Đứng chung đơn với một số nước như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ và Brasil chính quyền VN bênh vực phe chính phủ độc tài rõ rệt qua các bài báo được đăng trên tờ Nhân Dân cơ quan ngôn luận đảng CSVN bằng bài viết như “Quân đội Li-bi đẩy lùi lực lượng đối lập và chiếm lại TP Brê-ga” trong khi đó ông Đào Duy Tiến, Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền nước CHXHCN Việt Nam tại Li-bi đưa lên trang mạng của Sứ Quán Việt Nam tại Li-bi tâm thư ủng hộ chính quyền độc tài Li-bi của chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa M.Ca-đa-phi (Gaddafi) bằng lời cam kết:
“Việt Nam và Li-bi tuy cách xa nhau về địa lý nhưng hai nước luôn ủng hộ và giúp đỡ nhau trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay. Nhờ sự vun đắp của các thế hệ lãnh đạo và nỗ lực của nhân dân hai nước, quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và Li-bi ngày càng được củng cố và phát triển.”
Vào cuối Tháng 8/2011 Hội đồng chuyển tiếp quốc gia Li-bi đã được 68 nước công nhận gồm các quốc gia như Pháp, Anh, Mỹ, Úc, Ý, Tây ban Nha, Nhật, Đức, Canada, Hàn Quốc, Hòa Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Maroko… Còn lại những nước Không hoặc chưa công nhận Chính Phủ Dân Chủ mới của Li-bi gồm có Trung Quốc, Nga và các nước theo đuôi như Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Lào và CuBa …
Việt Nam bị vỡ mặt tại Libya vì theo đuôi Trung Quốc.
Ngày 29 tháng 08/2011, ông Mahmoud Jibril đại diện cho Hội đồng chuyển tiếp quốc gia Li-bi cho biết là sẽ xét lại dự án của các nước đấu thầu vào Li-bi trong đó Trung Quốc có 95 hãng ở Li-bi đa số là Quốc Doanh do nhà nước TQ quản lý, ông cho biết nước Li-bi tự do sẽ ưu tiên cho những nước đã giúp công sức giúp cho nhân dân Li-bi lật đổ chính quyền độc tài M.Ca-đa-phi, các hãng thông tấn lớn như AFP, Reuters đưa ra những lời bình luận là có thể Nga, Trung Quốc cùng các nước bênh vực cho Gaddafi sẽ gặp rắc rối làm ăn với chính phủ mới Li-bi vì các nước nầy đứng đầu trong danh sách phản đối sự trợ giúp cho nhân dân Li-bi đứng lên đòi Dân Chủ .
Ngày 28 tháng 8/2011 nhiều trang báo trong nước loan tin “Đại sứ quán VN tại Libya bị cướp bóc “, tờ Lao Động đưa tin:
“Vụ việc xảy ra vào 16 giờ chiều 27-8 (khoảng 11 giờ theo giờ Libya). Bộ Ngoại giao nhận được thông báo từ Đại sứ quán VN tại Libya báo cáo về việc một nhóm người có vũ trang lợi dụng tình hình lộn xộn tại Tripoili đã xông vào cướp đi một số tài sản của đại sứ quán và của nhân viên.”
Dĩ Nhiên nhân dân Li-bi sẽ không bảo vệ tài sản của các nước chống lại sự tranh đấu Dân Chủ của nhân dân Li-bi cho nên Đại sứ quán VN tại Libya sẽ không được họ bảo vệ là điều không gì ngạc nhiên, hơn nữa trong tương lai, xăng dầu của VN sẽ tăng giá và sự tăng gía nầy sẽ làm cho đời sống người dân VN mất ổn định, ít ai biết là hơn 1/3 tổng số lượng xăng dầu đang sử dụng tại VN được mua gián tiếp từ Libya qua các hãng Trung Quốc.
Lâm Viên
Wednesday, August 31, 2011
Việt Nam sẻ bị rắc rối vói Chính quyền mới tại Libya
Không có tin tức về việc 8 nhà tranh đấu cho nhân quyền bị giam giữ
Từ ngày 30/7 tới 16/8/2011, tám nhà tranh đấu cho nhân quyền đã bị công an và cán bộ của Bộ Công An bắt giam và hiện không có tin tức về nơi họ đang bị giam giữ. Kể từ khi bị bắt không ai biết gì về nơi giam giữ cũng như số phận của họ.
