Thursday, December 1, 2011

Về mái nhà xưa?


Nguyễn Bá Chổi (DLB) - “Việt Nam Việt Nam nghe từ vào đời
Việt Nam hai câu nói bên vành nôi Việt Nam nuớc tôi” *
Nghe ông Thủ Tướng nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đăng đàn trước Quốc Hội nhà mình, nói một cách đàng hoàng, nghiêm túc và láy đi láy lại “chính quyền Sài Gòn” rồi “chính quyền Việt Nam Cộng Hòa” mà ông quen thói từ khi còn là chú du kích trốn chui trốn nhủi trong rừng tràm Rạch Gia xỉ vả là Ngụy Quyền Sài Gòn; rồi nhìn “chỗ đứng” của hai chữ Việt Nam trong quốc hiệu dưới hai chế độ, người viết bất chợt man mác “buồn vào hồn không tên”...
“Việt Nam Việt Nam nghe từ vào đời; Việt Nam hai câu nói bên vành nôi; Việt Nam nước tôi”. Còn là người Việt Nam, kể cả ông Tây André Menras lúc còn là thằng Cu Rát (trong nhà gọi tắt Menras –Men Rát- như vậy cho thân mật) tuy không có diễm phúc được nghe maman cu cậu ru à ơi bên vành nôi hai tiếng “Việt Nam” nhưng đã góp công chống Mỹ cứu nước người ta, nay là công dân nhập tịch Việt Nam Hồ Cương Quyết, ai mà cầm đặng lòng mủi mủi rưng rưng khi nghe hai tiếng Việt Nam hiên ngang ngạo nghễ được cất vang lên mở đầu bài ca Việt Nam Việt Nam đầy khí phách và tình tự Quê hương Dân tộc.
Ấy vậy mà suốt một phần ba thế kỷ nay, mỗi lần nghe, thấy, hay có khi phải đọc thành tiếng “tên nước” tổ quốc mình, tôi phải ngậm ngùi tức tưởi tủi nhục vì hai chữ Việt Nam đã bị biến thành cái đuôi lẻo đẻo thảm thương tội nghiệp theo sau một mớ thuật ngữ chỉ cái chế độ chủ thuyết lạ hoắc du nhập từ mãi đâu về gây điêu linh cho cả dân tộc, làm tan hoang cả cơ đồ Việt Nam, và tuổi tác (của chủ thuyết ấy) thì còn thua xa rất xa hàng cháu chắt của hai chữ Việt Nam. Đó là cái tên nước “Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.”
Không diễu cợt cái kiểu vua hề, “như trời đất sinh ra anh ở phía đông anh ở phía tây; anh này gác cho anh kia... đi đào trộm cũ mì; anh kia canh cho anh này... đi bẻ chôm cây mía”...
Hai ta bỏ gác
...Nhưng, một cách thật nghiêm túc, có thể nói rằng, trời đất sinh ra mỗi dân tộc là một bản thể riêng biệt, độc lập. Vậy mà dân tộc Việt Nam đã bị chính những đứa con bội vong tiên tổ phản nghịch giống nòi; chúng hư đốn nhưng đầy mưu ma chước qủy đã phù phép biến thành cái đuôi của CHXHCN, giữa một đám đuôi như CHXHCN Azerbaidjan, CHXHCN Uzbekistan, CHXHCN Tadjikistan, CHXHCN Kazakhstan, CHXHCN Moldavia, CHXHCN Latvia, CHXHCNn Estonia, CHXHCN Litva, CHXHCN Kirgizia, CHXHCN Turkmenia. Nhưng không phải vì thói đời “dại bầy hơn khôn độc”, mà chính vì nhân dân những quốc gia nhỏ bé này “khôn” khi họ tỉnh giấc Nam Kha đã không cần cuốn gói mà bỏ của chạy lấy người tếch khỏi vườn ma Đại Đồng, vắt dò lên cổ mạnh ai nấy chạy về nhà nấy từ hai chục năm nay.
Tượng ông tổ CS đã bị nhân dân ngay cái nôi sinh ra vặn cổ lôi đầu kéo xềng xệch ra bãi rác nhưng bầy đàn đồng chí vẫn tiếp tục bám trụ thân phận cái đuôi phe phẩy. Hai chữ Việt Nam vốn là danh tư`hiên ngang ngạo nghễ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, của Việt Nam Cộng Hoà vẫn tiếp tục bị đẩy xuống hàng tỉnh tự khép nép trong Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Trước cảnh biểu tình yêu nước chống xâm lăng là “phản động” phải triệt hạ bằng mọi cách trên đời không có ai khác làm, Chổi bi quan hai chữ không biết đến bao giờ hai chữ Việt Nam ra khỏi kiếp trầm luân nhục nhã này.
Đùng một cái, Chổi tôi “bổng dưng muốn khóc” khi nghe hai chữ Việt Nam được cởi trói mời lên đứng hàng đầu tên nước: “Chính quyền Việt Nam Cộng Hoá “được phát ra một cách nghiêm túc giữa “cơ quan quyền lực cao nhất nước”, từ miệng ngài đương kim Thủ tướng nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vốn xưa nay khi nào cũng tâm niệm “tội nặng nhất là bọn Ngụy quân Ngụy quyền”. “Bổng dưng muốn khóc” đơn giản vì nghe hai chũ Việt Nam được trả về mái nhà xưa, dù trong giây lát. (chứ không phải vì “được” ông Thủ tướng gọi là chính quân", vì mình có bao giờ là ngụy đâu.)
Hai tiếng Việt Nam được ngài Thủ tướng đăng đàn trả về mái nhà xưa, hay chính chú du kích Rạch Giá ngày nào muốn về lại “mái nhà xưa” vì ngôi nhà Thủ tướng ngự đang bốc cháy?

