháo vào phi trường TSN, cho đến chiều ngày 30 tháng 4 hình như tôi không có ăn gì cả, chỉ uống nước cầm hơi. Tôi cũng nhớ lại cảm giác khi nghe DVM đầu hàng là tuyệt vọng đến cùng cực, mọi thứ đều trở nhòa đi, và đầu óc như bị "đóng băng". Cảm giác "trí nhớ bị đóng băng" hình như kéo dài đến 5 năm sau, khoảng 1980 thì tôi mới hoàn hồn. Trong suốt thời gian đó tôi như người bị mộng du, không suy nghĩ hay nhớ được điều gì, thành ra không có "kỷ niệm đáng nhớ" nào để hồi tưởng cả.

Còn với một người nửa lính nửa dân thì sao? BS Thú Y Bùi Xuân Cảnh kể:

Đêm 29 tháng 4 năm 1975, tôi ở trong doanh trại quân y, gần Tổng Y Viện Cộng Hòa, ở Gò Vấp. Cả đêm, nghe đại bác giặc rót vào phi trường Tân Sơn Nhất. Chúng tôi chui vô mấy căn hầm, phòng ngừa bị trúng đạn. Bụng đói, nhưng lòng hoang mang tan nát. Nửa đêm, ông thương sĩ Thường Vụ nấu cháo gà đem tới. Ông nói:" Vợ con binh sĩ trong gia binh đã ra ngoài hết. Tụi em quơ đại mấy con gà nấu cháo. Mình phải có cái gì bỏ bụng mới cầm cự được!” Lúc ấy đã quá nửa đêm . Tiếng đại bác thưa dần rồi im bặt. Một thứ yên lặng chết chóc bao trùm không gian. Không tiếng máy bay gầm rú, không tiếng súng quen thuộc! Bụng đói, nhưng sự lo lắng làm tôi phải cố gắng mới nuốt hết ca cháo gà. Tôi nhớ, lúc ấy chỉ có một ông Thiếu Úy là sĩ quan cấp dưới, còn lại mấy chục người vây quanh đều là hạ sĩ quan và binh sĩ. Thiếu Úy Tố dè dặt nói với tôi: “Có lẽ có thỏa thuận ngưng bắn rồi, đại úy à! Sao tự nhiên êm lặng quá!" Nhưng linh tính báo cho tôi chuyện khác. Tôi nói với anh em: “Chuẩn bị rút ra khỏi doanh trại này ngay. Tụi nó tới rồi, có lẽ nó ở ngay ngoài hàng rào này thôi!” Nhìn nét mặt kinh hoàng của những người bao quanh, tôi biết họ đang cháy lòng chờ đợi một quyết định của tôi. Sau cùng, không thể chờ đợi lâu hơn nữa, ông thượng sĩ Bốn lo lắng lên tiếng:" Sao bác sĩ biết là nó tới sát đây rồi? Nếu như thế, mình làm sao rút ra khỏi trại được?” Nhìn mấy chục cặp mắt xoáy vào mặt tôi, chờ đón một câu giải đáp, như những kẻ chết khát chờ được uống nước. Tôi nói: “Đang đánh nhau mà mọi tiếng súng đều im bặt, thì chỉ có nghĩa là không còn mục tiêu nào để cho địch thanh toán. Có lẽ quân ta quanh vùng này cũng đã rút hết đi rồi! Thôi, tụi bay chuẩn bị vũ khí và tập họp quanh đây. Thiếu Úy Tố sẽ điều động anh em ra khỏi doanh trại, hướng về Ngã Tư Phú Nhuận. Mục tiêu là tìm đường đi xuống miền Tây. Ai không muốn đi, xin tùy ý. Tôi cũng chẳng còn biết xin lệnh của ai lúc này!”.

Trong khi chúng tôi chuẩn bị rời doanh trại thì trời đã lờ mờ sáng. Nhìn ra ngoài đường, tôi thấy dân chúng từ miệt Gò Vấp đang hối hả đổ về đường Võ Di Nguy, hướng về phía Saigon.Tôi mở vòng kẽm gai bên cửa ngách, nắm lấy một anh thanh niên đang hớt hải, hỏi anh ta “Anh ở đâu chạy tới đây vậy ?” Anh ta khoát tay chỉ về phía sau “Em ở gần đây thôi, nhưng nó đến đầy quanh nhà em rồi! Thôi, xin để em chạy ra bến tầu bây giờ!”. Tôi chợt nẩy ra ý định “Sao mình không rút ra bến Bạch Đằng, may ra có tàu!” Tôi quay vào doanh trại, lệnh cho Thiếu Úy Tố [ nay đang định cư ở Pennsylvania ] lấy chiếc xe Jeep còn lại, lấy thêm 2 binh sĩ hộ tống sẵn sàng. Tôi gọi Thượng sĩ Bốn, nói với những người còn lại, nên chạy ra bến Bạch Đằng, may ra có thể đi tàu. Ai không muốn đi, thì về với gia đình.

Chúng tôi ra đi lúc 6 giờ sáng. Xe chạy trên đường từ Tổng Y viện Cộng Hòa về ngã tư Phú Nhuận, tôi thấy nhiều xác lính nằm chết bên ven đường. Chúng tôi qua đường hai Bà Trưng và tới bến Bạch Đằng. Tới nơi, chúng tôi thấy một rừng người. Trên sông là một chiếc tàu, người đã bu đen trên tàu như đàn kiến. Trên mấy cái cột cao ở tàu, người “đậu” như chim! Trên bến , từng loạt đạn vang lên chát chúa. Có lẽ là súng của đám lính bắn dọa nhau, hoặc dành nhau xuống tàu. Thấy cơ sự không thể xuống tàu được, tôi ra lệnh quay xe về. Trên đường quay về, tôi nói với hạ sĩ Nhàn là tài xế, cho tôi ghé qua nhà ở Cư Xá Sĩ Quan Chí Hòa. Tôi sợ khi giặc tràn vào, chúng sẽ tàn sát gia đình các sĩ quan ở đây. Đêm hôm qua, tôi đã gọi phone về nhà, để bà xã tôi đem mấy đứa nhỏ và bà mẹ tôi đến nhà cô em ở đường Công Lý, gần Phú Nhuận. Nhưng tôi muốn chắc ăn, nên ghé qua nhà, cũng muốn để coi qua xem có chuyện gì cần làm. Cổng cư xá vẫn có lính gác nghiêm nhặt. Ngoài toán lính thường, còn có lính dù bao quanh. Mở cửa vào căn nhà thân yêu, nhưng vắng bóng người, lạnh lẽo. Mấy anh lính đi theo tôi, lấy đồ trong tủ lạnh ra. Chúng tôi chiên trứng và làm bánh mì, rồi mở radio nghe tin tức. Khi tôi đang quấy ly cà phê và lơ đãng nghe, thì thiếu úy Tố la lên “Chết mẹ! nó đầu hàng rồi!”. Phải mấy giây sau đó tôi mới tỉnh ra, để nghe thấy cái tiếng eo éo của Minh Cồ, đại ý “...anh em binh sĩ buông súng, ở yên tại chỗ, chờ bàn giao cho các anh em phía bên kia!..." Tôi không nghe được cái lệnh đầu hàng! Chỉ là lệnh buông súng và bàn giao! Đó là vào khoảng 10 giờ sáng 30 tháng 4 năm 1975!

Chúng tôi sững sờ, thấy như trời sập đổ, đất sụp dưới chân! Tôi như mụ đi, ra một cái lệnh trong mê sảng “Đi về lại doanh trại!”. Chúng tôi nhả miếng bánh mì và hối hả nhảy lên xe. Nhưng cổng cư xá đã đóng chặt bằng hai lớp kẽm gai. Mấy người lính bảo tôi “Đại úy không ra được! Có lệnh bất xuất, bất nhập!” Tôi xuống xe, gặp một Trung Úy dù chỉ huy toán lính dù, chỉ vào dấu hiệu quân y, nói với ông rằng tôi phải về doanh trại gấp. Ông nhìn tôi thẫn thờ, rồi không nói lời nào, ông phất tay ra lệnh cho anh lính kéo vòng kẽm gai đủ chỗ cho cái xe jeep vọt qua. Tới đầu đường Bắc Hải, tôi muốn cho xe đi về phía chợ Ông Tạ, định đi lối đó về phía Tổng Tham Mưu, rồi lên Gò vấp. Nhưng không thể đươc, vì đường Lê Van Duyệt lúc ấy đã biến thành đường một chiều. Chỉ có thể đi xuôi xuống phía Saigon mà thôi! Đành phải đi xuôi theo lối đó. Đi qua trại Nguyễn Trung Hiếu, ở phía đối diện với cái Nghĩa Trang Chí Hòa, tôi thấy tên mặt đường một lỗ đạn nổ, và xác chết một người dân nằm cạnh.