Tin thêm: Những nhà tranh đấu cho nhân quyền đang bị giam giữ có liên hệ đến Dòng Chúa Cứu Thế và đã tích cực trong việc quảng bá và bảo vệ những quyền kinh tế, xã hội và văn hoá tại Việt Nam. Những nhà tranh đấu cho nhân quyền nói trên gần đây đã ký một kiến nghị kêu gọi trả tự do cho Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ, một nhà đấu tranh cho nhân quyền nổi tiếng đã bị kết án 7 năm tù vào Tháng Tư 2011 vì đã kêu gọi dân chủ đa đảng tại Việt Nam. Bản kiến nghị đó cũng chỉ trích Điều 88 của Bộ Luật Hình Sự mà nội dung cấm quyền tự do phát biểu. Vào ngày 16/8/2011, ông Hồ Văn Oanh, một giáo dân tại Yên Hoa, đã bị bắt giam vì đã dính líu tới việc quảng bá nhân quyền tại giáo phận trong Tháng Tư 2011 và đã bị tạm giam khi có ý định tham dự phiên xử Ts Cù Huy Hà Vũ. Vào ngày 7/8/2011, ông Nguyễn Văn Duyệt, Chủ Tịch của Hội Công Nhân Công Giáo bị bắt ở Nghệ An. Vào ngày 3/8/2011, ông Paulus Lê Văn Sơn, một blogger, một nhà tranh đấu cho HIV, và cũng là một ký giả có nhiều bài viết về vấn đề công bằng xã hội tại Việt Nam, đã bị công an bắt ngay trước cửa nhà Ông trên đường Bùi Xương Trạch ở Hà Nội. Công an đã chặn con đường vào nhà Ông khiến Ông ngã xe gắn máy. Sau đó công an đã nhấc bổng tay chân ông Paulus Lê Văn Sơn và quẳng Ông lên xe công an và chở đi mất. Vào ngày 2/8/2011, ông Peter Trần Hữu và ông Đậu Văn Dương, cả hai là sinh viên, đã bị bắt tại nhà ở thành phố Vinh. Ông Peter Trần Hữu gần đây có liên quan tới những cuộc biểu tình bên ngoài đồn công an tại Nghệ An để phản đối việc công an đàn áp sinh viên. Vào ngày 30/7/2011, các ông Đặng Xuân Diệu, Hồ Đức Hoà và Nguyễn Văn Oai đã bị bắt tại phi trường Tân Sơn Nhất ở TP HCM. Vào ngày 2 và 3 Tháng 8, công an đã lục soát nhà của các ông Hồ Đức Hoà và Nguyễn Văn Oai. Các ông Đặng Xuân Diệu và Hồ Đức Hoà hiện rất tích cực trong việc vận động tạo cơ hội được giáo dục cho người nghèo cũng như gìúp đỡ những nạn nhân bão lụt và những người bị khuyết tật. Ông Nguyễn Văn Oai là giáo dân Yên Hoà và tích cực trong việc quảng bá nhân quyền tại giáo phận. Được biết là trong tất cả những cuộc bắt giữ nói trên công an đã không trình trát bắt và việc giam giữ người cũng không được nhà cầm quyền chính thức lập biên bản. Tất cả những nhà tranh đấu cho nhân quyền nói trên đều thuộc giáo phận Vinh, một trong những giáo phận Công Giáo lớn nhất ở Việt Nam, nổi tiếng về việc quảng bá nhân quyền và công bằng xã hội. Các thành viên của giáo phận Vinh lâu nay vẫn bị công an và cán bộ của Bộ Công Vụ liên tục theo dõi và xách nhiễu. Front Line rất lo lắng về sự an toàn thể chất và tinh thần của những nhà tranh đấu cho nhân quyền nói trên, nhất là khi không biết họ đang bị giam giữ ở đâu, làm gia tăng nguy cơ họ bị tra tấn và ngược đãi dưới những hình thức khác nhau. http://www.frontlinedefenders.org/node/15793
Đà Nẵng: Người dân đập nát trụ sở Golden Hills
Thư của Nhà văn Nguyên Ngọc gửi Bí thư Hà Nội Phạm Quang Nghị
Nghề công sai, nghề phước mỏng
Công an quận Hồng Bàng - Hải Phòng làm áp lực gây khó dễ với người yêu nước
----------
Duc H. Vu :
"CAKV không cho phép nhà khách cho nam nữ mà không phải vợ chồng được ở chung phòng."
Đem câu chuyện này ra kể cho bạn bè ở sở làm (Mỹ) nghe, nghe xong chúng trơn tròn mắt thô lố, há hốc mồm ra nói : Are you kidding me Duc ? Is it real in Vietnam ?. Tôi thành khẩn gật đầu nói : YES, It's true 100% happened. Đáng lý tôi không nên kể cho chúng nghe, vì tốt khoe ra xấu xa đậy lại, nhưng đàng này cái NGU và cực kỳ XUẨN ĐỘNG của loài động vật 2 chân quá ư rừng rú mà mọi người quen gọi là "Vi Xi (VC)" đang diễn ra hàng ngày ở trên đất nước Việt Nam tôi
F...k them VC all - they are SO STUPID
Ông Đới Bỉnh Quốc sắp sang Việt Nam
Ông Đới Bỉnh Quốc là nhân vật cao cấp nhất về ngoại giao trong Đảng CS Trung Quốc
Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đơi Bỉnh Quốc sắp sang Việt Nam để chủ trì phiên họp lần thứ năm của Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt-Trung.
Một nguồn đáng tin cậy của BBC cho hay phiên họp này sẽ diễn ra từ 5/9-9/9 tại Hà Nội.
Đồng chủ trì phía Việt Nam là Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân.
Cũng nguồn thạo tin trên, đề nghị dấu danh tính, nói hiện hai bên Việt Nam và Trung Quốc đang nỗ lực giải tỏa bất đồng trước chuyến đi Trung Quốc sắp tới của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Viêt Nam Nguyễn Phú Trọng.
Thời điểm chuyến đi của ông Trọng chưa được công bố chính thức.
Ông Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Trung ương Đảng CS Trung Quốc, là nhân vật cao cấp nhất về ngoại giao trong Đảng và giữ vai trò cố vấn an ninh quốc gia cho Chủ tịch Hồ Cẩm Đào.
Mới đây, một quan chức cao cấp của Việt Nam là Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh cũng đã thăm Bắc Kinh để chủ trì cuôc đối thoại chiến lược quốc phòng-an ninh Việt-Trung cấp thứ trưởng lần hai.
Giữ hòa hiếu
Hoạt động của ông Vịnh tại Trung Quốc, thông qua tường thuật của Thông tấn xã Việt Nam, đã gây bàn tán ở trong nước vì các phát biểu ‘hòa hiếu với Bắc Kinh’ của ông thứ trưởng.
“Các khác biệt cơ bản và nghi ngờ lẫn nhau [giữa Việt Nam và Trung Quốc] vẫn còn, nhưng căng thẳng tức thời đã được giảm bớt.”
Một viên chức ngoại giao ở Bắc Kinh
Ông được dẫn lời nói trong vòng đối thoại với Phó Tổng Tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc Mã Hiểu Thiên: “Nếu Việt Nam cần sự ủng hộ, đồng cảm, hợp tác và phát triển thì còn có ai hơn một nước Trung Quốc xã hội chủ nghĩa láng giềng, … một khi các đồng chí tôn trọng độc lập chủ quyền của Việt Nam và mong muốn Việt Nam cùng phát triển?”
Trung tướng Vịnh cũng được nói đã thông báo với phía Trung Quốc rằng Việt Nam sẽ ‘kiên quyết xử lý vấn đề tụ tập đông người (chống Trung Quốc) ở Việt Nam’, và dứt khoát ‘không để sự việc tái diễn’.
Sau cuộc họp nói trên, một viên chức ngoại giao ở Bắc Kinh nói với báo Hong Kong Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng: “Các khác biệt cơ bản và nghi ngờ lẫn nhau [giữa Việt Nam và Trung Quốc] vẫn còn, nhưng căng thẳng tức thời đã được giảm bớt”.