Kiến nghị Cải Cách Kinh Tế của TS Hà Hưng Quốc gởi Thủ Tướng và Quốc Hội


TS Hà Hưng Quốc - "Những tập đoàn quốc doanh không những trực tiếp bóp nghẽn sức sống của khu vực kinh tế dân doanh mà còn gián tiếp làm mất hiệu lực của những chính sách ổn định vĩ mô đúng bài bản đã ban hành. Hay nói một cách khác, chúng hãm đà phát triển của nền kinh tế Việt Nam, góp phần tạo ra sự bất ổn định cho đất nước, và vô hiệu hóa phần lớn những chính sách ổn định vĩ mô. Không có một cuộc cải cách đợt hai, cải cách sâu và rộng, nguy cơ này sẽ không được giải quyết tận gốc rễ..."
*
Kính gởi:
  • Ngài Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng
  • Ngài Chủ Tịch Quốc Hội và Quý vị Đại Biểu Nhân Dân
Xin gởi lời chào đến tất cả quý vị. Tôi xin phép được mạo muội gởi đến tất cả quý vị một kiến nghị và khẩn thiết yêu cầu sự quan tâm của quý vị.
Thưa quý vị, nhờ vào những cải cách đợt một, Việt Nam đã đạt được một số thành quả khả quan. Tuy là đất nước đã thực sự thoát qua được giai đoạn thiên hôn địa ám, nhưng hành trình vẫn còn dài. Và hiện nay Việt Nam đang đứng trước ngã tư đường, nơi đây có những thứ nguy cơ khác đang tiến tới rất nhanh. Tôi xin báo động với quí vị rằng: quỹ thời gian không còn nhiều, Việt Nam cần phải cấp bách cải cách sâu rộng để đất nước có đủ lực mà cất cánh. Nếu không, Việt Nam sẽ bị treo lơ lững giữa hai lưới Thiên La Địa Võng dài hạn không thể thoát ra khỏi tình trạng của một nền kinh tế có thu nhập trung bình chủ yếu là xuất khẩu nguyên liệu và những sản phẩm công nghiệp thấp nặng về gia công, chưa nói tới những giao động trầm trọng mà đất nước phải đối diện thường xuyên nếu tiếp tục duy trì cấu trúc kinh tế và cơ chế như hiện nay vì những chính sách ổn định kinh tế vĩ mô không thể phát huy được năng lực của chúng đặc biệt là chính sách tiền tệ và chính sách chi thu. Những dè dặt và thận trọng quá mức trong cải cách đợt một đã đánh mất nhiều cơ hội và thời gian. Nay trước ngã tư đường, đất nước cần quí vị quyết tâm tiến hành một cuộc cải cách đợt hai, sâu và rộng, nhằm “chuyển đổi cấu trúc kinh tế” và “làm mới cơ chế” hầu tạo đủ sức thúc đẩy và tạo môi trường thuận lợi cho nền kinh tế của đất nước cất cánh đi vào hành trình phát triển bền vững, rồi một ngày nào đó trong tương lai gia nhập vào khối những quốc gia tiên tiến thịnh vượng. Kinh tế là một mắt xích quan trọng trong vấn đề an ninh quốc gia. Với tình hình hiện nay, Việt Nam càng cần phải tiến hành cải cách kinh tế đồng bộ với những nỗ lực cải cách ngoại giao và quốc phòng gần đây.
Dựa vào đâu mà tôi dám quyết đoán và đề nghị? Nếu tiến hành cải cách đợt hai thì cần phải làm những gì và tại sao?
Với kiến nghị trên, tôi nghĩ rằng tôi nợ quý vị sự giải thích tường tận do vậy tôi xin phép được giải trình.
I. QUỸ ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Để thấy được khi nào và những gì cần phải làm, trước hết chúng ta phải hình dung được quỹ đạo phát triển kinh tế --quỹ đạo mà mọi nền kinh tế đều phải kinh qua-- cũng như phải hình dung được hành trình và điểm đứng hiện tại của nền kinh tế Việt Nam trên quỹ đạo đó.
Hình H1
Quỹ đạo đó vốn rất đơn giản và không có gì là mới lạ đối với những chuyên gia kinh tế. Nội dung trong hình H1 tự nó đã giải thích đầy đủ. Điểm A là mốc thời điểm cải cách đợt một. Điểm B là mốc thời điểm cải cách đợt hai. Từ A tới B là hành trình và thành quả khả quan của cải cách đợt một giúp đất nước thoát ra khỏi đói nghèo cùng cực. Từ B tới C1 là hành trình và hậu quả của một nền kinh tế đã thất bại trong việc cải cách đợt hai vì đã (i) từ chối không tiếp tục cải cách hoặc (ii) cải cách quá trễ hoặc (iii) cải cách nửa vời. Từ B tới C2 là hành trình và thành quả của một nền kinh tế đã thành công trong việc cải cách đợt hai và tiến lên thành những quốc gia thịnh vượng.
II. HÀNH TRÌNH VÀ ĐIỂM ĐỨNG CỦA VN TRÊN QUỸ ĐẠO KT
Thực sự là không khó để mọi người thấy rõ là Việt Nam đang đứng ở đâu trên quỹ đạo kinh tế. Bằng chứng cho thấy là Việt Nam chỉ vừa ra khỏi danh sách những quốc gia có thu nhập thấp nhưng chưa được vào danh sách của những quốc gia có thu nhập trung bình. Vâng, như quý vị đã đoán đúng, Việt Nam nằm ngay mốc thời điểm B trên quỹ đạo kinh tế.
Từ khi khởi động cải cách kinh tế đợt một cho đến nay (1989-2011), Việt Nam đã đạt được một số thành quả khả quan không ai có thể phủ nhận được. Trong số những thành quả đó rõ rệt và quan trọng nhất là hạ tầng cơ sở đã tốt hơn rất nhiều, cơ chế thị trường đã hình thành và vận hành khá nhuần nhuyễn, pháp lý liên quan đến những lãnh vực kinh tế đã được thiết lập và liên tục bổ sung, hành chính đã có qui củ hơn và thủ tục hành chính cũng nhẹ hơn, ngoại thương đã tích cực và năng động hơn, khu vực tư doanh đã sinh động hơn. Và theo đó, đất nước đã thoát khỏi giai đoạn nghèo khó cùng cực, FDIs chảy vào Việt Nam với số lượng đáng kể, cánh cửa cơ hội để Việt Nam gia nhập vào cộng đồng thế giới mở ra càng lúc càng rộng hơn.
Tuy nhiên, Việt Nam cũng đã và đang đối diện với một số vấn nạn không kém hiển nhiên và trầm trọng. Tham nhũng lũng đoạn đang hoành hành. Hoang phí trong khu vực công lẫn tư có mức độ rất cao. Hoạt động của phe nhóm ngày càng tinh vi và họ trục lợi ngày càng lớn. Khu vực quốc doanh lấn áp khu vực dân doanh ngày càng nặng. Khoảng cách giàu nghèo ngày càng rộng. Khoảng cách chất lượng giáo dục giữa giai cấp giàu và giai cấp nghèo ngày càng cách xa. Bất bình đẳng cơ hội giữa cá nhân do chỗ xuất thân của mình ngày càng rõ, môi trường sống ngày càng trở nên tệ hại . . . . Theo đó, bất ổn kinh tế và bất ổn xã hội ngày càng tăng. Rồi những công cụ và chính sách giúp điều hướng một nền kinh tế thị trường dường như cũng không còn khả năng để tạo được sự ổn định cần thiết cho nền kinh tế Việt Nam, dầu là được áp dụng rất bài bản. Áp lực đè lên nền kinh tế thị trường non trẻ thực sự là rất lớn, đe dọa trực tiếp tới an sinh của quần chúng và an ninh của đất nước.
Nhìn lại toàn bộ hành trình mà nền kinh tế Việt Nam đã kinh qua, trong tương quan với quỹ đạo phát triển kinh tế (hình H1), nó không khó để mọi người nhận ra rằng những điều mà Việt Nam “đã làm được” thực ra chỉ mới là những nỗ lực “cởi” để nền kinh tế không bị “trói” trong cái lưới “cơ chế” và “ý chí chính trị” đã làm nghèo đói đất nước một thời. Cái nhân “cởi trói” đã cho cái quả “thoát nghèo” là điều đương nhiên. Nói một cách khác cho có vẻ kinh tế hơn, Việt Nam đã làm xong cải cách đợt một. Và Việt Nam đã thoát nghèo nhờ Đổi Mới.
Vâng, chỉ mới là thoát nghèo chứ chưa thể cất cánh. Việt Nam còn đang đứng tại mốc thời điểm B và chưa được chuẩn bị để cất cánh. Tôi muốn nói tới một cuộc cải cách đợt hai, cải cách sâu và rộng, để nền kinh tế Việt Nam có đủ lực đi vào hành trình BC2 (Hình H1), lúc đó mới thật sự là có điều kiện để Việt Nam có thể cất cánh.
III. NHU CẦU CẢI CÁCH ĐỢT HAI
Cải cách đợt một của Việt Nam mô phỏng theo kiểu cải cách từ từ của Trung Quốc nhưng không đạt được hiệu quả bằng Trung Quốc. Đó là sự thật. Việt Nam vẫn chưa bắt kịp Thái Lan, khoảng cách chỉ giảm được 1/5 sau 24 năm (1984-2008). Đó là sự thật. Hàn Quốc từ khi bắt đầu tiến hành cải cách đợt một cho đến khi được kết nạp vào khối OECD trở thành là thành viên của các nước tiên tiến (1996) chỉ mất vỏn vẹn 35 năm. Họ đã tạo được kỳ tích trong vòng một thời gian ngắn. Trong khi đó Việt Nam mất 22 năm để cởi trói và đi tới mốc thời điểm B, chưa kể là đã mất 15 năm trói mình vào chiếc lưới tự tạo. Đó cũng là sự thật. Xét trong tương quan thời gian và thành quả, có thể nói là Việt Nam đã quá chậm do quá thận trọng. Chọn lựa “cải cách từ từ” --với những lý do có thể hiểu được-- đã là một sự thận trọng. Kéo dài đến 22 năm mà chưa thực hiện cải cách đợt hai thì phải nói là một sự thận trọng quá mức. Sự thận trọng quá mức này làm cho Việt Nam mất đi không ít cơ hội, góp phần không ít vào những vấn nạn hiện nay và làm cho Việt Nam đối diện với những nguy cơ lớn hơn trước những thử thách đang ập tới trên đà hội nhập thế giới.
Tại sao là nguy cơ lớn hơn? Tại vì mãi cho tới nay Việt Nam vẫn chưa có được khả năng cạnh tranh cần phải có để có thể vững vàng trước những tác động từ bên ngoài trên con đường hội nhập quốc tế. Dưới tác động của những hiệp định thương mại tự do như WTO đã vào, TPP sẽ vào, và đặc biệt là Hiệp Định Thương Mại Tự Do ASEAN – Trung Quốc đã ký kết (trong đó đã định là tháng 1 năm 2015 thì VN sẽ phải cắt thuế đối với hàng TQ) nền kinh tế của Việt Nam khẳng định là sẽ bị chao đảo mạnh nếu không muốn nói là sẽ bị đè bẹp. Mà khả năng cạnh tranh đó thì chỉ có thể đến --và duy nhất chỉ có thể đến-- từ một cuộc cải cách đợt hai, một cuộc cải cách sâu và rộng đến mức độ có thể “chuyển đổi được cấu trúc kinh tế” và “làm mới được cơ chế kinh tế” --một cơ chế cao cấp với những hảo tính không thể thiếu trong một nền kinh tế tiên tiến--.
Tại sao là nguy cơ lớn hơn? Tại vì sự chuyển dịch chậm chạp của nền kinh tế Việt Nam mà do đó quốc tế đang có khuynh hướng coi Việt Nam là một nền kinh tế chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu và những sản phẩm công nghiệp thấp nặng về gia công. Mà dường như là Việt Nam cũng tự định hình như thế. Trong sự phân công quốc tế, đây là một điều không tốt. Nó sẽ “trói” Việt Nam trong sự định hình này. Và với sự vắng mặt của một cuộc cải cách đợt hai, nền kinh tế Việt Nam sẽ bị đẩy vào lộ trình BC1, nơi đó Việt Nam sẽ bị treo lơ lững dài hạn, không thoát ra được tình trạng là một nền kinh tế chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu và những sản phẩm công nghệ thấp nặng về gia công. Và, là một hậu quả đương nhiên, sẽ không thoát ra khỏi tình trạng là một quốc gia chỉ có được thu nhập trung bình. Sự chuyển dịch chậm chạp này không nằm ngoài lý do đơn giản: thiếu vắng một cuộc cải cách đợt hai, một cuộc cải cách sâu và rộng đến mức độ có thể thay đổi được cấu trúc kinh tế và làm mới được cơ chế kinh tế tạo ra một sự chuyển dịch mạnh mẽ.
Tại sao là nguy cơ lớn hơn? Tại vì cấu trúc kinh tế và cơ chế hiện tại tạo ra một bầy giao long nằm trong cái hồ nhỏ. Bầy giao long không đủ bản lãnh hóa rồng bay ra biển lớn nhưng đủ sức để giết rất nhiều cá và quậy đục cả hồ nếu không muốn nói là có thể làm nát cả chính cái hồ nuôi chúng. Vâng, tôi muốn nói tới những “tạp đoàn” quốc doanh. Tôi còn muốn nói thêm rằng sức mạnh thực sự của nền kinh tế thị trường là nằm ở khu vực kinh tế dân doanh. Sinh lực của nền kinh tế Việt Nam cũng nằm ở khu vực dân doanh. Những tạp đoàn quốc doanh đã và đang giành sân của những công ty dân doanh cũng như đã và đang thu tóm tài nguyên lẫn cơ hội chính là nguy cơ lớn, nguy cơ xuất phát ngay bên trong nền kinh tế Việt Nam. Những tập đoàn quốc doanh không những trực tiếp bóp nghẽn sức sống của khu vực kinh tế dân doanh mà còn gián tiếp làm mất hiệu lực của những chính sách ổn định vĩ mô đúng bài bản đã ban hành. Hay nói một cách khác, chúng hãm đà phát triển của nền kinh tế Việt Nam, góp phần tạo ra sự bất ổn định cho đất nước, và vô hiệu hóa phần lớn những chính sách ổn định vĩ mô. Không có một cuộc cải cách đợt hai, cải cách sâu và rộng, nguy cơ này sẽ không được giải quyết tận gốc rễ. Nhà nước duy trì SOEs và thành lập những tập đoàn quốc doanh với hy vọng chúng sẽ là những mũi nhọn chiến lược cho kinh tế đất nước. Nhưng với tình trạng hiện nay, theo đánh giá của cá nhân tôi, nếu không có một cuộc cải cách sâu rộng thì dầu có thêm 10 năm nữa chúng cũng chỉ là những “tạp đoàn.” Lớn nhưng tạp thì chắc chắn là yếu ớt, chắc chắn là không đủ khả năng cạnh tranh với những công ty quốc tế. Như vậy thì có mong gì đảm đương chức năng mũi nhọn chiến lược giúp cho nền kinh tế Việt Nam cất cánh? Hãy nhìn thực tế đang phơi bày và sắp phơi bày nhiều hơn nữa. Tôi không nói SOEs là hoàn toàn không cần thiết, nhưng không phải như tình trạng hiện nay.
Tại sao là nguy cơ lớn hơn? Tại vì nhà nước đã và vẫn đang can thiệp quá sâu vào sự vận hành của nền kinh tế thị trường. Trách nhiệm và vai trò của một nhà nước cấp tiến là tạo ra môi trường thông thoáng để nền kinh tế của đất nước được thuận lợi phát triển. Nhà nước chỉ nên can thiệp vào những gì mà nền kinh tế thị trường tự nó không làm được. Dòng chảy của FDIs đổ vào nền kinh tế nhiều hay ít và sự định hình của nền kinh tế có được như mong muốn hay không sẽ tùy thuộc rất lớn vào thực tiễn của môi trường kinh tế có thông thoáng hay không và thông thoáng tới mức độ nào. Can thiệp quá sâu vào sự vận hành của nền kinh tế không những là làm cho dòng chảy FDIs vào nền kinh tế bị suy kém hoặc đứt đoạn hoặc dứt hẳn và làm cho sự định hình của nền kinh tế không thể được như mong muốn mà còn làm cho phát sinh những bệnh nan y đe dọa đến sức khỏe của nền kinh tế đó và gây ra những dị dạng làm cho những bệnh nan y càng thêm khó trị liệu. Giá thị trường bị bóp méo, cung cầu bị lệch, chợ đen/ kinh tế chui hoạt động khắp mọi nơi, đầu tư không đúng nơi đúng lúc, tài nguyên không được sử dụng đúng chỗ đúng mức, các nguồn lực phân bố không tương xứng hoặc không thích đáng, tiết kiệm chưa được vận dụng đúng tiềm lực, các thị trường không đạt hiệu quả và thiếu liên thông, phân công và phát triển giữa những ngành kỹ nghệ cũng như giữa những tác nhân bên trong một kỹ nghệ hoặc rời rạc hoặc tạp nhạp, quản trị không đủ năng lực vì thiếu kỹ thuật và thiếu kỷ luật, báo cáo và phân tích kế toán không đồng bộ không theo tiêu chuẩn cao do đó thông tin thiếu trung thực hoặc bị ngụy tạo làm cho khó kiểm tra và khó quản lý, nghiên cứu và áp dụng khoa học kỹ thuật còn rất phôi thai, giáo dục đào tạo và thị trường lao động và sách lược kinh tế của đất nước không ăn khớp . . . chỉ là một số thí dụ điển hình nằm trong danh sách dài hơn rất nhiều. Với cấu trúc kinh tế và cơ chế hiện nay, nhà nước không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải can thiệp sâu vào nền kinh tế dầu không muốn. Trong tiến trình và theo thời gian, những bệnh nan y và những dị dạng của nền kinh tế phát sinh càng nhiều và càng trở nên trầm trọng hơn. Một điều mà chúng ta cũng cần phải thấy rõ là, với cấu trúc kinh tế và cơ chế hiện nay, bất kỳ là ai ngồi ở vị trí lãnh đạo điều hành thì hậu quả tiêu cực cũng vẫn phát sinh không khác những gì đã và đang thấy trong những đơn vị kinh doanh và trong nền kinh tế Việt Nam (dẫu là mức độ trầm trọng của mỗi sự kiện có thể sẽ khác). Đổ lỗi và trừng trị cá nhân không phải là giải pháp rốt ráo. Vâng, tôi muốn nói tới lỗi từ trong cấu trúc kinh tế và do cơ chế mà phát sinh. Dầu rằng những cá nhân được giao trách nhiệm nằm trong sự vận hành của cơ chế có phải chịu trách nhiệm về những tiêu cực phát sinh nhưng trên bình diện vĩ mô tựu chung vẫn là tại vì cấu trúc kinh tế và cơ chế hiện nay. Không có một cuộc cải cách đợt hai, một cuộc cải cách sâu và rộng, thì những dị dạng của nền kinh tế Việt Nam và những bệnh nan y của nền kinh tế Việt Nam sẽ không được giải quyết tận gốc.
Những phân tích và lý luận dài dòng ở trên thực ra chỉ để nhấn mạnh một điều rất đơn giản: nhu cầu cấp bách cho một cuộc cải cách đợt hai. Việt Nam cần phải cấp bách tiến hành một cuộc cải cách đợt hai. Quỹ thời gian không còn nhiều. Cải cách sâu rộng hay là đất nước sẽ bị treo lơ lững dài hạn. Chưa hết, nếu tiếp tục duy trì cấu trúc kinh tế và cơ chế hiện nay, nền kinh tế Việt Nam sẽ phải đối mặt với những bất ổn định thường hơn với cường độ lớn hơn và khó xử lý hơn. Theo đó, an ninh của đất nước cũng sẽ phải đối diện với những đe doạ trầm trọng hơn, bởi những tác lực từ bên trong và bên ngoài.
IV. CẢI CÁCH THẾ NÀO?
Bất cứ một cuộc cải cách nào cũng sẽ có những điểm tích cực và tiêu cực của nó. Nếu không thì sẽ không có những tranh luận. Tuy nhiên, nếu dựa vào số lượng nghiên cứu đồ sộ đã thâu thập được qua những kinh nghiệm thực tiễn trên khắp thế giới, và nếu nhìn vấn đề trên quan điểm thực dụng “được nhiều hơn mất, lợi nhiều hơn hại” cho nền kinh tế của một nước, thì chuyên gia kinh tế đã đi đến sự đúc kết và được coi như là kim chỉ nam trong cải cách kinh tế: hãy nỗ lực để tự do hoá, ổn định hoá và tư hữu hóa nền kinh tế.
Cụ thể là phải làm gì để tự do hóa, ổn định hóa và tư hữu hóa? Câu trả lời tốt nhất là nên đến từ những chuyên gia và tổ chức nghiên cứu tư vấn cho quý vị cũng như đến từ quần chúng. Có lắng nghe, trao đổi và đạt được sự đồng thuận cao độ thì mới có thể huy động được sinh lực của toàn dân tộc để triển khai một cuộc cải cách đợt hai với nhiều triển vọng thành tựu lớn. Đừng quên là cải cách sâu rộng cũng bao hàm cả cải cách cái nhìn và sự hỗ trợ của toàn dân đối với nhà nước. Khác với cải cách đợt một, dễ hơn nhiều bởi hoàn cảnh nghèo đói cùng cực đã tạo sẵn sự đồng thuận và lúc đó cũng chưa có những phe nhóm trục lợi kinh tế, cải cách đợt hai sẽ khó thực hiện hơn và khó thực hiện một cách nghiêm túc nếu quyền lợi của đất nước không được đặt lên hàng đầu. Kinh nghiệm trong những cuộc cải cách cho thấy những phe nhóm đang trục lợi sẽ cực lực bài bác nỗ lực cải cách đụng chạm đến quyền lợi của họ. Sự hỗ trợ mạnh mẽ của quần chúng chính là chỗ tựa để thuyết phục những phe nhóm như vậy. Giúp cho toàn dân được chính danh tham dự vào những cải cách sâu rộng thì toàn dân sẽ là chỗ tựa để giúp cho nhà nước sức mạnh vượt qua mọi trở ngại trên đường thực hiện những cải cách sâu rộng.
Để có bài bản hơn, trước khi đặt ra câu hỏi cụ thể phải làm gì để tự do hoá, ổn định hoá và tư hữu hóa thì chúng ta nên tìm hiểu: những nền kinh tế đã cất cánh và đã trở thành những nền kinh tế tiên tiến có chung những đặc tính nào, và những nền kinh tế chưa cất cánh hoặc cố gắng cất cánh nhưng thất bại có chung những đặc tính nào? Sau khi đã có hai bảng tổng kết và đem so sánh, chúng ta sẽ không khó để tìm ra mục tiêu và phương án cải cách. Cũng không khó để nhận ra rằng “những đặc tính chung của những nền kinh tế tiên tiến” hoàn toàn vắng mặt và ngược lại “những đặc tính chung của những nền kinh tế chưa cất cánh hoặc thất bại trong nỗ lực cất cánh” thì có rất nhiều điểm tương đồng khi đem ra so với những đặc tính của nền kinh tế Việt Nam ở thời điểm hiện tại.
Cũng không nằm ngoài cái dù “tam hoá,” có một số mục tiêu cụ thể tôi đặc biệt quan tâm và khẩn thiết muốn thấy chúng được thực hiện trong nỗ lực cải cách đợt hai. Đó là:
  1. Công nhận quyền tư hữu.
  2. Tiến hành tư hữu hóa tất cả công ty quốc doanh, kể cả những tổng công ty và tạp đoàn. Triệt tiêu khu vực quốc doanh. Chấm dứt bảo hộ mậu dịch.
  3. Nâng cấp Ngân Hàng Trung Ương thành một cơ quan hoạt động độc lập và cách ly với áp lực chính trị.
  4. Khẩn cấp cải cách toàn bộ hệ thống ngân hàng. Ngoại nhập kỹ thuật quản trị ngân hàng. Đẩy mạnh kỷ luật quản trị ngân hàng.
  5. Công khai ngân sách thu chi của nhà nước, từ cấp trung ương tới địa phương, và tạo cơ hội cho quần chúng tiếp cận những báo cáo một cách dễ dàng.
  6. Áp dụng một tiêu chuẩn báo cáo tài chính, tiêu chuẩn chung, cho tất cả công ty kinh doanh, và nên là tiêu chuẩn quốc tế.
  7. Công khai tất cả những con số thống kê (thay vì công bố nhỏ giọt) và tạo cơ hội cho quần chúng tiếp cận trữ liệu thống kê một cách dễ dàng.
  8. Chọn lựa và ban hành một phương pháp tính toán tài chính trong đầu tư áp dụng chung cho tất cả dự án của nhà nước, từ trung ương tới địa phương, và khuyến khích khu vực tư doanh nên áp dụng.
  9. Khuyến khích sự hoạt động độc lập và tiếng nói độc lập của các nhóm nghiên cứu trong mọi lãnh vực.
  10. Khuyến khích sự hình thành cơ chế và hoạt động tự quản tự kiểm trong mọi ngành nghề và mọi kỹ nghệ.
  11. Khuyến khích những nguyên tắc và phương pháp thiện hành (good practices) ở mọi cấp độ, mọi lãnh vực.
  12. Bảo đảm tính dân chủ trong mọi hoạch định và thực thi sách lược, chính sách, kế hoạch, dự án, dự luật, vân vân.
Những đề mục trên chỉ là một số ít trong những điều cần phải cải cách. Trong số những đề mục trên, một số là để nâng cao hiệu năng còn một số để cải thiện môi trường, một số thì liên quan đến cấu trúc kinh tế còn một số liên quan đến cơ chế. Muốn cất cánh, và có thể cất cánh thành công, Việt Nam cần có một cấu trúc kinh tế thích hợp hơn và cần có một cơ chế tương đương hoặc giống như là cơ chế của những nền kinh tế tiên tiến. Cơ chế đó phải bảo đảm được sự tự do chuyển dịch của mọi hoạt động kinh tế, phải bảo đảm được sự ổn định trong mọi hoạt động kinh tế, và phải bảo đảm được tài sản tư hữu của mọi thành phần tham gia vào hoạt động kinh tế. Đó là cơ chế cao cấp với những hảo tính không thể thiếu, điều kiện phải có và đủ, để cho một nền kinh tế cất cánh và đi vào hành trình phát triển bền vững. Điều này cũng có nghĩa là Việt Nam cần phải tiến hành một cuộc cải cách đợt hai sâu và rộng để có được cơ chế như vậy. Hiện tại Việt Nam đang tại mốc thời điểm B trên quỹ đạo kinh tế. Và quỹ thời gian không còn nhiều!
Tôi cảm ơn quý vị đã bỏ thời gian và công sức để đọc kiến nghị này. Trước khi chấm dứt, tôi cũng xin thành thật gởi đến quý vị và gia đình những lời chúc tốt lành nhất.
Hà Hưng Quốc, Ph.D.
Tác giả sách Kinh Tế Vĩ Mô: Kinh Nghiệm Của Hoa Kỳ, Chứng Khoán & Thị Trường Chứng Khoán, Tổ Hợp Đầu Tư, Lãnh Đạo: Khoa Học & Nghệ Thuật cùng một số tác phẩm khác.
C/c:
  • V/P Thủ Tướng
  • V/P Quốc Hội
  • V/P MTTQVN
  • Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh Tế Trung Ương