Xe chạy một khúc đường chưa tới Ngã Sáu Saigon, thì phải qua một doanh trại lớn của quân đội, hình như là Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô. Người ta túa ra đường như kiến, làm đường kẹt cứng. Lính trên xe của tôi phải bắn chỉ thiên liên hồi mới lách qua được. Tới Ngã Sáu, có con đường Yên Đổ chạy ra đường Công Lý.

Chúng tôi quẹo xe vào đường đó, và vọt ra đường Công Lý, rồi đi ngược về phía Tổng Tham Mưu. Xe chạy trên đường Công Lý một khúc, bỗng nghe có tiếng xe tăng chạy ầm ì ngay phía sau, và cảnh sát dã chiến trên các lầu cao và hai bên đường chợt rút sâu, biến mất. Thiếu úy Tố quay lại phía sau và la lên “Chết mẹ! xe tăng nó ở ngay phía sau mình nè!” Hạ sĩ Nhàn vội quẹo xe vào một con hẻm gần trường trung học Quốc Anh. Chúng tôi hối hả rời xe. Tôi móc túi lấy một nắm tiền dúi vào tay các anh em binh sĩ trên xe, rồi mỗi người đi một ngả. Lúc ấy, mặc quân phục trên người rất dễ làm mục tiêu ăn đạn; nhưng tôi không thể cởi trần truồng ra được. Vả lại, tôi nghĩ, nếu có cởi quân phục , thì cũng là một cách tự tố cáo mình là lính mà thôi! Nhục nhã và bối rối, nước mặt tôi nhạt nhòa. Chợt tôi nhớ ra, tôi đang ở rất gần nhà cô Tâm, em vợ tôi. Tôi đập cổng, và vào lọt nhà em, bên hông vẫn còn khẩu colt chưa kịp quăng đi. Vừa vào tới nhà, thì hai chiếc xe tăng Việt cộng tới ngay trước cửa. Nó dừng lại, và tác xạ dữ dội về phía Tổng Tham Mưu. Khói đạn bay khét lẹt vào căn phòng, nơi chúng tôi đang nằm rạp tránh đạn. Thì ra lúc ấy các chiến sĩ Biệt Cách Dù vẫn còn chiến đấu. Hai chiếc xe tăng này hình như sau đó cũng bị bắn cháy gần tổng tham mưu, vì ngày hôm sau, tôi đi qua đường gần tổng tham mưu để về nhà, vẫn còn thấy hai cái xe tăng cháy,có thằng lính cộng sản nằm ngửa đầu, nón cối văng sang một bên!

Mấy ngày sau đó là những ngày kinh hoàng đối với tôi. Tôi đã cố vùng vẫy để thoát cái lưới oan nghiệt của bọn Bắc Cộng. Tôi ra Vũng Tàu, xuống Rạch Giá, ra Gò Công, Phan Thiết! Nhưng tôi đi như kẻ mê sảng, vì đâu có quen biết ai! Đi đâu cũng thấy lưới thù vây bọc.

Nửa tháng sau, tôi cùng các chiến hữu đau lòng cúi mặt nhìn nhau trong trại “tù cải tạo”, và những tháng ngày khốn nạn cứ theo nhau như bất tận! Tết đến, chỉ gợi những ngày đầm ấm khi chưa mất nước. “Mất nước là mất tất cả!” Còn gì đâu nữa. Tôi đã ăn 5 cái tết trong tù, nhìn bọn người mặt choắt, xanh bủng, trong những bộ quần áo bèo nhèo, nón cối, dép râu, nói ngọng, nhưng ánh mắt đầy thù hận, luôn mồn đe dọa, giết chóc! Lòng vẫn tự hỏi như trong mơ:” Bọn ngợm kia đã thống trị được chúng ta ư!?” Còn gì nữa đâu! Thê thảm kéo theo tuyệt vọng! Tôi chạnh lòng nghĩ tới các chiến hữu nay vẫn còn kẹt lại quê nhà. Nghĩ đến họ, lòng tôi lại sôi lên, không chịu nổi bọn đã lấy xương máu, mồ hôi, nước mắt của chúng tôi để che thân, để yên thân, thoát ra nước ngoài, nay có đứa muốn quay đầu cắn quái, lòn trôn kẻ thù của đất nước, và nhục mạ những người đã lấy máu xương che chở cho chúng nó. Tôi thề với Đất, Trời, tôi không bao giờ dung thứ bọn khốn kiếp này.

Còn đây là tâm trạng của một người du học từ trước 1975, Khê Kinh Kha:

Khê Kinh Kha nhớ lại năm 1975 lúc ấy đang học Tiến sĩ kỹ sư Hóa Học ở Đại học UMASS (Amherst, Mass). Cả mấy tuần trước 30 tháng 4, mỗi khi có dịp là turn on TV hay radio để theo dõi tin tức về quê hương mình. Và mỗi lần như thế' là tim mình quặn lên vì quê hương cứ tự động tan rã, người dân bồng bế nhau chạy bỏ nhà cửa làng mạc.

Bên đây Tổng Thống Ford thì đi chơi golf ... thế là Mỹ bỏ rơi ...

Cả tuần sau 30/4/75, không thể nào hồi tâm để học được. Còn ngay đêm 30/4 Khê Kinh Kha buồn quá viết bài thơ:

30 tháng Tư, 1975
30 tháng Tư là hôm nay
nhìn nhau, hoảng hốt, òa khóc
em khóc, anh khóc, chúng mình khóc
một ngày tổ quốc tả tơi rách
đúng rồi em, 30 tháng Tư là hôm nay
em hãy thắp cho anh chút nhan đèn
em khóc, anh khóc, chúng mình khóc
rồi mình quì cầu nguyện cho quê hương
một ngày hết chiến tranh mà lắm nước mắt
một ngày hoà bình mà nhiều tan tóc
tại sao quê hương mình đảo điên
em thấy không người cha vừa mất đứa con
em thấy không đứa em thơ vừa mất mẹ
em thấy không người chồng lạc mất vợ
em khóc, anh khóc, chúng mình khóc
em thấy không chiếc trực thăng cuối cùng vừa cất cánh
em thấy không bao dân mình chôn xác vào đại dương
một ngày, một trang sử mới bắt đầu
một ngày là mãi ngàn sau
em khóc, anh khóc, chúng mình khóc
đúng rồi em, hôm nay là 30 tháng Tư, 1975
bắt đầu cho một số kiếp lưu vong
của bao vạn dân mình
của đứa con sắp ra đời của mình
(tội cho con chưa ra đời đã làm người mất nước
chưa ra đời đã đội khăn tan cho tổ quốc)
đây là lá cờ vàng ba sọc đỏ
em hãy treo lên tường để tưởng nhớ
em khóc, anh khóc, quê hương oà khóc
ViệtNam ơi
ViệtNam của tôi
của tôi
của tôi
30 tháng Tư, bàng hoàng đứng khóc

khekinhkha

Gần 40 năm trôi qua. Lại một mùa xuân trở về. Mùa xuân, mùa hy vọng. Trong trí tưởng của người lính từng trực diện chiến đấu chống kẻ thù, người sinh viên du học, hay người làm công tác chính quyền, tất cả đều nhớ về ngày tháng cũ “tưởng như một giấc mơ”! Hy vọng giấc mơ ấy sẽ vỡ tan như bọt sóng vào năm Nhân Thìn này để chúng ta có thể hân hoan về quê cũ, về Sài gòn yêu dấu một ngày không xa…

Hoàng Lan Chi

Đại Tá Quân Đội Nhân Dân VN Cất Cao Lời Kêu Gọi Lật Đổ Chế Độ Độc Tài CSVN

Đại Tá Quân đội nhân dân VN Đào Văn Nghệ cất cao lời kêu gọi Tâm thư của Tướng tư lệnh : Quân Giải Phóng Việt Nam:

Toàn Dân -Toàn Quân hãy đứng lên lật đổ chế độ độc tài Cộng Sản Việt Nam thiết lập chế độ cộng hòa Việt Nam:

Đất nước lâm nguy! Giang sơn rơi lệ! Dân chúng lầm than!