Ông này nhận xét: “Chúng ta có thể trông đợi tiến bộ trong các lĩnh vực khác và một chuyến thăm suôn sẻ của ông tổng bí thư Đảng CSVN tới Bắc Kinh”.
Nhiều chuyên gia về Việt Nam cũng đồng ý rằng đang có nỗ lực ‘giảm nhiệt’ trong quan hệ Việt-Trung.
Tuần trước Trung Quốc thả một tàu cá của ngư dân Quảng Bình bị kiểm ngư nước này bắt ở khu vực cửa Vịnh Bắc bộ.
Chỉ đạo hợp tác song phương
Tuy nhiên câu hỏi đặt ra là trong khi bất đồng chính yếu còn đó thì làm sao để duy trì được hiện trạng hòa hảo và cùng phát triển.
Đó là thách thức lớn cho tất cả các cuộc họp dù ở cấp nào.
Hiện còn chưa có chi tiết về phiên họp thứ năm của Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt-Trung.
Tuy nhiên mục tiêu chính của ủy ban này từ khi thành lập năm 2006 là “làm tăng thêm sự tin cậy lẫn nhau, thúc đẩy hợp tác nhằm tiến tới một quan hệ hợp tác toàn diện, mạnh mẽ và lâu dài, láng giềng thân thiện, hữu nghị Trung–Việt”.
Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương cũng có nhiệm vụ tăng cường chỉ đạo, điều phối vĩ mô đối với các cơ chế hợp tác hiện hành giữa hai bên, quy hoạch tổng thể quan hệ hai nước trên các lĩnh vực.
Năm 2010, ủy ban này cũng đã họp trong bốn ngày (29/6-3/7) tại Bắc Kinh.
Cuộc họp này đưa ra thống nhất chung, theo báo Việt Nam, là “thời gian tới sẽ đặt trọng tâm đàm phán vào các vấn đề trên biển; duy trì hoà bình, ổn định trên biển; tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực có điều kiện và cùng nhau phấn đấu để cùng với các bên liên quan tìm ra giải pháp cơ bản, lâu dài, cùng chấp nhận được cho vấn đề trên biển”.
Thế nhưng từ đó tới nay tuy đã có thêm hai vòng đàm phán về biên giới trên biển, tiến trình dường như vẫn dậm chân tại chỗ.
BBC
Người Việt: Khó Có Chọn Lựa Khác
Nhà cầm quyền CS Hà nội thống trị và người dân Việt Nam bị trị, cả hai đang rơi vào cái thế khó hay không thể chọn lựa khác được. CS Hà nội bị TC bao vây tứ phía, chỉ còn có cách đi theo TC làm “tự thực dân” (auto-colonialst) với đồng bào và thái thú đối với TC. Còn người dân VN cũng chỉ có một con đường trước phải chống với thù trong là CS Hà nội thông đồng với ngoại xâm là TC.
Thực vậy, Trung Cộng đang bao vây Việt Nam trong gọng kềm.
Tàu chiến Trung Quốc tập trận ngoài Biển Đông tháng 6/2011
Ngoài biển, phía Bắc bằng căn cứ Hải Nam của TC, hàng không mẫu hạm và tàu lặn TC có thể ra vào nhiều chiếc một lượt. TC đã lấy hai đảo Hoàng sa và Trường sa. TC đã lấy lập thành huyện Tam Sa trực thuộc tỉnh Hải Nam. Biển Đông của Việt Nam, TC đã không chế 80% bằng bản đồ hình lưỡi bò. TC căn cứ váo công hàm của Phạm văn Đồng đã thừa nhận. CS Hà nội bây giờ mở miệng thì mắc quai.
Trong đất liền, sau lưng VN, TC đã bọc hậu, đánh bạt ảnh hưởng của chế độ CS Hà nội ra khỏi Miên và Lào là hai nước giáp giới với VN trên bán đảo Đông Dương. Một mặt Trung Cộng phóng tài hoá, viện trợ và họp đồng kinh tế tạo uy lực chánh trị ảnh hưởng ngoại giao Miên và Lào. Như viện trợ cho Miên để Miên trục xuất người Duy Ngô Chỉ từ Tân Cương vượt biên qua Miên. Và chính Thủ Tướng Miên tuyên bố ủng hộ nguyên tắc song phương mà TC chủ trương để giải quyết các tranh chấp ở Biên Đông trong hội nghị ASEAN ở Hà nội.
Nhưng hình thức TC dùng thường và nhiều nhứt là hợp đồng đầu tư, xây dựng, khai thác đủ vốn lời rồi chuyển giao các đập thủy điện cho Miên Lào trên sông Mekong trong việc đánh bạt ảnh hưởng VNCS và Mỹ. Thủ tướng Miên khoe TC đã xây xong 4 đập thủy điện, đang làm một cái mới khởi công đây, giá nửa tỷ Mỹ Kim và 4 cái nữa trong tương lai, tổng cộng 9 cái.
Còn ở Lào nơi CS Hà nội có 80 ngàn quân trong Chiến Tranh VN, TC bây giờ đã đánh bạt VNCS cũng bằng viện trợ và đầu tư và khai thác đất đai như ở Miên. TC mướn đất Lào cả trăm năm. Về đất đai, TC coi Lào là vườn cao su của TC, vuờn trồng cây làm giấy, mỏ xăng dầu của TC. TC khai thác tối đa, trả tiền cho chánh phủ và chở về Tàu. Như Công ty Quốc Doanh Nông Nghiệp của tỉnh Vân Nam mướn 166,700 hectares đất trồng cao su của 4 tình miền Bắc của Lào. Công ty quốc doanh Zhongxing Telecom Equipment mướn 100,000 hectares cũng ở đây. Còn nhiều nữa. Như 2 triệu hectares TC đang bàn bạc mướn trồng cây làm giấy.