Biếm họa : Chuyện chị Bùi Thị Minh Hằng








Cáo buộc mới liên quan vụ tiền polymer




Securency bị cáo buộc hối lộ quan chức Việt Nam để được in tiền polymer

Cập nhật: 15:40 GMT - thứ tư, 30 tháng 11, 2011

Cáo buộc mới liên quan vụ tiền polymer

Lại có thêm cáo buộc mới liên quan vụ Securency, lần này nhắm vào Cơ quan xúc tiến thương mại Úc (Austrade) tại Việt Nam.

Cặp phóng viên điều tra Richard Baker và Nick McKenzie hai năm trước đã công bố loạt bài trên báo Úc The Age, đưa đến việc cảnh sát Úc điều tra công ty in tiền Securency.

Securency đang bị Úc điều tra quanh cáo buộc hối lộ quan chức Việt Nam, Indonesia và Malaysia để đổi lấy các hợp đồng in tiền cho các ngân hàng tại các nước này.

Trong bài mới nhất ngày hôm nay, họ cáo buộc đại diện của Austrade ở Hà Nội, Elizabeth Masamune, đã biết về mối liên hệ giữa Securency và người môi giới tại Việt Nam, Đại tá Lương Ngọc Anh ngay từ năm 2001.



Họ đặt câu hỏi liệu bà Masamune có biết việc Securency trả tiền cho ông Ngọc Anh - điều có thể vi phạm luật chống hối lộ của Úc - hay không?

Điều tra của hai phóng viên tờ The Age nói rằng ngay từ năm 2001, Securency nói với bà Elizabeth Masamune rằng công ty của ông Lương Ngọc Anh, một đại tá công an, sẽ là "hộp thư" giữa Securency (thuộc Ngân hàng Quốc gia Úc) và Ngân hàng Trung ương Việt Nam.

Bà Masamune bị nói là làm việc thân thiết với Đại tá Ngọc Anh, người mà tháng Bảy năm nay bị Cảnh sát Liên bang Úc cáo buộc đã nhận tối đa 20 triệu đôla Úc trong các khoản tiền bị nghi là hối lộ của Securency.



Dùng đến Luật Tự do Thông tin, báo The Age nói họ có các văn bản cho thấy bà Masamune, hiện nay là Tổng giám đốc thị trường Đông Á của Austrade, đã biết từ 2001 là Securency có những thỏa thuận tiền bạc với ông Ngọc Anh.

Theo The Age, không ai trong Austrade khuyến cáo Securency rằng công ty có thể đang làm việc phi pháp khi trả tiền cho Đại tá Ngọc Anh và công ty CFTD của ông này.

The Age cáo buộc: "Austrade còn chủ động khuyến khích Securency làm việc với họ."

"Các tài liệu nội bộ của Austrade cho thấy các viên chức thương mại cao cấp biết liên hệ của Đại tá Lương với Bộ Công an Việt Nam ngay từ 1998."

"Vào năm 2007 và 2008, Austrade cảnh báo Ngân hàng Dự trữ Úc và Securency rằng Đại tá Lương là viên chức cao cấp trong ngành tình báo và an ninh Việt Nam."

Visa 'siêu nhanh'

The Age nói họ có trong tay email trao đổi giữa bà Masamune và cựu giám đốc của Securency, Cliff Gerathy.

Tháng Giêng 2001, theo tờ báo, bà Masamune nói với ông Gerathy rằng bà "sẽ liên lạc với Anh [Đại tá Ngọc Anh] và bàn tiếp về những lá thư mà anh ta cần viết gửi ông liên quan những vấn đề tài chính khác."

Hai tháng sau, ông Gerathy gửi email cho bà Masamune nói: "Trong trường hợp Việt Nam, chúng tôi đang làm nhiều hơn so với ở bất kỳ nước nào khác, đặc biệt là về cam kết tài chính, mà chúng tôi xem là sự đầu tư."

Bà Masamune cũng được gửi cho xem các email về kế hoạch của Đại tá Ngọc Anh đi Úc tháng Ba 2001 để "thảo luận và ký văn bản bổ sung về việc ủy nhiệm cho CFTD".

Theo tờ báo, bà Masamune nói với ông Gerathy rằng bà sẽ vận động Bộ Di trú để cấp visa "siêu nhanh" cho ông Ngọc Anh.

The Age cáo buộc bà Masamune cũng liên quan một kế hoạch đưa các quan chức Ngân hàng Trung ương Việt Nam đi châu Âu, do Securency đài thọ. The Age nói những chuyến đi như thế "có thể vi phạm luật chống hối lộ của Úc".

Tờ báo Úc cho biết cảnh sát đã thẩm vấn bà Masamune và nhiều viên chức của Austrade, nhưng chưa buộc tội ai.

The Age cho biết nhiều văn bản về công việc của bà Masamune ở Việt Nam, mặc dù được gửi cho The Age, nhưng đã được đục bỏ bớt vì Securency nói việc tiết lộ đầy đủ sẽ tiết lộ "bí mật thương mại".

Austrade cũng đục bỏ nhiều chỗ trong các văn bản, nói rằng sự tiết lộ đầy đủ có thể gây hại cho quan hệ của họ với Việt Nam.

Austrade trả lời

Trong thư trả lời The Age, Cơ quan Xúc tiến Thương mại Úc (Austrade) nói cảnh sát liên bang Úc (AFP) "khuyên Austrade rằng những việc liên quan cuộc điều tra cần được chuyển lại cho AFP".

Thư nói: "Các vấn đề này lại liên quan cuộc điều tra của AFP và việc truy tố đang diễn ra trước tòa. Vì thế, Austrade không thể bình luận vì chúng tôi không muốn gây thành kiến hay ảnh hưởng đến vụ việc."

"Chúng tôi có thể nói Austrade đã hợp tác đầy đủ với cuộc điều tra. AFP thừa nhận Austrade mạnh mẽ ủng hộ cuộc điều tra."

"Không có cáo buộc sai trái nào chống lại Austrade và không nhân viên nào của Austrade đã bị khởi tố liên quan cuộc điều tra hối lộ của AFP."

Theo báo The Age, chính phủ Úc "liên tục ngăn trở cố gắng việc nỗ lực có một cuộc điều tra độc lập về các thỏa thuận sai trái của cơ quan thuộc Ngân hàng Dự trữ Úc và vai trò của Austrade kể từ khi The Age lần đầu tiên công khai những lo ngại hối lộ vào tháng Năm 2009".

Tại Việt Nam, tuần này, truyền thông nhà nước nói Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng "giao Bộ Công an chủ trì thu thập thông tin, làm rõ và xử lý dứt điểm vụ cung cấp chất nền in tiền polymer".

Source: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/viet...y_update.shtml

Thương Người Như Thể Thương Thân ?

Vân Hải

Nhận thấy cứ gần đến Tết VN là các nhà hảo tâm đùng đùng rủ nhau tổ chức quyên tiền… giúp VN, nên tôi lại phải viết mấy giòng này …

Tin thu nhặt vào ngày 21/11/2011 đã được báo Mondial News loan đi.

Triệu phú, ông ta từ bỏ tài sản và sống với 1 000 euros mỗi tháng.

Karl Rabeder, một thương gia 47 tuổi, người Áo, năm ngoái đã quyết định từ bỏ gia tài đồ sộ của mình. Ngày nay ông ta sống với 1 000 euros mỗi tháng.