- Kính thưa toàn thể nhân dân Việt Nam trong và ngoài nước. – Kính thưa toàn thể lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam. Chúng ta đã mất đất : Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Núi Lão Sơn …! Chúng ta đã mất đảo : Hoàng Sa, Trường Sa và các hải đảo chung quanh …! Chúng ta đã mất biển : Vịnh Bắc Bộ và gần toàn bộ vùng biển Đông …! Chúng ta đã mất bao tài nguyên : Hải sản, khoáng sản, dầu hỏa, quặng mỏ …lần lượt rơi vào túi tham không đáy của hai lũ giặc : Việt Gian và Tàu Cộng ! Giặc đã vào nhà : Đang chiếm lĩnh Tây nguyên dưới sự bao che ,bảo vệ ,đồng lõa của lũ giặc nội xâm :” Đảng CSVN ! ” Lần lượt, một cách tiệm tiến quy mô và hợp thức …Tàu sẽ tràn xuống Yết Hầu Tây Nguyên 15 thằng Việt Gian chóp bu trong đảng Cộng Sản Việt Nam đã toa rập với nhau bán Nước cho Tàu ,chúng chỉ là những tên bù nhìn qua quỷ kế của Tàu phù là lấy “Người Việt cai trị người Việt ” . Đất nước nay đã thuộc về tay Tàu cộng ….

Tất cả chúng ta đều là những người con sinh ra và lớn lên trên một đất nước, cùng chung một tiếng mẹ Việt Nam. Mỗi người tần tảo một công việc khác nhau. Người cuốc ruộng, người đánh cá, người làm công nhân, ngưòi vào quân đội, công an, người đang đi học, người đã nghỉ hưu… Chúng ta đều chỉ mong sao có cuộc sống bình an, ấm no, hạnh phúc… Nhưng nay tổ quốc lâm nguy, biên giới, hải đảo bị mất dần, từ Thác Bản Dốc, ải Nam Quan đến Trường Sa, Hoàng Sa… Thậm chí cả một vùng biển nước bao quanh bờ cõi, là lối đi về nối liền huyết mạch với hải phận quốc tế, là chỗ dân ta thường ra khơi đánh cá kiếm ăn, đang có nguy cơ bị mất nốt. Vùng đất cao nguyên trung bộ là một địa bàn chiến lược sống còn, nhưng nay với lý do khai thác Bauxit Trung Quốc đã đưa người sang chiếm đóng. Mặc dù chưa qua quốc hội bàn thảo, phê duyệt, lãnh đạo đảng Cộng sản họ phớt lờ mọi lời can ngăn, tiếng kêu cứu của mọi tầng lớp nhân dân. Kinh tế sa sút, lạm phát triền miên, thất nghiệp gia tăng cực kỳ đói khổ. Nạn tham nhũng tràn lan, sâu dầy khó bề xử lý. Người dân khắp nơi mất đất, mất nhà, màn trời chiếu đất rất oan ức. Sinh viên, học sinh nghèo khổ không đủ tiền ăn học. Công an thường xuyên buộc phải hành xử trái luật pháp, vô đạo với nhân dân. Quân đội buộc phải khoanh tay đứng nhìn bờ cõi bị xâm lấn. Mà tất cả phải nhận những đồng lương ít ỏi, nếu người chân chính thì không thế nào sống nổi. Trong khi đó, những kẻ thất đức, vô tài, mua quan, bán chức, bằng mọi cách chui vào đảng Cộng sản để có cơ hội tham nhũng, móc ngoặc, bè cánh, rồi ngoi lên đội ngũ lãnh đạo các cấp. Họ sống xa hoa, sân golf, biệt thự vài triệu đô khắp chỗ, xe hơi giá đắt sang trọng, lộng lẫy đi về. Ngoài ra còn tài khoản tiền lớn cất giấu ở ngân hàng nước ngoài. Rồi con, cháu của họ du học, sinh sống đế vương ở những nước văn minh Âu, Mỹ… Tất cả đều nguyên do từ thể chế độc đảng Cộng sản, lấn quyền gây nên. Hiến pháp không đựoc thực thi, họ tự quyền, tự ý thay vào đó những bộ luật có lợi cho họ, dễ buộc tội dân, chỉ để xử dân, còn cán bộ cấp cao là vùng cấm kỵ… Khiến người dân không thể đứng lên cất tiếng nói đòi quyền sống. Các tổ chức, đảng phái, những người yêu nước nói, viết, đấu tranh đều bị buộc tội, ngăn cấm, đàn áp, bắt giữ, tù đày vô cùng oan trái… Nỗi khổ này không biết bao giờ mới dứt? Nếu như chúng ta không thức tỉnh, để đứng dậy đoàn kêt đấu tranh.

Hỡi toàn dân Việt Nam ở mọi miền đất nước! Hỡi quân đội, công an Việt Nam hãy bảo vệ cho người dân Việt Nam, như những chiến sĩ quân đội, công an Nga xô, Ba Lan, Đông Âu trước kia, họ đã sớm thức tỉnh, chớp thời cơ, cầm súng đứng về phía nhân dân. Để ngày nay chính họ, gia đình, vợ con họ được dân chủ, ấm no. Họ không còn phải sống trong lo sợ, đói khổ, giả dối dưới chế độ Cộng sản cũ đầy sai trái và tội lỗi. Chế độ đã bao năm khống chế họ bằng luật rừng, họng súng, nhà tù, cưỡi lên đầu lên cổ nhân dân họ. Bởi vậy, đây là thời điểm nhân dân và đất nước đang cần những anh hùng đứng lên giúp dân làm nên một trang sử, đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên dân chủ, ấm no không còn Cộng sản độc tài. Kỷ nguyên Quốc gia Cộng Hòa . Chúng ta không phân biệt đảng phái, tôn giáo, già, trẻ, gái, trai. Mỗi người hãy tự góp sức mình theo khả năng, điều kiện. Ai ở nhiệm vụ nào hãy làm tốt nhiệm vụ đó, nhưng cùng một ý chí đấu tranh.. Các Tướng Tá hiện phục vụ trong quân đội Nhân dân ! Mắt có thấy, tai có nghe Giặc tàu tràn vô Đất Nước không ? Cửa Biên Ải bị giặc cs Hà Nội mở rước Giặc tàu vô tự do Quân đội hãy đứng lên lật đổ cs Hà Nội là bảo vệ Đất Nước Hãy bỏ tính nhu nhược khiếp sợ trước nạn Nội Xâm cs Hà Nội

Quân Đội Nhân Dân còn chờ gì nữa? “Tiên hạ thủ vi cường” Lệnh thiết quân luật chỉ áp dụng trong tình trạng khẩn cấp Tiến hành cách mạng lật đổ chế độ : Cộng sản Hà Nội kiến lập quốc gia cộng hòa Việt Nam

1. Thành lập một liên minh cứu quốc. Tập hợp mọi thành phần dân tộc trong và ngoài nước. 2. Phát huy mọi biện pháp để kịp thời giữ biên giới, hải đảo, Tây nguyên… Không để bất cứ thế lực nào chiếm đóng. 3. Lập toà án quân sự yêu cầu xét xử những lãnh đạo Cộng sản đã có nhiều tội diệt chủng, bán nước vi phạm nhân quyền đối với nhân dân. 4. Tiến hành tổng tuyển cử toàn quốc, để nhân dân được thật sự tự do, ứng cử, bầu cử, tìm những người tài, đức lãnh đạo đất nước và có nhiệm kỳ. 5. Thay đổi hiến pháp cho phù hợp với hiến pháp chung quốc tế, để bảo vệ quyền con người cho toàn dân. Việt Nam ơi! Thời thế tạo anh hùng. Mẹ Việt Nam ơi! Sinh ra những anh hùng.