Tài nguyên khác như kim loại màu, TC chiếm gần hết, trong đó có việc TC khai thác bauxite của TC
Ngay trên nội địa VN, TC đã mở đường xâm nhập vào bên trong VN. Các hợp đồng TC mướn đất dài hạn của Ủy Ban các tỉnh giáp giới với TC là một hình thức xâm thực êm đềm, Hán hoá từ từ, và giết hại kinh tế VN. Đa số các họp đồng thời hạn mấy chục đến gần một trăm năm thích hợp cho âm mưu trường kỳ vòng vo tam quốc về văn hóa, xã hội trên của người Tàu. Những vùng đất muớn đó còn có tác dụng kinh tế tuồng hàng hoá của TC qua VN giết hại nông nghiệp, kỹ nghệ VN và khi cần thỉ TC có đội quân thứ 5 ở biên giới VN và con đường chuyển quân đã dọn sẵn.
Thế bao vây gọng kềm này của TC nếu còn CS Hà nội thì VN khó mà gỡ. Một, ngoài biển phía đông, Mỹ trở lại Đông Nam Á, nhưng qua tổ chức Asean và vì tự do hàng hải quốc tế, chớ không trực tiếp đá động đến hải đảo và Biển Đông của VN.
Và chính Mỹ cũng rất lệ thuộc kinh tế tài chánh với TC. Quyền lợi của Mỹ với TC quan trọng hơn quyền lợi của Mỹ đối với VN đang còn nằm trong chế độ CS.
Đại để Mỹ chỉ kềm chế nhẹ hành động “bá quyền, bành trướng” của TC, chớ không cam kết riêng gì với CS Hà nội. CS Hà nội không phải là yếu tố then chốt trong chiến lược kềm chế nhẹ TC mà chuyến đi Á châu của TT Obama là tiêu biểu.
Hiện trạng Biển Đông có lợi cho TC. Thời gian cũng có lợi cho TC. Mỹ và TC tương quan nhiều, phải dựa nhau để chia xẻ quyền lợi trên thế giới và trong vùng. Trong đó có thể có việc giải quyết quyền lợi Biển Đong trên đầu trên cổ các nước nhược tiểu như Việt Nam Cộng Hoà thời Chiến Tranh Lạnh khi Mỹ bắt tay với TC.
TC lợi dụng tối đa chiêu bài “đồng chí CS” êm đềm lấn đất, chiếm biển của VN. Đất nước và nhân dân Nam [VN] đang thậm chí nguy. Nguy cơ Trung Cộng biến Việt Nam thành một thuộc địa kiểu mới, thuộc địa khai thác hay thuộc địa di dân, đã quá rõ ràng và lừng lững tiến tới.
Nên CS Hà nội đang cầm quyền đất nước và nhân dân, VN chỉ còn có một con đường là đi với TC để hy vọng được làm tự thực dân đối với đồng bào mình và thái thú trá hình đối với TC.
Và nhân dân VN cũng vậy, không còn sự chọn lựa nào khác, là phải đấu tranh hay chiến đấu với nội thù là CS Hà nội và ngoại xâm là TC. Một cuộc chiến đấu mà người Việt gọi là “châu chấu chống xe”.
Còn CS Hà nội thì không thể huy động nội lực dân tộc, biến tình yêu nước thương nòi thành sức mạnh tổng hợp để chống xâm lăng được. Đó là điều kiện cần và đủ, điều kiện tiên quyết để chống xâm lăng. Thế giới sử đã từng chứng minh, bảo vệ giang sơn tổ quốc, chánh yếu là do lòng dân, sức mạnh của dân nước đó, không có ngoại bang nào làm thay nghĩ thế đuợc.
Còn CS Hà nội, giả sử Mỹ muốn giúp VN, Mỹ cũng không thể giúp được như viện trợ quân sự hay và tác chiến giúp như đồng minh được, vì muốn hay không muốn CS Hà nội vẫn là một chế độ CS,
Còn CS Hà nội, dân chúng muốn chống TC cũng không chống được. Thảm cảnh công an của CS Hà nội trấn áp người dân Việt biểu tình chống TC ở Hà nội cho thấy còn CS Hà nội mà chống TC là giao trứng cho ác.
Vậy người dân Việt chỉ còn có một con đường là giải quyết nội thù trước thì mới chận được ngoại xâm, mới hy vọng dược Thế giới Tự do giúp đỡ.
Tàu sân bay sắp ra mắt của Ấn Độ
| Hàng không mẫu hạm INS Vikramaditya của Ấn Độ. Ảnh: Defenseindustrydaily |
Tên gọi của tàu INS Vikramaditya được dịch nghĩa là “Quả cảm như mặt trời”. Đây thực ra là hàng không mẫu hạm lớp Kiev mang tên gọi Đô đốc Gorshkov, được Ấn Độ mua lại từ Nga vào năm 2004 sau nhiều năm thương thảo. Tàu sân bay INS Vikramaditya hoạt động trong biên chế hải quân Nga từ năm 1987, nhưng không còn được ra khơi sau đó 9 năm vì chi phí vận hành quá lớn.
Theo điều khoản hợp đồng, Ấn Độ được không vỏ tàu INS Vikramaditya. Tuy nhiên, nước này phải trả 800 triệu USD cho việc nâng cấp và làm mới tàu sân bay này, cùng với khoảng 1 tỷ USD nữa cho các máy bay chiến đấu và vũ khí đi kèm.
Hàng không mẫu hạm INS Vikramaditya được đóng trong giai đoạn 1978-1982 tại xưởng đóng tàu Hắc Hải, Mykolaiv, Ukraina. Hiện chiến hạm này đang được làm mới tại xưởng đóng tàu Seymash ở Severodvinsk, Arkhangelsk Oblast, Nga.
Công việc làm mới vỏ tàu kết thúc vào năm 2008 và chiến hạm này đã được hạ thủy trở lại vào ngày 4/8/2008. Khoảng 99% phần kết cấu và gần 50% của một số đầu việc khác đã hoàn thành vào tháng 6/2010. Hầu hết các thiết bị lớn, bao gồm động cơ và máy phát diesel đã được lắp đặt.
Tàu INS Vikramaditya được cho là sẽ chính thức hoạt động trong biên chế của hải quân Ấn Độ sau năm 2012, để thay thế cho tàu sân bay duy nhất hiện nay của nước này là INS Viraat.