Xin tóm tắt như sau :

Ông Karl Rabeder xuất thân nhà nghèo. Sau một thời gian làm ăn, ông trở nên giầu có. Trị giá tài sản của ông lên tới 3,4 triệu euros.

Ông Rabeder đã bán căn biệt thự tráng lệ, hãng sản xuất các đồ vật trưng bầy nội thất rất phồn thịnh, sau khi nhận ra rằng sự xa hoa và tiền bạc đã làm cho ông mất đi hạnh phúc đích thực của đời ông.

Ông tự thấy mặc cảm và không muốn sống cuộc sống đó nữa. Ông kể rằng sau chuyến du lịch đến những xứ quá nghèo ở Phi Châu hay Nam Mỹ, ông đã quyết định bán hết tài sản và chuyển số tiền bán được đến một công ty cho vay nhẹ lãi để giúp những người nghèo hoàn thành giấc mơ của họ.

Một năm sau, ông cho tờ báo Đức Spiegel-Online biết rằng cuộc sống mới tốt đẹp hơn cả mơ ước và đem lại nhiều hạnh phúc hơn mong đợi. Ông nói rằng nếu tiền bạc đem đến vui sướng thuở ban đầu thì sau thay đổi đó, người ta sẽ nhận thấy chỉ là ảo tưởng. Sau 20 năm sống dư giã, Karl Rabeder nhận ra rằng cuộc sống đó không phù hợp với ông, vì ông đã tưởng rằng tiền bạc sẽ đem lại hạnh phúc. Đó là một sai lầm.

Ông Karl Rabeder hiện nay sống trong một căn nhà bằng gỗ tại Tyrol với 1 000 euros mỗi tháng thôi. Ông trở thành giảng viên về đề tài « tiền bạc vừa phải sẽ làm cho ta vui sống » và viết cuốn sách « Người nào không có gì cả có thể cho tất cả ».

Sau khi đọc bản tin này, tôi chợt nghĩ đến các cán bộ và đồng đảng triệu phú hay tỷ phú cộng sản tại xứ Xã Nghĩa VN. Chúng cũng xuất thân nghèo khổ, vì phải có ba đời là bần cố, tức là khố rách áo ôm, mới được gia nhập đảng cộng sản VN do già Hồ « mượn tạm » chủ nghĩa ngoại lai đó từ xứ Nga-Sô Viết đem về. Ông Rabeder thì vì nghèo nên ra sức phấn đấu làm ăn mà trở thành giầu có. Bọn « cán ngố ngày xưa », ngược lại, tuy cũng nghèo, nhưng chẳng làm ăn khỉ gì cả, chỉ đi ăn cướp, hết cướp đêm lại cướp ngày, mà trở thành triệu phú, có đứa… tỷ phú mỹ kim. Tài sản của ông Rabeder chỉ có 3,4 triệu euros mà thôi, sau 20 năm sống giầu sang, đã thấy mình quá sung sướng và đã quyết định bán đi để giúp kẻ nghèo hơn mình đạt được giấc mộng « cơm no áo ấm » bình thường, hàng ngày.

Ròng rã hơn 60 năm trên toàn quốc VN, trên 36 năm tại miền Nam VN, bọn đại gia đỏ, mafia cộng sản VN Xã Nghĩa, thì trái lại, cho dù đã ăn sung mặc sướng, xa hoa không tưởng, vung tiền như vung rác, con cháu du học hay ở ngay tại VN cũng ăn chơi trác táng thần sầu quỷ khốc, hơn cả cha chú chúng nó, nhưng cả bọn vẫn chẳng chịu mở mắt mà nhìn cái gương tầy liếp kia. Ngày nay ông Rabeder sống trong căn nhà gỗ với số tiền tối thiểu cho một người có thể sinh sống, thì ngược lại, bọn mafia đỏ đại gia CSVN trước kia đã trấn lột dân miền Bắc, sau hiệp định Genève, rồi sau 30 tháng Tư Đen 75, vào vơ vét về khi chiếm xong miền Nam VN và ngày nay lại sang ngoại quốc vét voi về thêm, mà không hề màng tới sự nghèo đói thảm thê của người dân VN ở ngay bên cạnh khu vực dinh thự của chúng nó. Trái lại chúng còn tiếp tục chèn ép, đuổi dân nghèo, chiếm nhà, chiếm vườn, chiếm ruộng, chiếm cả nhà thờ và đất nhà thờ, để làm nơi ăn chơi và làm của riêng, rồi bán cả trẻ em và phụ nữ VN cho các động mãi dâm ở ngoại quốc, ăn chặn lương tháng của lao nô VN ở nước ngoài để làm giầu thêm, ăn chặn cả cứu trợ bão lụt hay tiền mua xe lăn, nạng gỗ của người tỵ nạn VN ở hải ngoại gửi về giúp nạn nhân thiên tai và thương phế binh VNCH, rồi chúng phạm một tội mà chắc chắn Trời không dung Dân tộc cũng không tha là đem dâng hiến cả đất và biển của Tổ Quốc VN cho Ba Tầu Cộng để xin che chở và được ngồi luôn trên ngai vàng.

Tôi chẳng biết viết gì hơn là tha thiết cầu mong người dân nghèo ở VN lấy hết can đảm đứng lên giúp những nhà tranh đấu dân chủ lật đổ chế độ CS thối nát, dã man và phản quốc kia, không thể đợi chúng nó biết bắt chước ông triệu phú người nước Áo.

Tôi nghe các cụ già kể ngày xưa Hàn Tín chịu khó luồn chôn rồi sau làm nên việc lớn là gì ? Thế thì quý vị hảo tâm sao chẳng bắt chước nguời xưa ? « kẹt » quá, tôi phải lấy người « nước lạ » ra để làm gương dẫn chứng, nhưng chợt nghĩ rằng thôi thì…trước lạ sau quen mấy hồi, vì đất với biển VN đã được đảng CSVN hiến dâng, người « nước lạ » sang VN ăn chơi, khai thác tài nguyên, ra vào như đi chợ rồi còn gì nữa…Hỡi ôi ! Vì thế tôi mong các nhà « hảo tâm » VN, cựu tỵ nạn CS, ở hải ngoại, nên thức tỉnh, đừng …kỳ nèo quyên góp người Việt, cũng tỵ nạn CS, ở hải ngoại nữa, mà về VN …chịu khó tí xíu… bắt chước Hàn Tín van lạy các triệu phú hay tỷ phú cộng đảng và bè lũ đại gia đỏ hé mở hầu bao giúp dân VN nghèo ở ngay bên cạnh họ hoặc ở các vùng gọi là « vùng sâu vùng xa ». VN mình nghèo đói trên 60 năm rồi…

Còn như nếu các nhà hảo tâm và những người mà tôi gọi là vịt cừu yêu quái kia vẫn thường đi đi về về VN Xã Nghĩa, mà cho rằng « VN mình » bây giờ vui lắm, sướng lắm, có đầy đủ tiện nghi và giầu có hơn cả người Việt tỵ nạn ở hải ngoại xa, « mình » ở ngoài này thua họ xa lắc xa lơ, « mình » về VN được họ đem đi ăn nhậu ở nhà hàng lớn, đãi đằng thấy bắt rùng mình. Nếu họ sang thăm « mình » ở hải ngoại, thì chắc là phải…trốn vì không đủ khả năng tài chính để … « chiêu đãi » cho có qua có lại…. Nếu thế thì quý vị quyên tiền của chúng tôi, những công tư chức tỵ nạn CSVN ở hải ngoại làm việc đầu tắt mặt tối với đồng lương rất bình thường, làm gì nữa, để giúp ai ? hay là quý vị áp dụng triệt để câu « thương người như thể thương thân » ? và chẳng quên sốt sắng thêm câu : Giúp nguời ư ? trước hết giúp thân đã nào ! hề hề !

Có người rỉ tai tôi như sau :

Thương người như thể thương thân?
Giúp nguời? trước hết giúp thân đã nào !
Giúp thân thì giúp nàm thao ?
Chấm mút chút đỉnh tội nào quá to ?
Khứ hồi mua vé… ? đừng lo.
Trích trong tiền quỹ vài bò, …có sao ?
Chẳng móc tiền túi đồng nào.
Bu mày yên chí, hầu bao vẫn đầy.
Miễn phí đi gió về mây.
Chén anh chén chú, rồi đây tha hồ.
Đồng chí đồng rận xô bồ.
Đồng nào cũng được, quý hồ giúp em.
Tiền nhậu, tiền túi lem nhem.
Bao nhiêu tiền giúp, để xem còn gì ?
Dân nghèo chịu khó…chờ đi.

Này này, đừng có thị phi !

Nuon Chea là quân cờ của Trung Cộng

Ngô Nhân Dụng

Trước phiên tòa ở Phnom Penh xét xử tội diệt chủng của chế độ Khờ Me Ðỏ, bị cáo Nuon Chea đã bào chữa cho đám lãnh tụ cộng sản Campuchia bằng cách đổ tội cho đảng Cộng Sản Việt Nam, và kết tội cả người Việt Nam ở Campuchia.

Ðằng sau màn kịch này có thể là bàn tay của Trung Quốc giật dây chính quyền Hun Sen, cố ý trình diễn tấn tuồng chống người Việt để gây khó khăn, đe dọa chính quyền Hà Nội.

Suy đoán như vậy, vì trong một chế độ độc tài như ở Campuchia, chính quyền kiểm soát mọi tin tức ngay từ gốc. Nếu không do Hun Sen đạo diễn thì Nuon Chea không có dịp “diễn thuyết” trước tòa án về mối thù oán người Việt, một phiên tòa quốc tế do Liên Hiệp Quốc xếp đặt như vậy. Cho Nuon Chea đổ cho người Việt là nguyên nhân cái chết của gần 2 triệu người Cam Bốt, ngoài tác dụng chối tội cho các lãnh tụ Khờ Me Ðỏ còn tạo hai tác dụng khác. Thứ nhất là khơi lại lòng thù oán với dân Việt, đặc biệt là những người Việt đang sống ở ngay trong nước Campuchia, đồng thời phá chính quyền cộng sản ở Việt Nam để yểm trợ Cộng Sản Trung Hoa. Hai là làm cho dư luận quên tội lỗi của đảng Cộng Sản Trung Quốc là đám người thực sự đứng đằng sau Khờ Me Ðỏ trong suốt thời gian chính sách diệt chủng được thi hành; rồi tiếp tục bảo trợ cho bọn này cho đến ngày Pol Pot chết. Sau khi Khờ Me Ðỏ bị tiêu diệt, Bắc Kinh sẵn sàng sử dụng quân bài mới là Hun Sen; đồng thời cũng mua chuộc ảnh hưởng ở nước Lào và Miến Ðiện; để tiếp tục chính sách bao vây Việt Nam từ hai ba mặt.

Hun Sen từng được Cộng Sản Việt Nam nuôi nấng, giúp đỡ, gầy dựng, lúc ông ta trốn thoát bàn tay của các đồng chí Khờ Me Ðỏ. Nhưng ngay sau khi thành công nắm được chính quyền ở Phnom Penh thì Hun Sen đã quay đầu chống lại các “đồng chí anh em” đã nâng đỡ mình. Hun Sen đã mời các cố vấn Trung Cộng trở lại, nhận hàng tỷ đô la viện trợ của Bắc Kinh, dùng Trung Cộng để thăng bằng cán cân với Việt Cộng. Vì quyền lợi bản thân và quyền lợi quốc gia, ông ta phải xoay chiều; vì đã biết các nước cộng sản đàn anh bao giờ cũng tìm cách lũng đoạn các nước đàn em. Ðứng giữa hai nước “đàn anh” thì Trung Cộng ở xa hơn Việt Cộng cho nên đỡ nguy hiểm hơn; mà tiền bạc thì lại nhiều và ban phát rộng rãi hơn. Cho nên, Hun Sen có thể sẵn lòng theo lời cố vấn Trung Cộng bầy ra vở tuồng “Nuon Chea đổ tội” cho Việt Nam. Cũng chẳng khác gì khi ông ta mời Cựu Thủ Tướng Thái Lan Thaksin làm cố vấn chỉ để phá chính quyền Thái Lan trước đây, trong lúc hai nước đang tranh chấp biên giới.

Trung Cộng đứng bảo chủ cho chế độ Khờ Me Ðỏ là một sự kiện hiển nhiên. Pol Pot là người theo chủ nghĩa Mao Trạch Ðông kiên quyết nhất. Các cố vấn Trung Quốc đã chỉ đạo các hành động “xóa sạch quá khứ,” bắt đầu lại lịch sử bằng Năm Zero, giống như cuộc Cách Mạng Văn Hóa ở Trung Quốc. Khờ Me Ðỏ đã tàn sát những người có học, ai đeo kính, biết đọc sách là có tội, theo tư tưởng Mao Trạch Ðông coi giới trí thức không bằng “cục phân.” Họ giết gần 2 triệu người Khờ Me cũng như giết người gốc Việt trong khi các Hoa kiều ở Campuchia phần lớn được thoát nạn! Ngay những hành động Khờ Me Ðỏ cho quân sang cướp bóc, giết người ở biên giới Việt Miên cũng do Bắc Kinh xúi giục để đe dọa Lê Duẩn.