Tư lệnh Quân Giải Phóng

Chim Hải Âu- Việt Nam

Thủy Sản Việt Nam Đối Mặt Nhiều Cảnh Báo

Tin Hà Nội – Ngành thủy sản Việt Nam được đánh giá là thành công khi xuất khẩu năm rồi đạt trên 6 tỷ đô la. Tuy nhiên theo các doanh nghiệp thì nhiều mặt hàng vẫn có nguy cơ bị cấm ở các thị trường quan trọng như Nhật Bản, Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu. Thống kê của hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản VASEP cho biết chỉ riêng thị trường Nhật Bản, mỗi năm nhập khẩu gần 600 triệu đô-la, chiếm gần 30% thị phần tôm của Việt Nam, đã có 132 cảnh báo đối với thủy sản của Việt Nam.

Cơ quan kiểm tra nhập cảng thuốc và thực phẩm Mỹ FDA cho biết sẽ kiểm tra chặt chẽ chất kháng sinh Enrofloxacin trong tôm, có xuất xứ từ Việt Nam đưa vào Mỹ. Nhiều nước coi Enrofloxacin là chất gây hại cho sức khỏe của con người, nhiều lô hàng thủy sản nhiễm chất Enrofloxacin bị cảnh báo và trả về Việt Nam. Theo các chuyên gia thì nhiều doanh nghiệp vì chạy theo lợi nhuận mà không quan tâm đến chất lượng, khi thấy có đơn đặt hàng thì thu gom thủy sản trôi nổi, và thiếu sự kiểm soát chặt chẽ.

SBTN

Những tòa đại sứ Việt Nam

“…chính quyền Hà Nội phải chấm dứt việc coi các Toà đại sứ của họ là những tiền đồn để ngăn chặn những người bất đồng chính kiến, và phải coi các cơ quan nhà nước là những nơi bảo vệ chứ không phải là cắt xén quyền lợi của đồng bào…”
Đối với đa phần người Việt ở nước ngoài, đại sứ quán Việt Nam là một khái niệm dễ gây phản cảm. Là một thực thể đại diện cho nhà nước, nhưng đại sứ quán Việt Nam hầu như không đuợc một người Việt nào coi là một nơi phục vụ và chở che cho lợi ích và hạnh phúc của mình.

Hầu hết những người miền Nam rời nước ra đi kể cả trước và sau năm 1975 đều coi đại sứ quán Việt Nam là biểu hiện, là đại diện cho cái chế độ đã cướp đi của họ một quốc gia, đã phá tan đi của họ gia đình, hạnh phúc và những ước muốn tương lai. Vì chế độ này, họ đã mất đi bao người thân trong chiến tranh và trên con đuờng đi vượt biển. Nhiều người trong số họ vẫn còn nhìn đại sứ quán Việt Nam bằng những con mắt hận căm. Và ngược lại, chính quyền và các đại sứ quán Việt Nam cũng nhìn những người này nói riêng và những người Việt không đồng chính kiến nói chung như một khối địch thù. Đối với những người này, chính sách phổ biến của chính quyền Việt Nam là biến các tòa đại sứ thành những trạm gác. Rất nhiều người Việt đã bị từ chối cấp thị thực về Việt Nam khi họ chỉ muốn nhìn lại quê hương bản quán hay thăm hỏi gia đình.

Đối với đa số người Việt Nam xuất thân từ miền Bắc, hoặc đã từng là du học sinh hay công nhân hợp tác lao động được nhà nuớc CHXH Việt Nam cử đi nước ngoài, và những người tỵ nạn mới, những người đi định cư ở nước ngoài theo diện kinh doanh, thì đại sứ quán Việt Nam là những pháo đài của cửa quyền và tham nhũng. Người Việt ở nước ngoài hay truyền miệng nhau câu nói: “Muốn xem Việt Nam nhếch nhác ra sao thì cứ đến tòa đại sứ là sẽ biết”. Từ vài năm nay, nhà nuớc và bộ ngoại giao Việt Nam đã đầu tư rất nhiều cho các cơ quan đại diện nhà nước ở nước ngoài. Nhiều toà đại sứ đã được xây cất hoặc chuyển đến ngụ tại những nơi khá khang trang. Các nhân viên sứ quán trẻ hơn, có khả năng chuyên môn và ngoại ngữ cao hơn. Bộ ngoại giao cũng đã quy định niêm yết công khai bảng giá dịch vụ tại các Toà lãnh sự. Và trong thực tế, nhiều dịch vụ lãnh sự đã được giải quyết gọn nhẹ và nhanh chóng hơn, thái độ giao tiếp cuả đa phần cán bộ lãnh sự cũng hòa nhã, lịch sự hơn. Đáng tiếc là những điểm tích cực trên đây đã chỉ biểu hiện phần lớn là trong tiếp xúc với khách bản xứ, khách nước ngoài. Tuy làm việc ở nước ngoài, nhưng đại sứ quán Việt Nam vẫn biểu hiện một cách xuất sắc cho một cơ quan nhà nước Việt Nam trong việc khinh thường và hiếp đáp đồng bào cuả mình.

Điều khá dễ nhận thấy là sự khác biệt giữa những cán bộ ngoại giao Hà Nội trước đây 20-25 năm và các cán bộ ngoại giao Việt Nam hôm nay. Người ta thấy rằng cán bộ ngoại giao Việt Nam trước đây khả năng chuyên môn thường thấp, nhưng họ lại khá tự hào (có thể là do ngây thơ) khi đại diện cho tổ quốc và quan tâm một cách thực lòng (có thể là với thái độ cuả cha, chú) đối với đồng tộc cuả mình. Ngày nay, hình như vẫn có một vài cán bộ ngoại giao đang gắng sức tự hào khi cho rằng Việt Nam vẫn là một điểm hấp dẫn lớn đối với thế giới. Nhưng với đầu óc tỉnh táo, tinh khôn hơn lớp đàn anh của họ, trong thực tâm, hầu hết các cán bộ ngoại giao Việt Nam đều không thể, và không muốn tự hào về cái quốc gia Xã hội chủ nghĩa của mình. Và, cũng như các quan chức khác trong nước, đại đa số các cán bộ ngoại giao Việt Nam đều coi tòa đại sứ nơi họ làm việc chỉ đơn giản là một nơi họ phải kiếm tiền thật nhiều và thật nhanh. Quy luật phổ cập cuả Việt Nam đương đại là tất cả các vị trí xã hội, chỗ làm việc và kể cả bằng cấp đều phải được mua bằng tiền đã không dừng lại trước cửa các tòa đại sứ. Để được đảm nhận một nhiệm kỳ công tác tại nước ngoài, tất cả các nhân viên sứ quán, từ vị đại sứ cho đến người làm bếp, đều phải chi ra một lượng tiền không nhỏ. Do đó, điều dễ hiểu là khi đã đi ra nước ngoài thì mối quan tâm chính cuả họ là phải nhanh chóng thu hồi lại “vốn” và tích cực “làm ăn có lãi”. Hiện nay, khái niệm “công bộc” chỉ là một cụm từ ngộ nghĩnh đáng thương. Trước các cơ quan tiếp dân tại Việt Nam cũng như trước các tòa lãnh sự Việt Nam, người dân Việt vẫn chỉ là những con dân đến xin ân huệ và là những đối tượng để cho các quan chức nhà nước từ lớn tới nhỏ “làm tiền”. Không kể đến các phi vụ làm ăn khác mà người ngoài cuộc khó biết, biểu hiện nhãn tiền mà ai cũng thấy là cán bộ sứ quán Việt Nam hầu như công khai lạm thu lệ phí trong các dịch vụ lãnh sự. Mặc cho các quy định, chỉ thị cuả bộ ngoại giao, các nhân viên lãnh sự vẫn điềm nhiên thu tiền không có hóa đơn, hoặc có thì hóa đơn không có số, không có dấu, và số tiền thực thu thì bao giờ cũng quá cao so với quy định vì những lý do vô cùng biến hoá. Hơn nữa, hiện tượng phổ biến ở các nước Đông Âu là lãnh sự quán Việt Nam bao giờ cũng được bao bọc bởi hàng loạt các đuờng dây dịch vụ, mai mối tư nhân khác nhau. Rất nhiều người Việt giải quyết thủ tục lãnh sự thông qua các đường dây này. Giá dịch vụ tất nhiên cao hơn nhiều so với giá quy định. Theo biểu giá cuả bộ ngoại giao, lệ phí thay một quyển hộ chiếu là 50 USD, nhưng giá thực mà người Việt phải trả cho đường dây dịch vụ tại Tiệp là xấp xỉ 200 USD và tại Đức là trên 100 Euro. Điều dễ hiểu là các đường dây dịch vụ không thể trả các nhân viên lãnh sự số tiền trùng khớp với bảng giá cuả bộ ngoại giao. Số tiền chênh lệch dư ra là một nguồn thu nhập không nhỏ cho bản thân các nhân viên sứ quán.