Ba loại chiến đấu cơ đang thử nghiệm của Trung Quốc
| Tiêm kích tàng hình J-20 chuẩn bị cất cánh trong chuyến bay thử lần thứ 27. Phi cơ chiến đấu thế hệ thứ 5 của Trung Quốc được cho là sẽ chính thức góp mặt trong biên chế không quân nước này trong giai đoạn 2017-2019. Ảnh: Huanjiu |
| Khác với các máy bay chiến đấu đang được thử nghiệm khác, J-20 chưa được trang bị vũ khí trong các chuyến bay thử. Ảnh: Huanjiu |
| Bức ảnh ghép mô tả một pha nhào lộn trên không trung của chiếc J-20, mẫu máy bay đang được người Trung Quốc đặt rất nhiều kỳ vọng. Ảnh: Huanjiu |
| Bản vẽ mô tả thiết kế của mẫu máy bay FC-1 Kiêu Long, được phát triển song song với mẫu JF-17 Thunder của Pakistan. Đây là phi cơ chiến đấu đa nhiệm, một động cơ, hạng nhẹ. Nó được Tập đoàn Công nghiệp Máy bay Thành Đô, Không quân Pakistan và Nhà máy Hàng không Pakistan cùng thiết kế, chế tạo. Ảnh: Defence.pk |
| Từ năm 2003, mẫu máy bay FC-1 Kiêu Long đã có 6 phiên bản thử nghiệm khác nhau, ứng với 6 lần bay thử chính thức. Sau Pakistan, chiến đấu cơ này bắt đầu được sản xuất tại Trung Quốc từ năm 2007. Mỗi chiếc máy bay loại này có chi phí sản xuất từ 15 tới 25 triệu USD tùy phiên bản. Ảnh: Huanjiu |
| FC-1 Kiêu Long sau một chuyến bay thử nghiệm tại Thành Đô. Mẫu máy bay này hiện vẫn tiếp tục được thử nghiệm tại Trung Quốc, dù mẫu JF-17 Thunder tương tự của Pakistan đã hoạt động chính thức từ lâu, với khoảng 17 chiếc trong biên chế và 33 chiếc đang được chế tạo. Ảnh: Xinhua |
| Bản vẽ chi tiết mô tả thiết kế của mẫu máy bay chiến đấu J-10A (Tiêm 10A) mà Trung Quốc cũng đang tiến hành thử nghiệm. Ảnh: Global Times |
| J-10A là một phiên bản của mẫu phi cơ chiến đấu J-10, vốn rất phổ biến trong không quân Trung Quốc. Tổng cộng có khoảng 190 chiếc J-10 đang hoạt động tại các đơn vị không quân của nước này. Ảnh: Huanjiu |
| Cùng với J-20 và FC-1 Kiêu Long, chiếc J-10A thường xuyên có những chuyến bay thử nghiệm trên bầu trời thành phố Thành Đô. J-10A được trang bị các tên lửa đối đất và đối không. Ảnh: Huanjiu |
| Phi công Trung Quốc trong buồng lái của một chiếc J-10. Ảnh: China-defense-mashup |
| Một chiếc J-10 trên đường băng. Ảnh: Saairforce |
2-9: Ngày quốc nạn độc tài
Chế độ Cộng Sản Việt Nam bắt đầu xuất hiện từ ngày 2-9-1945. Ngày nầy đánh dấu sự khởi đầu quốc nạn độc tài đảng trị toàn trị trên đất nước chúng ta cho đến ngày nay.
1.- Chủ trương độc quyền cai trị
Ngày 2-9-1945, đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD) và Mặt trận Việt Minh (VM), một tổ chức ngoại vi của đảng CSĐD, cướp chính quyền. Lúc đó, đảng CSĐD chỉ có khoảng 5,000 đảng viên. (Philippe Devillers, Histoire du Viet-Nam đe 1940 à 1952, Paris: Éditions du Seuil, 1952, tr. 182.) Những người nầy thuộc ba nhóm chính: (1) Nhóm theo Hồ Chí Minh từ khi còn hoạt động ở Trung Quốc. (2) Nhóm trong nước từ thời Trần Phú và trước đó. (3) Nhóm từ Liên Xô đi thẳng về miền Nam. Tuy nhiên cả ba nhóm đều thuộc đảng CSĐD, dưới sự chỉ huy của Ủy ban Trung ương đảng CSĐD, và nằm trong hệ thống CSQT do Liên Xô lãnh đạo.
Đảng CSĐD và Mặt trận VM thành công là nhờ lúc đó quân đội Nhật Bản đầu hàng Đồng minh ngày 14-8-1945, hạ võ khí, và hoàn toàn không chiến đấu; trong khi chính phủ Trần Trọng Kim không có bộ Quốc phòng, không có quân đội để bảo vệ trật tự, an ninh. Do đó, bộ đội VM một mình thao túng, cướp chính quyền và công bố thành lập chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) ngày 2-9-1945.
Ngày 11-9-1945, tức chỉ gần 10 ngày sau khi chính phủ VNDCCH ra mắt, hội nghị Trung ương đảng CSĐD tại Hà Nội đưa ra nguyên tắc căn bản là đảng CSĐD nắm độc quyền điều khiển mặt trận VM, và một mình thực hiện cách mạng. (Philippe Devillers, sđd. tr. 143.) Đảng CSĐD nắm độc quyền mặt trận VM. Mặt trận VM đang nắm chính quyền, cai trị đất nước. Như thế có nghĩa là đảng CSĐD độc quyền cai trị đất nước.
Do chủ trương độc tôn quyền lực, VMCS thực hiện hai kế hoạch: Thứ nhất tiêu diệt tất cả những thành phần đối lập, theo chủ nghĩa dân tộc. Thứ hai, thương thuyết với các thế lực nước ngoài (Trung Quốc và Pháp) nhằm duy trì quyền lực.