Nuon Chea, còn mang tên Long Bunruot, từng đóng vai “Anh Hai, Brother Number Two” chỉ đứng sau Pot Pot (Number One), sinh năm 1926 dưới tên thật là Lau Ben Kon, chữ Hán là Lưu Bình Khôn. Cha mẹ ông ta đều là người gốc Hoa, cũng như vợ ông tên là Ly Kimseng. Nuon Chea không đi học ở Pháp như mấy lãnh tụ Khờ Me Ðỏ khác mà ở Ðại Học Thammasatt bên Thái Lan. Ở xứ Thái, Nuon Chea đã gia nhập “Ðảng Cộng Sản Xiêm,” một đảng thân Trung Cộng, sau này đã kịch liệt chống Nga Xô. Trở về Cam Bốt, năm 1960 Nuon Chea lên đến chức phó tổng bí thư đảng Lao Ðộng Campuchia (Cộng Sản). Khi Khờ Me Ðỏ cướp chính quyền năm 1975, Nuoun Chea được làm chủ tịch Quốc Hội, có lúc làm thủ tướng trong một tháng khi Pol Pot tạm nghỉ. Trong đám lãnh tụ cao cấp Khờ Me Ðỏ, Nuon Chea là tay khôn ngoan sớm đầu thú với Hun Sen từ năm 1998, được sống bình an gần mười năm ở Pailin, một vùng nhiều tài nguyên ngọc thạch và gỗ, nằm trong tỉnh Battambang là nơi Nuon Chea ra đời. Năm 2007 vì áp lực quốc tế trên chính quyền Hun Sen, Nuon Chea mới bị giam chờ ngày ra tòa.

Ra trước tòa án, Nuon Chea đã tự giới thiệu như một nhà ái quốc Khờ Me, nói nỗi lo chống lại cuộc “xâm lấn” của người Việt Nam, và chống chính sách của Cộng Sản Việt Nam muốn chiếm Campuchia, “tiêu diệt” dân tộc Khờ Me. Ông ta còn khấn khứa vong linh tổ tiên “đã hy sinh xương máu bảo vệ đất nước” Khờ Me, nhưng không hề nhắc đến tổ tiên của chính ông ta đều ở bên Tầu! Ông ta đổ tội cho mọi người Việt, những binh lính và cán bộ do Cộng Sản Việt Nam “gài” ở lại Cam Bốt; để biện hộ việc bắt hàng triệu người Khờ Me phải bỏ thành phố về sống ở thôn quê chỉ vì mục đích thanh lọc những người Việt Nam đang sống ở đó. Ông ta còn khiêu khích đảng Cộng Sản Việt Nam khi nhắc lại Khờ Me Ðỏ chiếm được Pnom Penh trước khi Việt Cộng chiếm được Sài Gòn, khiến Cộng Sản Việt Nam ghen ghét!

Vụ xung đột giữa Khờ Me Ðỏ với Việt Cộng có nguyên ngân trực tiếp, nhưng cũng do bàn tay Trung Cộng nhúng vào. Nguyên nhân trực tiếp là tham vọng của Lê Ðức Thọ muốn liên kết ba đảng Cộng Sản Ðông Dương để chính mình làm chủ tịch, ngồi ghế trên Lê Duẩn, khiến Cộng Sản Campuchia lo sợ muốn tách ra. Nhưng chính Bắc Kinh đã xúi giục Khờ Me Ðỏ gây ra những cuộc cướp bóc, giết người ở biên giới với Việt Nam để trừng phạt, khi Lê Duẩn ngả hẳn sang Liên Xô trong cuộc tranh hùng giữa Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa. Lê Ðức Thọ và Lê Ðức Anh đã đem lính sang đánh Campuchia để thực hiện giấc mộng Liên Bang Ðông Dương, làm chết 50,000 thanh niên Việt Nam. Kết cục chỉ đưa tới cảnh sa lầy suốt mười năm cho tới khi phải rút lui nhục nhã. Vì tham vọng cộng sản hóa cả vùng Ðông Nam Á, Cộng Sản Việt Nam đã hoàn toàn bị mắc bẫy của Ðặng Tiểu Bình, di họa cho người Việt tới bây giờ!

Nhưng tại sao Bắc Kinh lúc này lại sử dụng quân bài Nuon Chea và Hun Sen để gây lòng thù hận giữa người Khờ Me với người Việt Nam? Chính vì ở nước ta đang có phong trào chống các chính sách của Bắc Kinh xâm lấn biển đảo, đánh phá ngư thuyền, bắt cóc ngư dân Việt ở Biển Ðông. Dưới áp lực của lòng dân Việt khắp nơi, đảng Cộng Sản đã bắt đầu phải nói những lời lẽ cứng rắn đối với Bắc Kinh; tìm hỗ trợ ngoại giao từ các nước Ðông Nam Á và các cường quốc Châu Á. Các cuộc công du của Trương Tấn Sang sang Nhật Bản, Ấn Ðộ đều cố ý để cho người dân Việt thấy đảng Cộng Sản Hà Nội không hoàn toàn là tay sai của Bắc Kinh như mọi người vẫn nghĩ. Gần đây, chính Nguyễn Tấn Dũng đã dám công khai nói lên sự thật là Trung Cộng đã chiếm quần đảo Hoàng Sa của một nhà nước có chủ quyền hợp pháp là Việt Nam Cộng Hòa. Dưới áp lực của lòng dân, chính các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam phải mang một bộ mặt mới, để dân quên bớt những khó khăn kinh tế, ngân sách thâm thủng, lạm phát cao nhất Á Châu, tham nhũng, lạm quyền và bất công xã hội; và nhất là thái độc hèn yếu nhu nhược đối với nước cộng sản anh em của họ.

Không cho các lãnh tụ Cộng Sản Hà Nội đi quá xa, Bắc Kinh có thể dùng các quân bài Hun Sen và Nuon Chea, đe dọa một cuộc khủng hoảng mới ở phía Tây Nam, phát xuất từ Cam Bốt. Họ nghĩ như Ðặng Tiểu Bình, là một nước Việt Nam không thể đối phó với hai cuộc tranh chấp với hai nước láng giềng cùng một lúc. Nếu xẩy ra một cuộc xung đột giữa Việt Nam với Cam Bốt thì cả khối ASEAN sẽ bị ảnh hưởng. Mối đoàn kết bị lung lay, ý định liên kết lập trường trước vấn đề Biển Ðông sẽ tan vỡ trước khi được nêu lên. Hơn nữa, nếu gây lại một phong trào người Khờ Me thù oán người Việt, giết hại người Việt ở Campuchia thì dư luận trong nước Việt Nam sẽ được nhà nước cộng sản chuyển sang một hướng khác, không nhắm trọng tâm vào vấn đề Biển Ðông nữa!

Ðây là một mối lo cần phải báo động mọi người Việt Nam khắp thế giới! Cần lên tiếng cảnh cáo trước khi Cộng Sản Campuchia phát động một phong trào mới chống người Việt! Lãnh tụ các đảng cộng sản tranh chấp với nhau thường dùng chiêu bài “yêu nước” để xúi giục dân nước này giết người nước khác. Mục đích là cho dân quên những nỗi khó khăn kinh tế, quên cảnh sống nhục nhã mất hết tự do. Người Việt Nam đến nay vẫn xấu hổ về chính sách đuổi Hoa Kiều của chính quyền Cộng Sản trong những năm 1979, 80, mặc dù đại đa số người Hoa đã sống ở Việt Nam nhiều đời, đã hoàn toàn thành người Việt. Người Việt cũng không quên những phong trào bài Việt ở Cam Bốt do Khờ Me Ðỏ gây ra. Chúng ta cần liên kết với những cộng đồng người Khờ Me sống tự do trên thế giới để cảnh cáo mối hiểm họa xung đột chủng tộc vô lý này. Người dân Campuchia không nên bị lợi dụng làm một quân cờ trong cuộc xung đột giữa Trung Cộng với Việt Nam!

Bà Bùi Hằng đã bị chuyển ra Hà Nội

Bà Bùi Hằng đã bị chuyển ra Hà Nội

VRNs (01.12.2011) - Hà Nội – Theo thông tin được xác nhận của Hãng hàng không quốc gia, thì hành khách Bùi Thị Minh Hằng đã bay chuyến bay khởi hành từ Sài Gòn đi Hà Nội lúc 10:30, ngày thứ hai, 28.11.2011.

Facebooker Lặng Lẽ cho biết: “Kỳ Phạm nói: Chị Hằng được công an áp giải từ HCM đến HN trên chuyến bay 10:30 của VNA. Mình cũng bay chuyến này. Chỉ kịp nhận ra giọng của chị Hằng khi máy bay dừng ở Nội Bài, hành khách đứng dậy lấy hành lý & công an kéo chị từ ghế ngồi cuối cùng ra phía cửa sau máy bay”.

Facebooker này đặt câu hỏi biểu cảm về cách hành xử mờ ám của công an Hồ Chí Minh: “Đường đường chính chính chứ tại sao phải lén lút !?”

Trước đó, một facebooker trẻ khác là Gió Lang Thang nói về bà Bùi Hằng như sau: “Suốt cả cuộc đời con sẽ không bao giờ quên giọng nói đầy khí phách của má, khi má vô công an phường Bến Nghé đòi người. Ở trên tầng 3 con còn nghe rõ mồn một, con sẽ không bao giờ quên ánh mắt má dõi theo con khi con bị đẩy lên xe lôi về phường. Mãi mãi, cho đến khi con có thể còn thở nữa”. Đó là một tình cảm đặc biệt của một người trẻ bị đối xử bất công dành cho một người dấn thân cứu họ khỏi bất công.

Một Khách ẩn danh ghi phản hồi của mình tại blog của tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện: “Việc bắt giữ chị Minh Hằng gây rất nhiều hậu quả: Thứ nhất: Người dân bất bình, vì cả nước ai cũng biết chị Minh Hằng là một nhà ái quốc, cương trực và bất khuất. Thứ hai: Chị Minh Hằng đã được công luận thế giới nhắc đến rất nhiều lần như một người yêu nước, yêu công bình, bác ái. Nhà cầm quyền nên trả tự do ngay tức khắc cho chị Minh Hằng là giải pháp khôn ngoan, xoa dịu dư luận quốc tế và trong nước”.

Cũng trên Blog này, Phương Bích viết: “Công an Hà Nội đã ba lần bắt Bùi Hằng rỗi vẫn phải thả vì chẳng có lý do nào cả. Vậy nên công an TP HCM nên rút kinh nghiệm mới phải chứ. Muốn bắt cũng phải bắt cho đàng hoàng, chính danh. Bây giờ công an giữ người tùy tiện quá. Đề nghị các cơ quan giám sát phải xem xét lại quyền hạn của ngành công an”.

Ông Huỳnh Tấn Mãn nhận xét: “Thật là xót xa cho chị Minh Hằng và gia đình chị. Cầu chúc chị luôn an bình và sớm đoàn tụ cùng gia đình. Mong rằng quý lảnh đạo trách nhiệm hãy trả tự do cho chị Minh Hằng ngay vì theo tôi thì chị ấy vô tội”.

Dư luận về việc bắt bà Bùi Hằng hoàn toàn bất lợi cho nhà cầm quyền Hà Nội. Chỉ riêng bài Lo ngại về việc CA bắt giữ trái phép chị Bùi Thị Minh Hằng trên trang Dân làm báo đa có tới 120 ý kiến bình luận.

Những người yêu mến bà Bùi Hằng ở Hà Nội đang chuyền nhau ký đơn kiến nghị thả bà ra để gởi đến các cơ quan chức năng, trong đó có cả gởi cho Thanh tra công an và Giám đốc công an HCM, nơi trực tiếp bắt bà trái pháp luật.

Tại Sài Gòn, các bạn bloggers và facebookers cũng đang tính tới việc làm một lá đơn tương tự, và chiều nay, lúc 17:00, ngày 01.12.2011, một số người yêu mến bà Bùi Hằng đã xin đến nhà thờ DCCT Sài Gòn, tại 38 Kỳ Đồng dự thánh lễ và cầu nguyện cho bà.

Qua một vài thông tin chưa được kiểm chứng cho biết, an ninh HCM đang tung chiêu, chia rẽ những bạn trẻ yêu mến và đang nỗ lực giải thoát bà Bùi Thị Minh Hằng bằng cách tung ra những tin tức về đời tư, có ý bôi xấu bà.

Càng sợ hãi, công an càng bắt bớ nhân dân, càng làm cho chính quyền không còn là CỦA DÂN trong ánh mắt và con tim của giới trẻ nữa.

Thuỵ Minh, VRNs

Ảnh: Lấy từ Facebook

http://www.chuacuuthe.com/vietnam-news/ba-bui-h%E1%BA%B1ng-da-b%E1%BB%8B-chuy%E1%BB%83n-ra-ha-n%E1%BB%99i/

100 người mà tư tưởng của họ đã làm thay đổi thế giới năm 2011

Lê Diễn Đức

Tạp chí chính trị có uy tín tại Hoa Kỳ và cả trên thế giới Foreign Policy vừa công bố danh sách 100 người có tư tưởng làm thay đổi thế giới trong năm 2011.

Hầu hết những người nằm trong danh sách của Foreign Policy cũng nằm trong danh sách 100 người có ảnh hưởng nhất thế giới 2011 của tạp chí Fobers hay của Time. Sự khác nhau về thứ hạng có lẽ là do tiêu chuẩn chọn lựa của mỗi ban biên tập.

Tuy nhiên điều đáng lưu ý là, dẫn đầu danh sách của Foreign Policy năm nay không phải các chính trị gia, nguyên thủ các cường quốc, các nhà khoa học, hay kinh tế gia nổi tiếng, mà là các nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền và báo chí truyền thông có đóng góp quan trọng trong cuộc Cách mạng Mùa Xuân tại các nước Ả Rập.