Rõ ràng, mặc cho những tuyên truyền nức lòng về sự phát đạt kinh tế của quốc gia, chính phủ Việt Nam- thông qua các chính sách nhà nước, và các toà đại sứ Việt Nam- thông qua cách hành xử trong công tác lãnh sự, vẫn coi những đồng bào ở nuớc ngoài là những con bò sữa phải đuợc bóp nặn. Cho đến nay, đã có một vài cố gắng nhỏ cuả một số ít người Việt phản đối lại hiện tượng này. Nhưng vì nhiều lý do, những cố gắng này đã hoàn toàn không mang lại những kết quả mong muốn.

Nhưng nhìn xa, chính quyền Việt Nam và các đại sứ quán Việt Nam không thể ngủ yên trên tình trạng hiện nay. Họ có thể sẽ phải đối phó với những phản kháng dữ dội hơn nhiều nếu như người Việt ở nước ngoài, kể từ những người mang quốc tịch nước ngoài không thân thiện với chính quyền Việt Nam đến những người còn mang hộ chiếu Việt Nam, tiến những buớc mạnh hơn và hành xử của nhà nước vẫn không có những thay đổi cơ bản. Lý do đơn giản là người Việt ở nước ngoài không phải là người Việt ở trong nước!

Tuyệt đại đa số nguời Việt hải ngoại mà chính quyền trong nước không ưa thích là những người có quốc tịch nước ngoài. Cho đến nay, sau khi bị từ chối cấp thị thực về thăm Việt Nam, họ hoặc là im lặng, hoặc là chỉ lên tiếng một cách nhỏ nhẹ trên một vài trang mạng tiếng Việt. Công luận nuớc bản xứ và quốc tế hoàn toàn không biết đến hiện tượng này. Nếu có sự tập trung tiếng nói và chuyển tải sự thật đã xảy ra lên truyền thông quốc tế thì chính quyền Việt Nam khó có thể được ngồi yên. Các quốc gia bản xứ sẽ có nhiều lý do để không chấp nhận tình trạng công dân cuả họ bị trù úm, bị mất tự do, và bị thiệt thòi (kể cả về kinh tế) khi những công dân này đã chỉ phát biểu một cách hoà bình chính kiến cuả mình hay là đã có các hành vi đóng góp cho những giá trị lương thiện tại quê nhà. Chính quyền Việt Nam cũng khó có lý cớ để xếp hàng nghìn người Việt ở nước ngoài vào một danh sách khủng bố mơ hồ.

Các Đại sứ quán cũng không thể tiếp tục coi những người mang hộ chiếu Việt Nam là những con bò sữa hiền lành. Tuy cầm hộ chiếu Việt Nam, nhưng khi sống ở nước ngoài, họ được luật pháp của nước sở tại bảo vệ, và ý thức về luật pháp, về nhân phẩm cũng sẽ thấm dần vào họ không nhiều thì ít. Thời gian gần đây, một số công dân Việt Nam ở nước ngoài đã công khai biểu lộ sự phẫn nỗ cuả họ tại lãnh sự quán Việt Nam bằng thái độ phản đối và có lúc, bằng cả sự thách thức, dọa dẫm dùng bạo lực của những người bị dồn vào bước đường cùng. Sẽ đến lúc, sự bất bình cuả họ trước hành vi cửa quyền và nhũng lạm cuả các toà đại sứ sẽ bung ra, và vấn đề sẽ không còn là chuyện nội bộ cuả Việt Nam. Hình ảnh một người đàn ông Việt Nam, anh Đỗ Xuân Cang, bất chấp giá rét, quấn quanh mình những biểu ngữ, cùng một vài người bạn đứng biểu tình tố cáo những hành vi bất chính cuả lãnh sự quán Việt Nam tại Praha vào cuối tháng 11 năm vừa qua có thể là biểu hiện cuả một hình thức phản kháng mới. Hình ảnh này mang vóc dáng những buổi ban đầu phong trào biểu tình cuả dân oan tại Hà Nội. Nhưng khác với ở Hà Nội, chính quyền Việt Nam sẽ hầu như hoàn toàn không có khả năng dẹp yên hình thức phản kháng này.

Giải pháp tốt nhất là chính quyền Hà Nội phải chấm dứt việc coi các Toà đại sứ của họ là những tiền đồn để ngăn chặn những người bất đồng chính kiến, và phải coi các cơ quan nhà nước nói chung và những toà đại sứ nói riêng là những nơi thực thi những gì mà công dân giao phó, trong đó, nhiệm vụ cao nhất là bảo vệ chứ không phải là cắt xén quyền lợi của đồng bào. Với thực tế tư duy và cơ chế xã hội Việt Nam hiện nay, giải pháp này có vẻ chỉ là điều viễn tưởng, và sắp tới, có thể các cơ quan ngoại giao Việt Nam sẽ phải đối phó với nhiều vấn đề mới không dễ giải quyết.


Nguyễn Đức

Clerc-ism, trí thức trùm chăn và lưu manh giả danh trí thức

Lê Diễn Đức

Tháng 8/2010, trong bài “Tâm sự cùng giáo sư Ngô Bảo Châu: Đừng dây với hủi”, tôi có nhắc tới nhà toán học F. Sierpiński (1882-1969), một trong những đại diện hàng đầu của toán học Ba Lan, đã được Liên minh Thiên văn Quốc tế lấy tên đặt cho miệng núi lửa trên Mặt Trăng vào năm 1976.

Năm 1964, cùng với 34 trí thức Ba Lan khác, F. Sierpiński đã ký tên vào bản kiến nghị gửi nhà nước cộng sản Ba Lan phản đối sự kiểm duyệt. Thế nhưng sau đó, trước áp lực và đe dọa của an ninh, ông lại ký vào lá thư gửi nhật báo Anh quốc The Times khẳng định ở Ba Lan không có đàn áp chính trị và nhà chức trách Ba Lan không bôi nhọ Đài Âu châu Tự do (Radio Free Europe). Vào cuối đời Sierpiński rất hối hận về việc làm này.

Lúc ấy tôi viết, hy vọng Ngô Bảo Châu sẽ không bị cám dỗ bằng những lời ru có cánh của chính quyền Việt Nam, hay sự cám dỗ của vật chất… để không thể sống đúng với chính mình, rồi có lúc phải chịu bi kịch tinh thần như F. Sierpiński. [1]

Rồi không khí phấn hứng phát cuồng mừng đón Ngô Bảo Châu nhận Huy chương Fields; những nhận định gây tranh cãi về phiên toà Cù Huy Hà Vũ; Châu đóng cửa blog cá nhân; sự im lặng; và cuối cùng… cánh cửa căn hộ của Châu trị giá 700 ngàn USD, món quà nhận của Hà Nội, đã khép lại trong tôi hình ảnh Châu mà tôi từng khâm phục từ lá thư Châu gửi quốc hội phản đối khai thác bauxite Tây Nguyên.

Nói cho cùng, Huân chương Fiels là giải thưởng uy tín dành cho các nhà toán học dưới 40 tuổi, giá trị 15 ngàn đôla Canada, chẳng có gì khủng khiếp, sủng ái quá mức như ở Việt Nam. Gần với Giải Nobel hơn là giải thưởng toán học Abel, có giá trị khoảng 1 triệu USD.

Sau bài “Sự lạc quan vô tận” của Phạm Thị Hoài với thuật ngữ “đối lập trung thành” để chỉ những người “không hài lòng với hệ thống chính trị trong nhiều vấn đề lớn, công khai phản biện và tìm giải pháp thay đổi trong phạm vi các vấn đề đó, nhưng không đụng chạm, hay tránh đụng chạm đến nền tảng tồn tại của hệ thống” – đã có những tranh luận xung khắc. [2]

Chủ đề trí thức đã được cọ xát trong nhiều thập niên qua trên các diễn đàn Việt ngữ với sự xuất hiện của một số thuật ngữ như “trí thức quan văn”, “ngu trung”, “trí thức trùm chăn”, v.v… Do vậy, tôi không mấy hứng thú sa vào những cuộc thảo luận không hồi kết, thậm chí có thể bị thách đố khiêu khích.