Kế hoạch tiêu diệt thành phần đối lập được VM gọi là “giết tiềm lực”. Chỉ những ai chịu sự điều động của VM, thì được tồn tại. Còn những ai có năng lực nhưng không hợp tác với VM, dầu không chống đối VM, cũng bị VM tiêu diệt để loại bỏ những khả năng tiềm ẩn, có thể bất lợi về sau cho VM. Cho đến nay chưa có thống kê đầy đủ tổng cộng số người bị VM sát hại vì lý do chính trị và tôn giáo từ cấp cao nhất ở trung ương và các thành phố lớn, đến cấp thấp ở các làng xã trên toàn quốc, trong giai đoạn từ khi VM nắm quyền năm 1945. Con số phỏng chừng không dưới một trăm ngàn người trên toàn quốc trong cuộc giết tiềm lực của VM. Con số xem ra lớn lao, nhưng tính trung bình từng tỉnh hoặc thành phố, nhân lên tổng số tỉnh trên toàn quốc thì sẽ thấy rõ. Xin chú ý thêm rằng những người bị VM giết đa số là nhân tài của đất nước, có thể nguy hiểm cho cộng sản, nên mới bị cộng sản giết.
2.- Bước đầu thi hành độc tài
Việt Minh nắm hết ngay tất cả những phương tiện truyền thông, đài phát thanh, các nhà máy in, các cơ sở sản xuất giấy và buôn bán giấy. Báo Cứu Quốc của mặt trận VM trước đây phát hành bí mật, nay ra công khai từ ngày 24-8-1945. Báo Sự Thật, cơ quan ngôn luận của nhà nước VM, xuất bản số đầu ngày 5-12-1945. Việt Minh thành lập ban chỉ đạo báo chí và văn sĩ, huấn luyện cán bộ tuyên truyền cho chế độ để hướng dẫn quần chúng.
Ngay khi vừa được thành lập, tuy chưa có quốc hội để quyết định, chính phủ VNDCCH đặt thủ đô tại Hà Nội. Ngày 5-9-1945, bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký văn thư quy định quốc kỳ là “Cờ đỏ sao vàng”, vốn là cờ của mặt trận Việt Minh, và bài “Tiến quân ca” của nhạc sĩ Văn Cao là quốc ca.
Lúc đó, quốc kỳ của CSVN có ngôi sao vàng ở giữa mập đầy, chứ không thon và sắc cạnh như về sau. Cờ nầy phỏng theo cờ của các đảng CSTH và Liên Xô. Theo tài liệu của CSVN, quốc kỳ và quốc ca của nhà nước VM đã được quyết định tại Đại hội đại biểu quốc dân ngày 16-8-1945 ở Tân Trào. (Bộ Quốc Phòng, Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Hà Nội: Nxb. Quân Đội Nhân Dân, 2004, tr. 911.)
Về hành chánh, VM ban hành sắc lệnh ngày 5-9-1945 dẹp bỏ toàn bộ hệ thống quan lại cũ ở thành thị cũng như hào lý ở nông thôn, và lập ra những Uỷ ban nhân dân trên toàn quốc theo các cấp xã, huyện, tỉnh, bộ (kỳ). Uỷ ban nầy gồm những cán bộ VM và những người thân VM, trong đó đa số chưa thông thạo công việc hành chánh.
Nghị định ngày 8-9-1945 quy định tổ chức phổ thông đầu phiếu trong vòng hai tháng để bầu cử Quốc dân đại biểu đại hội (Quốc hội lập hiến). Tất cả công dân trên 18 tuổi đều được ứng cử và bầu cử, không phân biệt giới tính (nam, nữ), sắc tộc.
Tuy nói là hai tháng, nhưng VMCS tìm cách trì hoãn bầu cử. Mãi đến khi các đảng phái theo chủ nghĩa dân tộc, từ Trung Quốc trở về Việt Nam sau thế chiến thứ hai, đòi hỏi quyết liệt, quốc hội lập hiến mới được bầu ngày 6-1-1946. Do sự chỉ định và áp đặt của VM, đa số đại biểu VM và than VM đắc cử. Chỉ có một thiểu số nhân vật các đảng phái được đưa vào quốc hội. Cựu hoàng Bảo Đại cho biết sau khi ra Hà Nội, ông bị đưa đi “nghỉ mát” ở Thanh Hóa. Việt Minh cho người đến mời ông ứng cử. Ông không tranh cử, nhưng lạ lùng là ông vẫn được đắc cử ở Thanh Hóa với số phiếu là 92% cử tri đi bầu. (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, California: Nguyễn Phước tộc xuất bản, 1990, tt. 221-222.)
Quốc hội soạn xong bản hiến pháp và thông qua ngày 9-11-1946, gồm “Lời nói đầu”, 7 chương và 70 điều. Lúc đó, các lãnh tụ đối lập với VM bị khủng bố đã rút lui hay bỏ qua Trung Quốc, không còn ai đối lập với VM. Vì vậy, Hiến pháp chưa được chính phủ ban hành, thì ngày 14-11-1946 quốc hội gồm đa số đại biểu VM còn lại, tuyên bố đình chỉ thi hành hiến pháp vừa thông qua. (Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua, 1945-1964, Sài Gòn: 1965, California: Nxb Xuân Thu tái bản, không đề năm, tr. 28.)
Trong chế độ cộng sản đảng trị, nhà nước VM chỉ là cánh tay nối dài của đảng CS và chỉ tuân theo những nghị quyết của đảng bộ cộng sản, thường được gọi là đảng ủy các cấp, từ trung ương xuống địa phương, chứ không theo luật pháp quy định. Nghị quyết là quyết định của một nhóm người (tức các đảng bộ VM) đưa ra trong một hội nghị, theo từng hoàn cảnh, chủ quan chính trị và quyền lợi của nhóm người đó. Vì vậy, để độc tôn quyền lực, nhà nước VM không cần đến hiến pháp nhằm tránh bị hiến pháp ràng buộc.
Ngày 11-9-1945, Hồ Chí Minh gởi thông báo cho các tỉnh trên toàn quốc, chỉ dẫn cách thức tổ chức Ủy ban nhân dân tỉnh. Mỗi ủy ban tỉnh gồm có từ 5 đến 7 người: chủ tịch, phó chủ tịch, thư ký, và 4 ủy viên (chính trị, kinh tế, quân sự, xã hội). Ủy viên chính trị có nhiệm vụ thành lập tòa án nhân dân trừng trị những kẻ phạm tội, trái luật, do thám, Việt gian, tuyên truyền và huấn luyện chính trị cho nhân dân. (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, sđd. tt. 21-23.)