Tìm hiểu sâu hơn về hoạt động của các nhân vật, đồng tác giả của Cách mạng Mùa Xuân tại các quốc gia Ả rập, chúng ta sẽ thấy một sự hình thành tương tự đang khởi đầu ở Việt Nam. Đó là hoạt động mạnh mẽ của các bloggers, các trang web độc lập trong nước, những người chuyển thông tin nhanh nhất từ mọi sự kiện diễn ra hàng ngày trước sự im lặng của báo chí nhà nước và sự kiểm duyệt của chế độ.

Tiên phong trong các hoạt động truyền thông có nhiều ảnh hưởng trước hết phải kể đến các trang weblogs và websites Dân Làm Báo, Nguyễn Xuân Diện, Mẹ Nấm, Anh Ba Sàm, Bauxite Việt Nam, Đàn Chim Việt, Dân Luận, v.v…

Đặc biệt từ thời điểm Cách mạng Mùa Xuân Ả Rập, mạng xã hội Facebook trở nên nóng bỏng và sôi động trong cộng đồng mạng Việt Nam. Rất nhiều nhóm trên Facebook với đặc tính và mục đích xã hội khác nhau được thành lập, trong đó có những nhóm nối kết nhau không cần biểu tượng, không tổ chức, không đảng phái, đa dạng về chính kiến, họ đến với nhau khi thấy có cùng ý tưởng, chung lòng yêu nước, và nhiều khi chỉ vì cảm mến nhau về con người hoặc có nhu cầu chia sẻ riêng tư, thông tin. Facebook trở thành phương tiện không thể thiếu và rất phổ cập hiện nay trong sinh hoạt chính trị, xã hội của người Việt. Những ai không sinh hoạt Facebook khó có thể đứng được ở trung tâm các sự kiện diễn ra hàng ngày, không nhất thiết là chính trị.

Hiện tượng trên đây và những liên tưởng tới cách mạng Mùa Xuân Ả rập đã và đang làm nhà cầm quyền Hà Nội lo sợ, thấp thỏm không yên. Cho nên họ sử dụng mọi biện pháp ngăn chặn, phân tán, chia rẽ, đe doạ, khủng bố bất luận vì lý do gì, hoặc cũng không cần tới lý do. Những vụ công an bắt bớ, giam cầm, tịch thu tài sản cá nhân gần đây ở Hà Nội hay Sài Gòn vô cùng ẩu tả, ngang tàng, phi lý, đi ngược cả chính kỷ cương phép tắc của nhà cầm quyền, rồi sau đó thả hoặc đưa đi biệt tăm mà không cần giải thích, xin lỗi, bồi thường danh dự cho nạn nhân, chứng minh điều này. Chỉ cần đi dạo bình thường ở khu vực Hồ Gươm, mang theo latop vào tiệm uống cà phê là đã có thể xảy ra xô xát, bắt giữ. Bất kỳ ở đâu nhà cầm quyền cảm thấy nghi ngờ, bất an cho quyền lực, nơi đó xuất hiện hàng loạt công an và đám sai nha dân phòng cực kỳ vô học.

Tuy nhiên, theo tôi, hậu quả từ sự đàn áp người yêu nước của chính quyền Hà Nội chỉ làm cho tình đoàn kết, đùm bọc yêu thương và sự chia sẻ hoàn toàn tự nhiên, vô điều kiện của họ kết dính mạnh mẽ hơn, rộng lớn hơn mà thôi.

Tôi là người thực tế nên không ảo tưởng về một Việt Nam dân chủ trong thời gian gần. Nhưng tôi tin cái Thiện sẽ thắng cái Ác. Tôi tin trên đất sĩ phu Bắc Hà dù trong bối cảnh chung trí thức mũ ni che tai, cơ hội chủ nghĩa và sự sợ hãi ngự trị, vẫn còn những người có tư tưởng làm thay đổi xã hội.

Và vì thế, tôi hy vọng trong tương lai, trên danh sách thường niên của Time, Foreign Policy hay Forbes rồi sẽ xuất hiện tên họ những blogger hay các nhà hoạt động dân chủ và nhân quyền Việt Nam, gắn với tư tưởng và cuộc cách mạng mà họ là những hạt nhân lãnh đạo, như ở các nước Ả Rập.

* * * * *

Bartosz Węglarczyk – Lê Diễn Đức dịch


Alaa al Aswany – Ai Cập - Ảnh: FP

Các nhà cách mạng Ả Rập chiếm tới 9 vị trí đầu tiên trong danh sách 100 nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất thế giới vào năm 2011 của tạp chí uy tín Foreign Policy. Danh sách chỉ có một người từ Đông Âu.

Danh sách này tất nhiên hoàn toàn chủ quan, và phản ánh một cách nhìn thế giới của Ban biên tập Foreign Policy ở Washington. Đa số trong danh sách gồm các nhân vật có hành động, bài viết hoặc các phát biểu làm thay đổi thế giới năm nay.

Chín vị trí đầu tiền là ex aequo/các cựu lãnh đạo và tác giả của Cách Mạng Mùa Xuân Ả Rập:

Alaa al Aswany - nha sĩ Ai Cập, tác giả cuốn tiểu thuyết “Ngôi nhà của Jacob” bị cấm lưu hành năm 2006, mô tả sự tan rã của xã hội Ai Cập dưới sự cai trị của nhà độc tài Hosni Mubarak (đã bị lật đổ). Al Aswany là một trong những nhà lãnh đạo của cuộc cách mạng Ai Cập. Năm 2008, trong cuộc phỏng vấn với nhật báo Ba Lan Gazeta Wyborcza ông nói: “Chế độ độc tài là sự nguyền rủa, bệnh hoạn của chúng tôi, nó lần lượt giết chết tất cả các quốc gia Ả Rập. Khủng hoảng kinh tế, vi phạm nhân quyền mới chỉ là những triệu chứng của căn bệnh này”;

Mohamed el-Baradei – người Ai Cập, cựu giám đốc Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế, một trong những nhà lãnh đạo của cuộc cách mạng Ai Cập, (Giải Nobel Hoà Bình 2005 – ND) ứng cử viên tổng thống của Ai Cập;

Wael Ghonim - nhân viên tập đoàn tin học Google tại Ai Cập, tác giả của trang Facebook với những thông tin dành cho các nhà cách mạng, một trong những nhà lãnh đạo cuộc biểu tình ở quảng trường Tahrir ở Cairo. (Wael Ghonim dứng đầu bảng danh sách 100 người có ảnh hưởng nhất thế giới na9m 2011của Time – ND);

Ali Ferzat – hoạ sĩ vẽ tranh biếm họa nổi tiếng của Syria, nạn nhân trong nhiều năm của chế độ, bị đánh đập trọng thương bởi “những kẻ giấu mặt” (rất giống tình trạng ở Việt Nam – ND) sau khi lên tiếng hỗ trợ trào lưu cách mạng Mùa Xuân Các Dân Tộc tại Syria;

Razan Zaitouneh - luật sư người Syria và là nhà hoạt động nhân quyền, tác giả của trang web thu thập thông tin về vi phạm nhân quyền của chế độ Syria;

Ghannuczi Rashid - người sáng lập đảng phái Hồi giáo ôn hoà al-Nahda, một đảng đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên ở Tunisia (hôm 23/10/2011 – ND) sau sự sụp đổ của chế độ độc tài ở đây. Ghannuczi trở về Tunisia từ London sau 22 năm lưu vong bắt buộc để đứng ở hàng đầu trong cuộc cách mạng Mùa Xuân Các Dân Tộc ở Tunisia;

Chairat el-Szater – nhà chiến lược của Brotherhood Hồi giáo Ai Cập (thường được gọi theo tiếng Việt là tổ chức Huynh đệ Hồi Giáo – ND). Ông bị cầm tù nhiều năm trong chế độ Mubarak. Sau chiến thắng của cuộc cách mạng Ai Cập, ông đã viết trên tờ The Guardian: “Đừng sợ Brotherhood, chúng tôi tôn trọng quyền của tất cả các nhóm chính trị và tôn giáo”;

Tawakkul Karman – nữ nhà báo và là nhà hoạt động nhân quyền tại Yemen, người đã lãnh đạo phong trào dân chủ tại quốc gia này, một trong ba người đoạt Giải Nobel Hòa bình năm nay;

Wadah Khanfar – người Palestine sinh tại Israel, cho đến tháng 9 năm nay là người đứng đầu đài truyền hình Al-Jazeera, được coi là cơ quan truyền thông chuyển tại thông tin tốt nhất về các vấn đề của cuộc cách mạng Mùa Xuân Các Dân Tộc trên các nước Ả Rập.

Manal al-Sharif – Nữ lập trình viên người Ả Rập Saudi nhiều năm tranh đấu cho quyền phụ nữ ở Ả Rập Saudi. Trong tháng 5 năm 2011, trên YouTube xuất hiện video cho thấy Manal vi phạm luật giao thông trong khi lái xe và cô đã bị bắt vào ngày hôm sau (một lý do thường gặp mà công an Việt Nam sử dụng để bắt giữ người yêu nước – ND);

Eman Al Nafdżan – nhà hoạt động nhân quyền của Ả Rập Saudi, tác giả của blog nổi tiếng về quyền của phụ nữ với tên Saudiwoman’s Weblog;

Fathi Terbil - luật sư và nhà hoạt động nhân quyền của Libya, người đã tranh đấu để khám phá sự thật về vụ thảm sát tại nhà tù Abu Salim (dưới thời cai trị của Gaddafi – ND);

Đóng lại 9 vị trí đầu tiên cùng mười mấy nhân vật đứng đầu trong cuộc cách mạng Mùa Xuân Các Dân Tộc trên các quốc gia Ả Rập là hai nhà sáng tạo chính trị hiện đại với lý thuyết về cách mạng bất bạo động (non-violence) mà người ta đã lấy làm cơ sở hành động ở Tunisia và Ai Cập.

Gene Sharp, giáo sư đại học 83-tuổi, ở Boston, Hoa Kỳ, tác giả xuất bản lần đầu tiên vào năm 1973 cuốn sách “Đấu tranh bất bạo động” (và sau đó cuốn cẩm nang “Từ độc tài đến dân chủ” – ND).

Srdjan Popovic, một trong những người sáng lập tổ chức sinh viên tại Serbia (thuộc Nam Tư cũ – ND) “Otpor” (Nắm Đấm), thành luỹ các cuộc biểu tình chống lại chế độ độc tài của Slobodan Milosevic. Sau khi lật đổ chế độ, các nhà hoạt động Serbia của “Otpor” làm cố vấn huấn luyện phong trào dân chủ ở nhiều nước.

Ở vị trí thứ 10, cũng là ex aequo, ba người không có gì chung với cách mạng Mùa Xuân Các Dân Tộc của các nước Ả Rập. Dành cho cuộc chiến chống khủng hoảng kinh tế, Foreign Policy chọn những người đứng đầu ngân hàng trung ương của Hoa Kỳ, Trung Quốc và Liên minh Âu châu: Ben Bernanke (hạng 8 trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất thế giới 2011 của Fobers – ND),Chu Tiểu XuyênJena-Claude Trichet.

Vị trí thứ 11 thuộc về chính trị gia đầu tiên chuyên nghiệp Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama (vị trí số 1 trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất thế giới 2011 của FobersND). Sau ông là cựu Phó Tổng thống Hoa Kỳ Dick Cheney, và người đứng đầu ngoại giao Hoa Kỳ (trong hai nhiệm kỳ của Tổng thống W. George Bush – ND) Condie Rice - Hai người này được Foreign Policy nhận định là “đã tạo ra một thế giới mà chúng ta đang sống”. Và Cheney, Rice đã xuất bản trong năm nay những cuốn hồi ký được rất thảo luận rộng rãi một cách kỳ lạ.

Nằm ở hạng 17 là những người đầu tiên của các phương tiện truyền thông mới (không tính Wael Ghonim của Google): Jack Dorsey nhà sáng lập Twitter và Mark Zukerberg nhà sáng lập Facebook (Nhân vật năm 2010 của Time; hạng 6 trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất thế giới 2011 của Time, và hạng 9 của Fobers – ND). Cả hai, vì “đã thay đổi cách mà chúng ta làm hầu như tất cả mọi thứ, bao gồm cả lật đổ các chế độ độc tài”.

Hạng 18 thuộc về nghệ sĩ Trung Quốc Ngải Vị Vị. Cũng giống như Ali Ferzat của Syria, Ngải Vị Vị đã được vinh danh về các hoạt động đối lập với chế độ cầm quyền trong nước (và bị quy chụp tội trốn thuế giống như với blogger Điều Cày Nguyễn Văn Hải – ND).

Vị trí 24 dành cho ba tác giả của chiến dịch chống tham nhũng ở các quốc gia của mình: Sami Ben Gharbia người Tunisia;Daniel Domscheit-Berg, một người Đức tị nạn vốn từ Wikileaks, người đã cáo buộc Julian Assange làm chính trị và cao ngạo; và Alexei Navalny người Nga. Navalny đã tạo ra trang web chuyên theo dõi tham nhũng trong hàng ngũ quan chức Nga. Chân dung của ông đã được đăng trên một công báo một năm trước đây. Alexei Navalny là đại diện duy nhất của Trung và Đông Âu trong danh sách của Foreign Policy năm nay.