Sau mấy ngày Tết, thấy dư luận sôi động với bài phỏng vấn Ngô Bảo Châu về vai trò trí thức Việt Nam trên tờ Tuổi Trẻ ngày 20/1/2012, khiến tôi tò mò. Không biết nhà toán học này lại nói gì.

Trong bài, Châu phản đối việc “coi phản biện xã hội như chỉ tiêu để được phong hàm trí thức”, “trí thức là người lao động trí óc… Giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội“. [3]

Mặc dù có nói “việc đưa ra các phản biện có lập luận chặt chẽ là những đóng góp lớn cho xã hội”, “không có phản biện, xã hội đã chết lâm sàng”, định nghĩa về trí thức mà Châu đưa ra không đầy đủ và sự phản đối của Châu cũng không đúng.

Trí thức, nếu được “phong hàm”, thì phải gắn với vai trò phản biện xã hội, một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất.

Giá trị của sản phẩm có thể “không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội” thật. Nhưng nếu nó được làm ra từ “lao động trí óc” thuần tuý, thì chẳng to tát gì hơn bộ bàn ghế đẹp được làm ra bằng bàn tay khéo léo của người thợ mộc. Tìm ra đáp số bài toán hay chứng minh bổ đề, trong ý nghĩa này, là sản phẩm của anh thợ toán.

Vai trò phản biện là chỉ tiêu xác định người trí thức mà con người đã có từ rất lâu, thiết nghĩ không nên sáng tạo gì thêm.

Khái niệm trí thức/intellectuel xuất hiện vào cuối thế kỷ 18 tại Pháp và Ý (liên hệ với illuminism, phong trào Khai Sáng).

Sau Công xã Paris (1871), trí thức được xác định không chỉ là những người có học vấn hay trình độ chuyên môn cao, mà trước hết phải quan tâm và có chính kiến trước các vấn đề chính trị-xã hội.

Cùng với vụ án Dreyfus (1895-1906), khái niệm trí thức được phổ biến rộng rãi, đặc biệt thường xuất hiện trong các tác phẩm của nhà văn Emile Zola, nguời đã dũng cảm phanh phui sự thật, cương quyết bảo vệ đại úy Alfred Dreyfus. Chính từ đây, người ta gắn trí thức với tinh thần bảo vệ “các giá trị dreyfus”, tức là chống lại sự bất công của ngành tư pháp dưới danh nghĩa lợi ích quốc gia.

Trong một bài luận về trí thức, giáo sư Chu Hảo viết:

“… Karl Marx đã coi trí thức là những người “phê bình không nhân nhượng những gì đang hiện hữu, không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không lùi bước trước kết luận của chính quyền hoặc trước xung đột với chính quyền, bất cứ chính quyền nào”. Cần phải hiểu rằng ở đây Marx chỉ muốn nhấn mạnh trách nhiệm xã hội của người trí thức. “Những gì đang hiện hữu” là những bất cập của các chính sách xã hội hiện hành, chứ không thể là những chính sách hợp lý, tiến bộ. Người trí thức có năng lực phê phán và có tầm nhìn xa nên thường hay tỏ sự bất bình trước sự trì trệ và bất hợp lý một cách công khai và thẳng thắn“. [4]

Sau bài phỏng vấn Ngô Bảo Châu, nhà văn Nguyễn Quang Lập lên tiếng rằng, “không thể nghĩ đơn giản: trí thức là người lao động trí óc”, “các nhà khoa học được coi là trí thức hay không phải xem xét họ đã dấn thân trong cộng đồng xã hội như thế nào, xưa nay đều thế cả“. [5]

Thế nhưng, một số nhà trí thức khi được xã hội ngưỡng mộ và chiều chuộng, thường ngộ nhận về mình, lâm vào trạng thái ảo tưởng, có lúc phát ngôn linh tinh.

Noam Chomsky, một khuôn mặt trí thức còn sống được nói đến nhiều nhất trên thế giới, nhiều người xem ông như một biểu tượng của sự thông thái, với công trình lý thuyết ngôn ngữ đồ sộ, tác động vào mọi lĩnh vực khoa học, được so sánh với nhà bác học Einstein. Trong các cuộc thăm dò những học giả qua mọi thời gian, Chomsky chỉ đứng sau Platon và Freud.

Vậy mà, nhà khoa học, chính trị gia Ba Lan M. Nowicki đã gọi Chomsky là “nhà trí thức ngu xuẩn nhất thế giới”.

Bởi vì, Chomsky đã ủng hộ R. Faurisson, một giáo sư của đại học Lyon, phủ nhận sự diệt chủng của Hitler đối với dân tộc Do Thái tại Holocaust và của Khmer Đỏ ở Campuchia. Chomsky đã khen ngợi nhà độc tài Nam Tư Milosevich, cho rằng, sự diệt chủng sắc tộc ở Srebrenica do báo chí dựng chuyện, còn Đông Âu dưới thời thống trị của Liên Xô là thiên đường thực…

M. Nowicki dẫn lời Richard Posner trong cuốn “Public Intellectuals”: “Có nhà khoa học khi đã đạt được danh vọng trong lĩnh vực của mình, có thể dùng uy tín để dạy đời người khác những vấn đề mà trong đó hắn ta chỉ là một thằng đểu, không hơn không kém”. [6]

Tôi nhớ lại nhận định về Chomsky của Nowicki xuất phát từ quan ngại của nhà văn Nguyễn Quang Lập: “Phát biểu của Châu, dù vô tình đi chăng nữa, sẽ làm cho đám trí thức trùm chăn được thể vênh vang, tiếp tục trùm chăn kỹ hơn nữa, trong khi vẫn có cớ để dè bỉu và chỉ điểm những trí thức chân chính“. [6]

Trên Facebook có bạn nói “nhận mình là trí thức mà câm, điếc, mù trước nỗi đau của đất nước, sung sướng hưởng thụ trước nghèo đói và họa mất nước vào tay ngoại bang“.

Thực ra các thuật ngữ “trí ngủ”, “trí thức trùm chăn”… là biến thể của khái niệm “clerc-ism” trong cuốn “Des La Trahison Clercs”, xuất bản năm 1927, của triết gia Pháp Julien Benda (1867- 1956).

“Clerc-ism” là thế giới quan, theo đó trí thức nên giữ khoảng cách với những vấn đề chính trị và không tham gia vào những tranh chấp chính trị. Những người theo “clerc-ism” có nhiệm vụ cống hiến cho công việc nghệ thuật hoặc khoa học, và tránh tham gia vào tiến trình sửa đổi thế giới hiện có. Vì vậy, những trí thức có thái độ này có thể liên đới với “escapism”, tức là chạy trốn các vấn đề của đời sống xã hội trong thế giới ảo tưởng và trí tưởng tượng.

Triết gia Julien Benda lên án sự phản bội của loại “trí thức-clercs”, vì họ đã gắn bản thân với thái độ nhún nhường, thỏa hiệp, xấu hổ và đi ra khỏi vai trò của mình như là người giám hộ các giá trị phổ quát (sự thật, công lý, lý trí).

R. Aron trong cuốn “Opium of the intellectuals” nêu ngắn gọn: “Trí thức là tác giả của ý tưởng trí tuệ và là một người quan sát thời cuộc“.

Có lẽ từ vai trò “quan sát thời cuộc” mà có chuyện hài hước của Ba Lan: Thằng bé hỏi “Trí thức là ai hả bố?, bố trả lời: “Là những kẻ chỉ biết chúi mũi đọc sách trong khi có TV và video”.

Jean-Paul Sartre, một triết gia thích nghịch lý, cho rằng trí thức là người hay xía vào các công việc không phải của mình. Nhưng trong thực tế ông bênh vực các nạn nhân của sự tra tấn tại Algeria, là thành viên của Tòa án Russell (cũng là một trí thức) xét xử tội phạm chiến tranh tại Việt Nam.