Việt gian là từ ngữ xuất hiện từ năm 1945 mà VM dùng để chỉ những người không đồng chánh kiến với VM, theo các đảng phái khác, hay cộng tác với người Pháp hoặc người Nhật (VM gọi là tay sai). Việt Minh muốn hãm hại ai, thì chỉ cần chụp mũ Việt Gian là bắt giết. Trong khi đó, Hồ Chí Minh và VM cộng tác và làm tay sai cho Liên Xô và Cộng sản Trung Quốc thì sao?
Về danh xưng các đơn vị hành chánh, ngày 14-9-1945, VM lấy tên danh nhân hay tên cán bộ cộng sản đặt tên các địa phương, thay thế tên cũ. Đại khái tên các thành phố và tỉnh thành như sau: Thành phố Hoàng Diệu (Hà Nội); Nguyễn Trãi (Hà Đông); Đề Thám (Bắc Giang); Lý Thường Kiệt (Bắc Ninh); Ngô Duy Phường (Thái Bình); Tán Thuật (Hưng Yên); Trần Hưng Đạo (Nam Định); Hoa Lư (Ninh Bình); Trưng Trắc (Phúc Yên); Nguyễn Thái Học (Vĩnh Yên); Đội Cấn (Thái Nguyên); Ngô Quyền (Sơn Tây); Tô Hiệu (Hải Phòng); Phạm Ngũ Lão (Hải Dương); Thái Phiên (Đà Nẵng); Trần Cao Vân (Quảng Nam); Lê Trung Đình (Quảng Ngãi); Cao Thắng (Phú Yên); Nguyễn Huệ (Quy Nhơn) …
Tuy nhiên, người Việt không có thói quen dùng tên người để đặt tên thành phố theo kiểu Tây phương, nên ngày 9-10-1945, Hội đồng chính phủ quyết định các địa phương đều phải lấy lại tên cũ. Trong thời gian nầy, chính phủ VM chia nước thành 14 khu, vừa có tính chất hành chính, vừa có tính chất quân sự, và dùng con số để đặt tên các khu. Bắc Bộ có 7 khu (1, 2, 3, 10, 11, 12, 14). Trung Bộ có 4 khu (4, 5, 6, 15). Nam Bộ có 3 khu (7, 8, 9). Số thứ tự các khu về sau sẽ được điều chỉnh.
Điều đáng nói thêm là để thi hành chủ trương độc tài đảng trị, đảng CS và VM áp dụng chính sách “giáo dục phục vụ nhân dân” hay “giáo dục phục vụ chính trị”. Đó là nền giáo dục nhằm mục đích trên lý thuyết là phục vụ nhân dân, phục vụ công nhân lao động, nhưng trên thực tế là phục vụ chính trị, tức phục vụ chế độ do đảng CSĐD lãnh đạo.
Chính sách nầy do thứ trưởng Giáo dục Nguyễn Khánh Toàn nhập cảng từ Liên Xô. Có người cho rằng chính sách nầy ở Liên Xô do bộ trưởng Liên Xô là Kalenikov (?) đưa ra. Nguyễn Khánh Toàn có tên Nga là Minin, đã tòng học tại Học viện Thợ thuyền Đông phương (Université des Travailleurs d’Orient) ở Moscow (Liên Xô) từ năm 1928 đến năm 1931.
Trong nền giáo dục nầy, chương trình học tập cho học sinh theo đúng lập trường đảng CSĐD, nhất là các môn nhân văn (quốc văn, sử địa, công dân hay chính trị). Chỉ những người có thẩm quyền trong đảng mới được soạn sách giáo khoa và sách giáo khoa được xem là pháp lệnh, không giáo viên nào được giảng dạy ra ngoài sách giáo khoa. Giáo viên, học sinh đều phải “hồng” hơn “chuyên”, tức phải mang tính đảng hơn là khả năng chuyên môn. Với một nền giáo dục như thế, CSVN chỉ đào tạo được những người biết vâng lời hơn là biết suy nghĩ. Cộng sản chỉ cần như thế để ap đặt chế độ độc tài toàn trị. Tuy nhiên, chính đó là nguyên nhân suy thoái của Việt Nam ngày nay.
Chỉ sơ lược như trên, rõ ràng ngày 2-9 chẳng có gì vui mừng để gọi là “quốc khánh”, mà là ngày mở đầu cho quốc nạn và quốc nhục độc tài đảng trị và toàn trị của dân chúng Việt Nam.
(Toronto, 30-8-2011)
Sử GiaTrần Gia Phụng
Anh hùng và phản động
Thêm 2 nhà sư Tây Tạng bị Trung Quốc kết án tù
Hôm nay 31/8/2011, Tân Hoa Xã loan tin cho biết có thêm hai nhà sư Tây Tạng, liên quan đến vụ nhà sư tự thiêu ở Tứ Xuyên, cũng bị kết án từ 10 đến 13 năm tù trong phiên xử ngày hôm qua. Vụ tự thiêu đã xảy ra từ hồi tháng 3 năm 2011, và từ đó đến nay, nhiều tu sĩ Phật giáo đã bị công an Tứ Xuyên bắt giữ.
Xin nhắc lại, hôm thứ hai 29/8/2011 vừa qua, chính quyền tỉnh Tứ Xuyên đã kết án 11 năm tù một nhà sư về tội « cố ý giết người » sau khi xảy ra vụ việc một nhà sư trẻ ở chùa Kirti của Phật giáo Tây Tạng tự thiêu từ hồi tháng 3 năm nay. Sau sự việc này chính quyền đã bắt giữ nhiều sư sãi của chùa và đem ra xét xử ba nhà sư vì liên quan đến vụ việc.
Ngay lập tức, các tổ chức Bảo vệ Nhân quyền đã lên tiếng chỉ trích chính quyền Trung Quốc cho rằng phiên tòa này hoàn toàn vì « mục đích chính trị và đầy bất công ». Việc kết án các nhà sư Tây Tạng là chỉ « nhằm đánh lạc hướng dư luận về nguyên nhân chính của việc tự thiêu ».