Bản Việt ngữ © Lê Diễn Đức

—————————————————

Chú thích của người dịch:

*Danh sách 100 nhân vật có tư tưởng làm thay đổi thế giới năm 2011 của Foreign Policy:
http://www.foreignpolicy.com/articles/2011/11/28/the_fp_top_100_global_thinkers?page=full

*Danh sách 100 người có ảnh hưởng nhất thế giới 2011 của Forbes:
http://www.forbes.com/powerful-people/list

* Danh sách 100 người có ảnh hưởng nhất thế giới 2011 của Time:
http://www.time.com/time/specials/packages/completelist/0,29569,2066367,00.html

* Bài được dịch từ nhật báo Ba Lan Gazeta Wyborcza ngày 28/11/2011 tại link:
http://wyborcza.pl/1,75477,10722607,Oto_stu_ludzi__ktorych_myslenie_zmienia_swiat.html

Tài liệu nội bộ ĐCSVN: Làm sao để tránh Dân chủ và giữ quyền lợi cho đảng mãi mãi

Nguyễn Tâm Bảo

Đây là một tài liệu tối mật vừa được chuyển ra hải ngoại

LTS.- Đây là một tài liệu tối mật vừa được chuyển ra hải ngoại. Những điều viết trong tài liệu này đã được CSVG áp dụng thi hành trong và ngoài nước từ 33 năm nay và tại miền Bắc từ năm 1954. Rất mong các cộng đồng người tỵ nạn khắp nơi tại hải ngoại nghiên cứu để tìm cách bẻ gãy nghị quyết 36 của VGCS. Đặc biệt với người Việt Nam trong nước đang tranh đấu cho dân chủ tự do cho quê hương nên học hỏi thêm để tìm cách tránh né những mưu mô gian xảo của nhóm Việt Gian bán nước này.

***********

Thưa các đồng chí,

Đảng quang vinh của chúng ta muốn tồn tại và phát triển, giữ vai trò là đảng tiên phong và duy nhất lãnh đạo đất nước, thì có mấy mục tiêu quan trọng sau đây phải được quan tâm đúng mức:

1. Phải làm cho dân chúng vừa yêu vừa sợ.
Nếu không thể làm cho người dân yêu mến – điều mà tôi e là sự thật cay đắng cần chấp nhận – thì cũng phải tuyệt đối duy trì nỗi sợ hãi để họ không bao giờ có đủ ý chí mà nổi loạn.

2. Phải giữ cho cái gọi là “phong trào dân chủ đối lập” không thể trở thành phong trào đúng nghĩa, không thể bén rễ và lan rộng.
Phải làm sao để nó chỉ là hoạt động manh mún, rời rạc, tự phát của các cá nhân đơn lẻ; làm cho có nhiều “lãnh tụ” mà ít hoặc không có quần chúng; có nhiều “nhân sĩ trí thức” mà ít hoặc không có một tổ chức nào có thực lực; có nhiều những hoạt động lãng mạn hời hợt có tính phô trương – mà người dân có biết đến cũng chỉ mỉm cười ý nhị –chứ ít hoặc không có những hoạt động thiết thực có tầm mức ảnh hưởng sâu rộng đến xã hội; có thật nhiều những hoạt động “chống cộng cực đoan” có tính chất phá hoại từ bên trong, gây phản cảm đối với người dân lao động, thậm chí làm cho những gia đình cách mạng và đội ngũ cựu chiến binh phẫn nộ…
Tóm lại, phải làm cho người dân nếu không quay lưng thì cũng thờ ơ với cái gọi là “đấu tranh dân chủ”. Cụ thể như thế nào thì tôi đã có dịp trình bày..

3. Phải chủ động trong việc nâng cao dân trí để làm bàn đạp mà phát triển kinh tế, nhưng lại phải lèo lái để “dân trí cao” không đồng nghĩa với “ý thức dân chủ cao”.
Phải làm sao để chất lượng giáo dục bậc đại học được cải thiện nhưng đa số sinh viên phải trở nên thực dụng hơn, có tinh thần “entrepreneurship” – khao khát tiền bạc và công danh, mạo hiểm và sáng tạo trong kinh doanh, cầu tiến trong sự nghiệp riêng, tôn thờ Bill Gates và chủ nghĩa tiêu thụ – nhưng đồng thời cũng tuyệt đối thờ ơ với những lý tưởng và hoài bão cải biến xã hội, xa lạ với những tư tưởng trừu tượng viễn vông, tìm kiếm những giải pháp cá nhân thay cho ý thức công dân, và đặc biệt là tránh xa âm mưu thay đổi chế độ.

4. Phải chủ động trong việc mở rộng xã hội dân sự, thuần phục và trung hòa giai cấp trung lưu đang lớn mạnh (gọi là “co-optation” )…
Làm sao để trong mỗi tổ chức dân sự đều có chân rết của ta. Các tổ chức trung gian như mặt trận Tổ quốc, công đoàn, hội phụ nữ, các hội cựu chiến binh, các câu lạc bộ hưu trí… phải phát huy vai trò tối đa trong việc trung hòa những nhân tố nguy hiểm, điều hòa những xung đột nếu có giữa nhà nước và xã hội, giảm thiểu sự bất mãn của dân chúng…
Làm sao để xã hội dân sự vẫn được mở rộng nhưng theo hướng có kiểm soát của chúng ta, chứ không trở thành mối đe dọa.
Quan trọng hơn cả là chúng ta phải tiếp tục nuôi dưỡng nỗi sợ hãi –dù chỉ là nỗi sợ mơ hồ trong tiềm thức – nhưng đồng thời cũng không để cho nhân dân cảm thấy tuyệt vọng. Cho dù người dân có bất mãn về chuyện này chuyện kia thì vẫn làm cho họ nuôi hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn. Và phải làm điều này một cách hết sức tinh vi, kiên nhẫn, đôi lúc phải can đảm cắt bỏ những khối u trong đảng để làm nguội bớt nỗi tức giận của nhân dân.

Trong trường hợp này thì việc thả Nguyễn Việt Tiến và việc bắt giam hai nhà báo là sai lầm. Lẽ ra chúng ta phải không tiếc một số ít các đồng chí tham lam quá mức, biến họ thành dê tế thần để giành lại niềm tin của nhân dân, hoặc ít nhất cũng làm họ giảm bất mãn, trong nỗ lực chống tham nhũng của chúng ta.

Một người bất mãn cực độ là một người nguy hiểm. Một người tuyệt vọng đôi khi còn nguy hiểm hơn. Một người lạc quan, nhiều hy vọng, thì thường cũng là một người dễ bảo, yêu chuộng sự ổn định và do đó không có ý định phản kháng.

Chúng ta phải biết dùng mồi để nhử, đánh vào thói tham lam ích kỷ lẫn thói háo danh của người đời, vừa phải làm sao để tinh thần thực dụng và chủ nghĩa mánh mung chụp giật trở thành bản tính của dân tộc – vốn đã rã rời về ý chí, tan vỡ về niềm tin, chán ngán các loại ý thức hệ; nhưng đồng thời cũng phải chuẩn bị sẵn những cái van để dân chúng có chỗ giải tỏa uẩn ức.

Tuyệt đối không để sự bất mãn trong xã hội tích tụ lại vượt quá ngưỡng kiểm soát của chúng ta. Kiên quyết tiêu diệt mọi mầm mống có khả năng dẫn đến các loại hoạt động đối kháng có tổ chức, có sự phối hợp rộng rãi; tuyệt đối ngăn chặn khả năng huy động được đông đảo quần chúng tham gia.

Chúng ta phải nghiên cứu tất cả những tư tưởng gia vĩ đại trong việc chiếm đoạt quyền lực và duy trì vị trí độc tôn, từ Tôn Tử, Ngô Khởi, Trương Tử Phòng, Lý Tư… và Mao Trạch Đông ở phương Đông, cho đến Machiavelli – tác giả cuốn cẩm nang “The Prince” nổi tiếng ở phương Tây, thậm chí cả Napoleon, Hitler, Stalin… hoặc Hugo Chavez thời nay. Tất cả đều có những điều rất đáng để chúng ta học hỏi, từ nghệ thuật mị dân cho đến những thủ đoạn cứng – mềm linh hoạt trong việc đối phó với địch, và cả những sai lầm chiến thuật của các vị này.

Phải làm sao để chúng ta vẫn trấn áp được đối lập dân chủ, nhưng vẫn không làm sứt mẻ quan hệ ngoại giao đang ngày một tốt hơn với Hoa Kỳ và phương Tây – vốn là những kẻ đạo đức giả, duy lợi và thực dụng nhưng thích rao bán tấm áo “dân chủ tự do” cùng với những khẩu hiệu cao đẹp khác.

Tuy nhiên, chúng ta cần phải khái quát những luận điểm của Machiavelli để có thể áp dụng cho một chế độ, một đảng phái có cơ cấu phức tạp, chứ không phải là một nhà độc tài quân phiệt giản đơn.
Một nhà độc tài dù tàn độc đến đâu, ranh ma đến đâu, thì cũng chỉ là một kim tự tháp trên sa mạc, tĩnh lặng và không tiến hóa – nên trước sau cũng sẽ để lộ sơ hở chết người. Nhưng một đảng chuyên quyền thì luôn luôn biến động, thay đổi và lớn lên không ngừng; biết bù đắp khiếm khuyết, che dấu yếu điểm, phô trương sức mạnh một cách vô cùng linh động… và đặc biệt có đủ tài lực và nhân lực để lan tỏa chân rết đến mọi ngõ ngách của xã hội, kiểm soát cả dạ dày lẫn linh hồn của nhân dân.

Bác Hồ (hay có thể là bác Lê Nin ) đã dạy: người cách mạng phải không ngừng học hỏi, học từ nhân dân và học từ kẻ địch; phải không ngừng tiến hóa về mặt tư duy lẫn thủ đoạn để sống sót mà vươn lên trong bất cứ hoàn cảnh nào; phải luôn uyển chuyển và linh động để sẵn sàng thay máu đổi màu khi cần thiết, thậm chí sẵn sàng đào thải cả những đồng chí quá tham lam và ngu dốt có hại đến lợi ích chung của đảng. Đối với địch thủ thì phải thiên biến vạn hóa, ranh ma tàn độc đủ cả… và đặc biệt phải biết dùng hình nộm kết hợp với thủ đoạn đấu bò tót kiểu Tây Ban Nha để thu hút ám khí và sừng bò của đối thủ.
Trong lúc đối thủ tiêu hao lực lượng vì đánh vào những hình nộm rơm, hoặc phung phí thời gian và sức lực vào những mục tiêu viễn vông, thì chúng ta lạnh lùng quan sát, phân tích thấu đáo địch tình, ra đòn bất ngờ và hợp lý để địch chết không kịp ngáp.

Đặc biệt chúng ta ngầm khuyến khích những hành động tự sát theo kiểu “không thành công cũng thành nhân” – tất nhiên là phế nhân. Chúng ta cũng phải biết lắng nghe những phê phán của địch thủ mà thay đổi cho thích hợp. Kẻ đối địch luôn có những bài học quí giá mà chỉ có những người bản lĩnh và khôn ngoan mới nhìn ra.

Nếu kẻ địch lãng mạn viễn vông với những khẩu hiệu trừu tượng như “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do” … thì chúng ta phải thực tế với những tiêu chí cụ thể như “ổn định xã hội”, “tăng trưởng kinh tế”, “xóa đói giảm nghèo”

Nếu kẻ địch hô hào những điều khó hiểu du nhập từ phương Tây như “đa nguyên”, “đa đảng”, “pháp trị”, “khai phóng”… thì chúng ta phải tích cực cổ vũ mô hình Nhân Trị của đấng Minh Quân – nhưng ở đây Minh Quân phải được hiểu là đảng cộng sản – cũng như đề cao những “giá trị Á châu” một cách khéo léo.

Phát Huy dân chủ cơ sở – tập trung
Chúng ta cũng phải phát huy “dân chủ cơ sở”, “dân chủ tập trung”, “dân chủ trong đảng”… để làm sao cho dân thấy đảng không phải là cái gì đó cao xa vời vợi, mà đảng cũng là dân, ở ngay trong dân, từ dân mà ra, đã và đang đồng hành cùng với dân.
Phải cho dân thấy là nếu đảng có xe hơi thì dân cũng có hon đa – chứ không phải đi bộ; nếu đảng có đô la thì dân cũng có tiền in hình Bác đủ tiêu xài – chứ không quá túng thiếu; nếu đảng có cao lương mỹ vị thì dân cũng có gạo ăn – không chết đói mà còn dư thừa để đem xuất khẩu.

Đặc biệt là phải tích cực tuyên truyền và giải thích để người dân hiểu được ý nghĩa của “dân chủ” theo cách có lợi cho chúng ta: “dân chủ” nghĩa là đảng luôn lắng nghe dân, phản ánh ý nguyện của dân (phần nào thôi) qua những chính sách vĩ mô và vi mô, thỏa mãn niềm tự ái của dân vì được dạy dỗ đảng, cũng như kích thích lòng tự hào dân tộc của dân để hướng nó vào những kẻ thù mơ hồ dấu mặt ở bên ngoài.

Đối thủ của chúng ta thường lãng mạn và nhiều nhiệt tình nhưng ít chịu học hỏi, hoặc nếu có học thì chỉ qua quýt đủ để thuộc lòng những khẩu hiệu trừu tượng như “nhân quyền”, “dân chủ”… rồi nhai đi nhai lại làm dân chúng phát nhàm. Nói chung, đối thủ của chúng ta thường chỉ biết đến một số cuốn cẩm nang về dân chủ có ngôn từ rất kêu, rất đẹp, nhưng nghèo nàn về phương pháp thực tế, lẫn lộn giữa cứu cánh và phương tiện.
Ngược lại, chúng ta cần phải tích cực nghiên cứu sâu sắc những trước tác của các học giả phương Tây về khoa học chính trị và kinh tế học. Chúng ta phải nhận thức được đã có rất nhiều những nghiên cứu khoa học về mối quan hệ biện chứng giữa “thể chế chính trị” và “phát triển kinh tế”.