Albert Camus (1913-1960), được xem là một trong những trí thức nổi bật nhất châu Âu trong nửa sau của thế kỷ 20, Giải Nobel Văn học 1957, đặt dấu chấm trên chữ i: “Nhà văn là trí thức không thể là để phụng sự những người sáng tạo lịch sử, mà là phụng sự các nạn nhân của nó. Lẽ phải của sự sinh tồn nếu có, là nói thay cho những người mà họ không thể nói được“. Trong bối cảnh Việt Nam chúng ta có thể thêm ý: “hoặc là họ sợ hãi”!

Leopold Unger, bình luận gia và là một trí thức đối lập cộng sản Ba Lan cho rằng, “trí thức là người có ý thức trách nhiệm và trong một tình hình cụ thể từ chối tham gia vào việc lạm dụng pháp luật, lên án bất công và bác bỏ độc quyền tư tưởng với mục đích biện minh cho bạo lực và dối trá”.

Với lính đánh thuê cũng như với các nô lệ người ta đã xây nên kim tự tháp, chứ không phải với máy vi tính. Dân chủ cũng vậy!”- Unger viết. [7]

Trong bài “Trí thức và quá trình dân chủ hoá – Kinh nghiệm Ba Lan”, Adam Michnik, người được tờ Financial Times xếp vào danh sách 50 nhà báo có ảnh hưởng nhất thế giới, một nhà tranh đấu dân chủ Ba Lan nổi tiếng, hiện là Tổng biên tập nhật báo tri thức lớn nhất Ba Lan Gazeta Wyborcza, viết:

Cần phải nói rằng, giai tầng này (trí thức) giữ một vị trí đặc biệt trong hệ thống. Stalin gọi họ là ’những kĩ sư tâm hồn’. Vâng, họ là đối tượng chính của những vụ đàn áp, mà lại rất tàn khốc nữa. Nhưng mặt khác, chính quyền lại luôn sử dụng họ nhằm củng cố hệ thống. Không có nhóm xã hội nào được ve vãn và nịnh bợ như thế, ngoài tầng lớp “con ông cháu cha” (nomenclature) cộng sản ra thì không có giai tầng nào được nhiều đặc quyền đặc lợi như trí thức“.

Vì thế ông cho rằng, “trí thức phải là tiếng nói của xã hội đã bị bịt miệng“. “Đối với người trí thức thì chính trị là lựa chọn mang tính đạo đức. Người trí thức bước vào chính trị là để lấy sự thật chống lại dối trá của bộ máy, lấy sức mạnh của niềm tin chống lại thói vô nguyên tắc của bộ máy“. [8]

Định nghĩa về trí thức, từ điển Wikipedia tiếng Việt có nói đến “lưu manh giả danh trí thức” trong bộ máy cai trị và xem “đây là mối họa không gì có thể so sánh, nó sẽ tàn phá mọi giá trị mà nhân loại đã xây đắp lên bằng cả trí tuệ, mồ hôi, thậm chí bằng cả máu xương của biết bao triệu triệu con người“.

Adam Michnik cho rằng, “nhà nước không thể tồn tại lâu nếu nó không được những người có học ủng hộ“.

Chỉ giới có học giả danh trí thức, thì mới ủng hộ một nhà nước phi dân chủ, bóp nghẹt tự do, chà đạp nhân quyền và chính đám này “chui vào đục khoét, tác oai, tác quái trong hệ thống cai trị đất nước“. [9]

Do đó, chừng nào những tên lưu manh giả danh trí thức chưa bị vạch mặt triệt để trước công luận, chừng nào trí thức chưa lột xác khỏi vỏ “đối lập trung thành”, chưa dấn thân sử dụng hết vai trò phản biện phục vụ cộng đồng và lý tưởng tự do dân chủ, chừng đó chưa thể có một phong trào quần chúng rộng lớn cho sự thay đổi xã hội Việt Nam.

Và bởi vì, trí thức là người lý luận, tổ chức, định hướng cách mạng và đảm bảo xây dựng cấu trúc xã hội dân sự hiện đại hậu cách mạng – câu nói “mọi cuộc cách mạng đều từ trên xuống” của Michnik nằm trong nội hàm này – thì, cách mạng, tất nhiên, sẽ không nổ ra từ đầm Cống Rộc, cho dù Đoàn Văn Vươn được xem như một biểu tượng của người nông dân nổi dậy!

Lời kết

Hy vọng bài viết sẽ đóng góp chút ít cho những ai được “phong hàm” trí thức, hoặc tự “phong hàm” trí thức, nhìn nhận mình có phải là trí thức hay không.

Mỗi người trong từng hoàn cảnh sẽ tự vấn lương tâm. Tiếng nói lương tâm của trí thức phải cao hơn cả luật pháp bị áp đặt bởi nhà cầm quyền, giống như Voltaire bảo vệ Calas (tín đồ Tin lành bị chặt đầu tại Toulouse), Zola bảo vệ Dreyfus, hoặc gần đây Bourdieu bảo vệ nguời thất nghiệp, Pinter và Sontag bảo vệ tù nhân Guantanamo; cũng như Albert Camus lấy uy tín trí thức của mình bảo vệ “sự tôn trọng các giá trị lâu dài trước bất kỳ cấu trúc chính trị nào, và thậm chí cả hệ thống chính trị”.●

Ngày 01/02/2012

© 2012 Lê Diễn Đức – RFA Blog

——————————————————————-

Tư liệu và trích dẫn trong bài được sử dụng từ các tài liệu sau:

[1]: http://danluan.org/node/6093

[2]: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2012/01/120117_phamthihoai_vn_intelligentsia.shtml

[3]: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/01/120102_vn_party_intellectuals_views.shtml

[4]: http://nguyenxuandien.blogspot.com/2010/06/gs-chu-hao-tim-hieu-ve-tang-lop-tri.html

[5]: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/01/120126_ngobaochau_feedback.shtml

[6]: http://wiadomosci.dziennik.pl/wydarzenia/artykuly/81868,najglupszy-intelektualista-swiata.html

[7]: http://wyborcza.pl/dziennikarze/1,95912,3998466.html

[8]: http://www.talawas.org/?p=2922

[9]: http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%AD_th%E1%BB%A9c

TIÊN LÃNG: MIẾNG “ GÂN GÀ “ ĐỐI VỚI ÔNG NGUYỄN TẤN DŨNG

Phúc Lộc Thọ.

Khi tiến quân vào Ba Thục, tranh giành với Lưu Bị vựa lúa Hán Trung, quân Tào đã bị kẹt ở cửa hang Tà Cốc vì bị tướng của Lưu Bị là Mã Siêu chống lại quyết liệt, không thể tiến lên được. Về chuyện này tại hồi 72, La Quán Trung viết:”Tào Tháo đóng giữ ở đó lâu ngày, muốn tiến quân lại bị Mã Siêu chống cự hăng lắm, muốn lui về, thì lại sợ người Thục chê cười, trong bụng dùng dằng chưa quyết bề nào. Một bữa, người nhà bếp dâng bát canh gà, Tháo nhìn trong bát có cái gân gà, sực nhớ chuyện mình lại ngán cả ruột. Giữa lúc đó, Hạ Hầu Đôn vào trướng, bẩm hỏi khẩu lệnh ban đêm. Tháo buột miệng nói ngay rằng: “ Kê cân ! Kê cân “ (Gân gà). Đôn truyền lệnh cho quan quân đều nhận khẩu lệnh đêm ấy là “ kê cân “.

Quan hành quân chủ bộ là Dương Tu thấy truyền hai chữ “ kê cân “ liền cho quân mình thu xếp hành trang để quay về. Có người báo với Hạ Hầu Đôn, Đôn giật mình cho mời Dương Tu đến trướng hỏi … Tu đáp: Cứ xem hai chữ khẩu lệnh đêm hôm nay thì chắc Ngụy Vương mấy bữa nữa cũng về thôi ! “Kê cân“ nghĩa là gân gà, gân gà ăn thì không có vị gì mà bỏ thì hơi tiếc. Nay tiến lên thì đánh không được, mà lui về thì lại sợ người cười; ở mãi cũng vô ích, không bằng về cho sớm…”

Tình cảnh của Ngụy Vương Tào Tháo có vẻ giống với tình cảnh của ông Nguyễn Tấn Dũng trong vụ Tiên Lãng-Hải Phòng… Còn nhớ khi vụ cưỡng chế Đoàn Văn Vươn vừa rộ lên trên các phương tiện thông tin đại chúng, ông Nguyễn Tấn Dũng đã lập tức ra “chỉ dụ”: Phải nghiêm trị các hành vi chống người thi hành công vụ; Với chỉ dụ này người bình thường cũng ngầm hiểu: Phải chăng ông Nguyễn Tấn Dũng ngầm “chống lưng”cho đám quan chức Hải Phòng, bật đèn xanh cho việc xử lý mạnh tay đối với người đã dám sử dụng vũ khí tự tạo chống lại quân nhà nước…Không biết có phải do chỉ dụ nay mà dẫn tới một vụ cưỡng chế khác tại Bắc Giang ngay sau tết dẫn tới việc người bị cưỡng chế bị đánh chết?