Hai phạm trù “dân chủ” và “phát triển” có quan hệ hết sức phức tạp, phi tuyến, chứ không phải là quan hệ nhân – quả. Nghiên cứu kỹ về vấn đề này sẽ rất có lợi cho chúng ta trong việc chủ động phát triển kinh tế mà không cần phải “dân chủ hóa”.
Chúng ta cũng phải nhìn nhận một thực tế là: phát triển kinh tế làm phát sinh một số yếu tố hiểm nguy cho chế độ. Tuy nhiên, điều này còn tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể, tùy thuộc vào khả năng “tháo ngòi nổ” của chúng ta, cũng như khả năng khai thác những yếu tố hiểm nguy này của đối lập dân chủ.

Chẳng hạn, học giả Daron Acemoglu của đại học MIT danh tiếng đã có nhiều phân tích về “nguồn gốc kinh tế của các chế độ độc tài và dân chủ”. Trong đó ông đã chỉ ra rằng phát triển kinh tế kèm theo việc phân bố của cải vật chất một cách tương đối công bằng, đồng thời với việc nới lỏng một cách chừng mực những tự do dân sự, thì bất mãn của xã hội sẽ không quá cao, do đó hoàn toàn có thể duy trì chế độ độc tài mà vẫn thúc đẩy kinh tế phát triển. Đó là trường hợp của Singapore, điển hình của một nhà nước độc tài sáng suốt.

Một ví dụ nữa là những nghiên cứu của Bruce Bueno de Mesquita, đã chỉ ra cho chúng ta những kinh nghiệm quí báu trong việc đàn áp cái gọi là “coordination goods”, tức là những yếu tố vốn không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, nhưng nếu được vận dụng bởi đối lập dân chủ thì lại trở thành những vũ khí đáng sợ. Đó là nghệ thuật “đàn áp có chọn lọc” mà tôi đã có dịp phân tích.

Giới trẻ và sinh viên học sinh
Một kết quả bất ngờ mà theo tôi cũng là một kinh nghiệm quí trên mặt trận tuyên truyền nhồi sọ: việc chúng ta bắt ép sinh viên phải học tập chủ nghĩa Marx – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã đem lại những kết quả ngoài mong ước.
Thành công của chúng ta không phải đã đạt được mục đích ban đầu là làm cho thế hệ trẻ tôn thờ thứ chủ nghĩa mà ngay cả chúng ta cũng không tin. Ngược lại, thành công của chúng ta là đã làm cho thế hệ trẻ chán ngán đến tận cổ khi phải học mãi một thứ ý thức hệ lỗi thời, bịnh ồi nhét đến phản cảm những tư tưởng cũ kỹ. Nhờ vậy chúng ta đã đào tạo ra một thế hệ trẻ thờ ơ vô cảm với tất cả các loại tư tưởng và ý thức hệ, chai sạn với lý tưởng và hoài bão mà thanh niên thường có, trở nên thực dụng và ích kỷ hơn bao giờ hết.

Thế hệ trẻ hôm nay, ngoài cái đức tính thực dụng và tinh thần chụp giật, cũng như niềm khao khát tiền bạc, công danh, ám ảnh bởi chủ nghĩa hưởng thụ, thì chỉ còn le lói “tinh thần dân tộc” vẫn còn sót lại trong máu huyết của mỗi người Việt.
Đây là con dao hai lưỡi, là con giao long đang nằm yên, mà chúng ta cần phải biết lèo lái một cách khôn ngoan để không xảy ra một tiểu Thiên An Môn ở Ba Đình.
Dưới chế độ chuyên chế nào cũng vậy, sinh viên và trí thức trẻ luôn luôn là những kẻ nguy hiểm nhất, là ngòi nổ của quả bom, là kíp mìn hẹn giờ, là hạt nhân của các phong trào đấu tranh. Các cuộc cách mạng nhằm lật đổ chế độ độc tài bao giờ cũng do sinh viên và trí thức dẫn đầu; công nhân, nông dân, và các tầng lớp lao động khác chỉ là sức mạnh cơ bắp. Chỉ có trí thức và sinh viên mới đủ lý luận để huy động được đông đảo quần chúng, mới có lý tưởng để dấn thân, và mới có khả năng tổ chức và phối hợp.

Triệt tiêu được những phong trào sinh viên, cô lập được những trí thức phản kháng, chính là đánh vào đầu não chỉ huy của địch. Những thứ còn lại như “dân oan biểu tình”, “công nhân đình công”… chỉ là cơ bắp của một cơ thể đã bị liệt não.
Như trên đã nói, chúng ta đã thành công trong việc làm cho sinh viên trở nên lãnh cảm về các loại ý thức hệ, thờ ơ với những tư tưởng tự do khai phóng từ phương Tây. Chúng ta chỉ còn phải đối phó với tinh thần dân tộc của sinh viên đang có nguy cơ thức dậy, mục đích là để nó ngủ yên, nếu không phải lèo lái nó theo hướng có lợi cho chúng ta.

Trí thức
* Đối với tầng lớp trí thức, những biện pháp “vừa trấn áp vừa vuốt ve” từ xưa đến nay đã đem lại kết quả khả quan. Chúng ta đã duy trì được một tầng lớp trí thức hèn nhát, háo danh, và nếu không quá ngu dốt thiển cận thì cũng chỉ được trang bị bởi những kiến thức chắp vá, hổ lốn, lỗi thời.

* Nói chung, đa số trí thức của chúng ta đều hèn, đều biết phục tùng theo đúng tinh thần “phò chính thống” của sĩ phu xưa nay. Phần lớn những kẻ được coi là trí thức cũng mang nặng cái mặc cảm của việc học không đến nơi đến chốn, ít có khả năng sáng tạo, và so với trí thức phương Tây về cả tri thức lẫn dũng khí đều cách xa một trời một vực.

* Trí thức của chúng ta vẫn mãi mãi giữ thân phận học trò, kiểu sĩ hoạn mơ ước được phò minh chủ, hanh thông trên đường hoạn lộ, chứ không bao giờ vươn lên thành những nhà tư tưởng lỗi lạc.

* Tầm mức ảnh hưởng của trí thức đến xã hội không đáng kể, không dành được sự kính trọng từ các tầng lớp nhân dân, thậm chí còn bị người đời khinh bỉ bởi sự vô liêm sỉ và thói quen ném rác vào mặt nhau.

* Chỉ có một số ít trí thức vượt qua được cái vỏ ốc hèn nhát, nhưng thường là quá đà trở nên kiêu ngạo tự mãn, coi mình như núi cao sông sâu, là lương tâm thời đại. Những người này quả thật có dũng khí, nhưng cũng không đáng sợ lắm bởi đa phần đều có tâm mà không có tài, có đởm lược mà ít kiến thức.

* Đa phần trong số này cũng chỉ đến khi về hưu mới thu gom được dũng khí mà ra mặt đối đầu với chúng ta, do đó sức cũng đã tàn, lực cũng đã kiệt. Một số ít trẻ trung hơn, nhiệt huyết còn phương cương, thì lại chưa có kinh nghiệm trường đời, chưa được trang bị lý luận chu đáo, chưa có kiến thức về dân chủ sâu rộng. Với những kẻ này chúng ta đàn áp không nương tay, bỏ tù từ 3 đến 7 năm. Đó là phương cách giết gà từ trong trứng.

Thử tưởng tượng xem một tài năng trẻ phải thui chột những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời trong lao tù, cách ly với môi trường học vấn, gặm nhấm nỗi cô đơn thay cho việc học hành nghiên cứu, thì sao có thể phát triển hết khả năng? Khi ra tù thì cũng đã quá tuổi trung niên, mệt mỏi, chán chường. Nếu vẫn còn dũng khí thì cũng đã tụt hậu về kiến thức, bị trì néo bởi gánh nặng gia đình, còn làm gì được nữa?
Với những phân tích như trên tôi cho rằng chế độ của chúng ta vẫn còn bền vững ít nhất thêm hai mươi năm nữa. Nhưng thời thế đổi thay. Chúng ta không thể kiêu ngạo mà tin rằng sẽ trường tồn vĩnh viễn.

Chúng ta luôn học hỏi và thay đổi để sống còn và vươn lên, nhưng cũng nên biết rằng đối thủ của chúng ta có lẽ cũng không quá ngu ngốc.
Nếu kẻ địch cũng nhìn ra được mạnh – yếu của chúng ta, cũng biết tự đổi thay để thích nghi, cũng biết học cách đấu tranh có phương pháp, có tổ chức, có chiến lược… thì chuyện gì sẽ xảy ra sau hai mươi năm nữa thật khó mà biết được.

Đó là một cuộc đua đường trường mà kẻ nào dai sức hơn, bền chí hơn, khôn ngoan hơn, thì sẽ đến đích trước.
Chúc các đồng chí chân cứng đá mềm và luôn nhớ lời dạy của Hồ Chủ Tịch: “khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.
Báo cáo trong cuộc họp mặt kiều vận

Nhà nguyện Giáo Điểm Con Cuông bị tấn công bằng chất nổ

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
Vào lúc 0 giờ 26 phút rạng sáng hôm qua, 30 tháng 11 nhà nguyện Giáo Điểm Con Cuông thuộc Giáo xứ Quan Lãng, Hạt Bột Đà, thuộc Giáo phận Vinh đã bị tấn công bằng chất nổ.


Source giaophanvinh.net. Quả mìn tự chế đã làm hỏng trần nhà, cửa sổ và nền nhà nguyện. Source giaophanvinh.net

Soeur Anna Nguyễn Thị Minh đang phục vụ tại Giáo điểm Con Cuông cho chúng tôi biết vụ việc như sau:
“Con là Anna Nguyễn Thị Minh, tối hôm nay vào lúc 0 giờ 26 phút họ ném mìn vào nhưng không trúng trong nhà mà nó nổ trên thềm, ngay bậc tam cấp của thềm chứ chưa vào nhà. Công an tỉnh đã lên đây làm việc khi sáng tới giờ với cha xứ. Các người trong nhà thờ chưa biết gì về buổi làm việc này. Khi vụ nổ xảy ra lúc đó trong nhà có hai chị em ngủ trong nhà thôi ngoài ra không có ai cả.

Vế hư hại thì chỉ có một lỗ ngay chỗ thềm, nó bị thủng lỗ chỗ ấy thôi. Còn nhà thì trên trần nhà bị sạt mất một số gỗ thôi còn nhà thì nguyên vẹn không bị gì hết. Đồ đạc trong nhà cũng không bể hay thiệt hại gì cả.”

Linh mục Giuse Phạm Ngọc Quang chánh xứ Quang Lãng cho chúng tôi biết những gì mà linh mục và công an tỉnh Nghệ An làm việc trưa ngày 1 tháng 12 sau khi vụ nổ xảy ra:

Theo những suy nghĩ bình thường thì đó là những xâu chuỗi các hành động bạo lực leo thang trong việc kỳ thị tôn giáo. Ai là người đứng đằng sau thì điều này đang đặt dấu hỏi.

LM.Phạm Ngọc Quang

“Vào lúc trưa hôm nay thì công an tỉnh, tổ điều tra của tỉnh có lên. Họ điều tra, xem xét hiện trường và xác định rằng có mìn nổ như vậy. Họ có thấy một số kíp mìn. Họ chụp ảnh hiện trường tại nhà giáo dục truyền giáo, nhà sinh hoạt tôn giáo, và họ dừng lại ở mức đó.
Theo những suy nghĩ bình thường thì đó là những xâu chuỗi các hành động bạo lực leo thang trong việc kỳ thị tôn giáo. Ai là người đứng đằng sau thì điều này đang đặt dấu hỏi. Tôi có nói với ban điều tra vụ nổ rằng nếu như chính quyền Huyện Con Cuông mà đứng đằng sau thì chính quyền phải hoàn toàn trách nhiệm. Yêu cầu ban điều tra của tỉnh phải làm đúng lương tâm. Tôi cũng đã nói với chính quyền rằng tự do tôn giáo là cái quyền của mỗi công dân. Tin hay không tin vào tôn giáo nào. Họ được hưởng tất cả những quyền lợi theo hiến pháp và pháp luật Việt Nam.

Tôi có nói với ban điều tra vụ nổ rằng nếu như chính quyền Huyện Con Cuông mà đứng đằng sau thì chính quyền phải hoàn toàn trách nhiệm.

LM.Phạm Ngọc Quang

Một người dân Việt Nam phải được hưởng cái quyền đó bất cứ nơi đâu chứ không phải chỉ dành riêng cho miền xuôi còn miền núi thì không. Tôi yêu cầu tỉnh và huyện phải tạo thuận lợi cho công dân thi hành những nhu cầu tâm linh của họ.”

Được biết trong thời gian gần đây những vụ tấn công, bạo hành đã xảy ra có hệ thống đối với nhiều giáo xứ thuộc giáo phận Vinh. Rất nhiều côn đồ tập trung la hét trước các thánh lễ, đập phá các cơ sở công giáo và chính quyền không có một hành động thiết thực nào ngăn cản. Vụ mới nhất xảy ra vào lúc 2 giờ chiều Chúa Nhật, ngày 13/11/2011 trước đây, hàng trăm người tại huyện Con Cuông, tập trung tấn công nhà nguyện bằng gạch đá và các thứ dơ bẩn trước sự chứng kiến của công an huyện. Thay vì can thiệp, nhà cầm quyền đã dùng loa, gián tiếp kích động đám đông tấn công giáo dân linh mục, đang dâng Thánh lễ tại nhà nguyện này.

Powered By Blogger