Vậy ông Nguyễn Tấn Dũng thì có giây mơ rễ má gì với đám quan chức tép riu Tiên Lãng mà hôm trước chúng bị đả thương, hôm sau Thủ tướng lên tiếng ngay ? Có đấy ! Trong dịp bầu cử Quốc hội năm 2011 vừa qua, Phúc Lộc Thọ đang ở Hải Phòng được nghe một số ông bạn rỉ tai: Ông Nguyễn Tấn Dũng ứng cử tại Hải Phòng trúng cử với số phiếu cao lắm ? Sao ông Dũng lại ứng cử tại Hải Phòng, ngay khu vực Tiên Lãng?

Có ý kiến cho rằng: khí chất người Hải Phòng ngang tàng, anh chị không kém khí chất của các anh hai Nam Bộ nên hợp với ông Nguyễn Tấn Dũng; “ Hải Phòng đó hiên ngang chắc biết cúi đầu “ ( 1 )…Ông Nguyễn Tấn Dũng ứng cử Hải Phòng vì nghe đâu sắp xây một dự án sân bay tại vùng Tiên Lãng, ông Dũng về ứng cử ở đây có lẽ là muốn làm “ con dân “ đất Hải Phòng để chung tay xây dựng một cái sân bay hoành tráng…Vì lẽ đó nên ông sốt sắng quan tâm tới tất cả những gì liên quan đến chuyện đất đai Hải Phòng chăng ?

Thế nhưng vụ cưỡng chế đất của Đoàn Văn Vươn xem chừng đang đẩy các ông quan Hải Phòng kẹt như Tào Tháo tại hang Tà Cốc thời Tam Quốc; nuốt thì không trôi mà nhè ra thì không những bị chê cười mà sẽ bị kỷ luật…Xem những động thái gần đây cho thấy: rất có khả năng đám quan chức Hải Phòng phải nhè ra vụ này, phải lui quân vì áp lực của dư luận, vì “thiên thời, địa lợi và nhân hòa” đều không thuận…Trước sức ép của dư luận và chắc cả các thế lực trên đầu ông Dũng, ép ông Nguyễn Tấn Dũng đã phải chỉ thị cho Hải Phòng phải kiểm tra xác minh lại vụ này để báo cáo Thủ tướng; Bộ Tài Nguyên Môi trường đã phải cử Thanh tra vào cuộc; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông đã sớm lên tiến phê phán Hải Phòng; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng đã bày tỏ thái độ và nhiều vị tướng về hưu trong đó có tướng Lê Đức Anh không chịu ngồi yên trên ghế lăn…

Đặc biệt hơn đó là đám nghĩa binh, cư dân mạng hàng ngày hàng giờ xả lên mạng những lợi lẽ quyết liệt nhất rủa xả cái hành động trời không dung đất không tha của quan chức Tiên Lãng; Theo cư dân mạng thì hành động của quan chức Tiên Lãng-Hải Phòng đó là hành động ngang với quân tướng nhà Minh:” Nướng dân đen trong ngọn lửa hung tàn; Vùi con đỏ xuống dưới hầm tại họa…”

Như vậy giành giữ cái miếng “gân gà”, cái “hang Tà Cốc”-Tiên Lãng này hiện đang có rất nhiều dũng tướng có sự hăng hái, quyết liệt không kém hơn dũng tướng Mã Siêu thời Tam Quốc, sẵn sàng tỷ thí với quan quân Hải Phòng…

Trong vụ này quan chức Hải Phòng vi phạm pháp luật thì đã rõ; có điều các cơ quan chức năng có dám nhìn thẳng vào sự thật không và kết luận theo đúng Luật Đất đai không ? Và nếu kết đúng theo những chỉ dẫn của luật pháp thì hàng loạt quan chức Hải Phòng sẽ bị kỷ luật chức không phải chuyện chơi trong đó có các lực lượng chức năng là quân đội và công an ?

Dư luận rất chú ý tới chuyến thăm chúc Tết công an Hải Phòng của Thượng tướng Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang sau Tết vừa qua; qua báo Công an nhân dân thấy ông Tướng này chỉ dùng những lời tốt đẹp để khen Công an Hải Phòng và theo báo Công an đưa tin thì dường như Hải Phòng không có chuyện gì xảy ra trong năm vừa ngành công an không có chuyện gì đáng phàn nàn??? Tốt trở lên:“Bộ trưởng Trần Đại Quang ghi nhận và biểu dương thành tích mà Công an Hải Phòng đạt được trong năm 2011, nhất là bảo đảm an ninh trật tự cho nhân dân vui Tết, đón Xuân. Do đó, trong dịp Tết Nhâm Thìn, số vụ tai nạn giao thông trên địa bàn thành phố giảm một nửa so với năm trước; số người chết và bị thương giảm mạnh, không xảy ra ùn tắc giao thông. Công an thành phố bố trí lực lượng trực Tết, tổ chức ra quân, trấn áp các loại tội phạm, bắt 5 đối tượng truy nã đặc biệt nguy hiểm, bắt gọn 2 đối tượng cướp giật, móc túi. Đặc biệt, trong dịp Tết, trên địa bàn không xảy ra tình trạng đốt pháo nổ…”

Ông Trần Đại Quang xuống Hải Phòng để úy lão quân sĩ, để làm chỗ dựa cho lực lượng công an Hải Phòng kể cả vụ Tiên Lãng, tức là ông xuống để “đổ thêm dầu vào lửa” ? Hay ông Trần Đại Quang nói “dzậy mà không phải dzậy”, một lối ứng xứ “ lá mặt lá trái “mà đám quan lại Bắc Kỳ thường hay giở ra trong những tình huống hiểm nghèo ?

Tướng Trần Đại Quang sẽ làm cái việc đoạn hậu dẫn tới hy bỏ mạng oai hùng như thượng tướng Trương Cáp của quân Ngụy trong cuộc chiến với Gia Cát Lượng; hay ông phát biểu biểu dương công an Hải Phòng là ngầm ý khác ?

Mọi ý kiến mà Phúc Lộc Thọ vừa nêu cũng chỉ là giả thiết; Vụ Tiên Lãng trắng đen như thế nào chắc còn phải chờ một thời gian không lâu nữa? Chỉ có điều: quân Ngụy không thể xông vào Tây Thục như vào vườn không nhà trống: bởi sau Ngụy Vương còn có Tôn Quyền sẵn sàng vác giáo đâm sau lưng, chưa kể yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, một thứ siêu thế lực, siêu quyền lực ?

Vụ Tiên Lãng có vẻ là một cái “cửa Tà Cốc”đầy ác hiểm đối với ông Nguyễn Tấn Dũng; Chờ xem ông Nguyễn Tần Dũng sẽ cho tiến, lui quân trong vụ này ra sao ?

Có lẽ đây không phải là “miếng gân gà” mà là “miếng xương gà”Tiên Lãng nên dịp Tết vừa qua ông Nguyễn Tấn Dũng ẩn mình như Gia Cát Lượng; Gia Cát Lượng trốn không ra thiết triều để bàn chinh sự để có sự yên tĩnh, suy tính kế sách đối phó với 8 đạo quân của Tào Phi sau khi Lưu Bị qua đời…

P.L.T.

1/ Còn nhớ vụ Hải Bánh, Dung Hà dân giang hồ Hải Phòng dám vào Sài Gòn thách thức qua mặt nghiêng ngửa với giang hồ cộm cán Năm Cam cho thấy dân Hải Phòng “anh chị” tới mức nào…

Powered By Blogger