Về phần mình, Mỹ tỏ ra rất quan ngại khi cho rằng « chính quyền Bắc Kinh nên đáp ứng những đòi hỏi chính đáng của người dân Tây Tạng tại Trung Quốc ». Mỹ cũng kêu gọi « các nhà lãnh đạo Trung Quốc nên xem xét lại các chính sách mà nó tạo ra những căng thẳng trong khu vực và nên bảo vệ nguồn gốc ngôn ngữ, văn hóa và tín ngưỡng duy nhất của người dân Tây Tạng ».
Bộ Quốc phòng Trung Quốc và Việt Nam dự định lập đường dây điện thoại nóng
Nhật báo Vietnam News, bản tiếng Anh, hôm nay, 31/08/2011, cho biết là Trung Quốc và Việt Nam dự định thiết lập đường dây điện thoại nóng giữa hai bộ Quốc phòng. Đây là một trong những biện pháp nhằm làm giảm những căng thẳng trong quan hệ song phương do các tranh chấp về chủ quyền tại Biển Đông.
Theo Vietnam News, trong khuôn khổ cuộc đối thoại chiến lược quốc phòng an ninh Việt-Trung lần thứ hai, ở cấp thứ trưởng, được tổ chức vào ngày 28/08, tại Bắc Kinh, hai nước đã « đồng ý thúc đẩy quan hệ song phương trong lĩnh vực quốc phòng », cam kết mở rộng hợp tác trên « các lĩnh vực mới » trong đó có việc trao đổi các phái đoàn quân sự, thiết lập đường dây điện thoại nóng.
Tuy nhiên, tờ báo không cho biết là có dự kiến lập « điện thoại đỏ » giữa bộ trưởng Quốc phòng hai nước hay không. Cách nay vài năm, Việt Nam và Trung Quốc đã lập « điện thoại đỏ » giữa tổng bí thư đảng cộng sản hai nước. Năm 2009, bộ Ngoại giao Việt Nam và Trung Quốc cũng đồng ý lập một đường dây nóng giữa lãnh đạo hai cơ quan, tuy nhiên, có nhiều điểm chưa rõ về cách thức liên lạc ở cấp này.
Cũng trong cuộc đối thoại ngày 28/08, phía Trung Quốc cho biết sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với Việt Nam về việc tham gia lực lượng duy trì hòa bình của Liên Hiệp Quốc. Việt Nam chưa bao giờ gửi quân tham gia cơ chế này nhưng đã bày tỏ ý muốn.
Đối thoại chiến lược quốc phòng an ninh Việt-Trung lần thứ nhất, được tổ chức vào năm ngoái tại Hà Nội.
Việt Nam và Trung Quốc có tranh chấp về chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ở Biển Đông. Trong những tháng vừa qua, nhiều cuộc biểu tình đã nổ ra ở Việt Nam, chủ yếu tại Hà Nội, để phản đối những hành động gây hấn của Trung Quốc.
Sự kiện này làm cho chính quyền Việt Nam lúng túng. Một mặt, Hà Nội lo ngại các cuộc biểu tình này có thể chịu ảnh hưởng phong trào nổi dậy trong thế giới Ả Rập, đe dọa sự tồn tại của chế độ. Mặt khác, chính quyền Việt Nam không muốn làm cho Trung Quốc phật lòng, khó chịu.
Do vậy, báo chí chính thức tại Việt Nam nhấn mạnh đến tuyên bố của tướng Nguyễn Chí Vịnh, đồng chủ trì cuộc đối thoại chiến lược lần thứ hai ở Bắc Kinh, theo đó, Việt Nam không bao giờ nhượng bộ vô nguyên tắc về chủ quyền. Đồng thời, đại diện bộ Quốc phòng Việt Nam cũng trấn an Trung Quốc, xin trích báo Quân đội Nhân dân, « thứ trưởng bộ Quốc phòng Việt Nam cũng thông báo chủ trương kiên quyết xử lý vấn đề tụ tập đông người ở Việt Nam với tinh thần không để sự việc tái diễn ».
Nhận định về việc này, giáo sư Carld Thayer cho rằng, cả Philippines và Việt Nam đều có những tranh chấp quan trọng với Trung Quốc tại Biển Đông. Lãnh đạo cao cấp của hai nước sẽ đến Bắc Kinh. Hiện nay, tổng thống Philippines đang có mặt ở đó và có thể tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng sẽ đi Trung Quốc vào cuối năm nay. Do vậy, theo giáo sư Thayer, việc chính quyền Việt Nam tìm mọi cách ngăn chặn, chấm dứt các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc là nhằm gạt bỏ những trở ngại cho chuyến đi Bắc Kinh của ông Nguyễn Phú Trọng.
DĨ VÃNG CUỘC CHIẾN VIỆT - TRUNG NĂM 1979
Tiến sĩ Yinghong Cheng (Trình Ánh Hồng)
Gửi cho BBCVietnamese.com từ ĐH Delaware State, Mỹ
Khi chiến tranh biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam nổ ra năm 1979, tôi chỉ mới là anh sinh viên đại học. Là những "thanh niên yêu nước", chúng tôi rất phấn khích vì sau thật nhiều năm, quân đội của chúng tôi hình như đã tìm ra đối tượng để biểu dương khả năng của mình.
Những người lính trẻ của Việt Nam trong cuộc chiến tranh biên giới 1979 chống láng giềng Trung Quốc.
Chúng tôi chờ đợi tin chiến thắng từ chiến trường, nhưng truyền thông nhà nước im lặng trong nhiều ngày như thể chẳng có gì xảy ra giữa hai nước, cho đến khi quân đội Trung Quốc chiếm Lạng Sơn. Truyền thông nhà nước ca ngợi chiến thắng và rồi tuyên bố vì quân ta đã hoàn thành sứ mạng "dạy một bài học" cho kẻ "bá đạo", Trung Quốc nay sẽ lui quân.
Sự im lặng đó thực sự cho chúng ta biết nhiều điều vào ngày hôm nay. Nó lờ đi lo ngại của người dân quanh một cuộc chiến với nước láng giềng, cách hành xử đặc trưng của một chính phủ kiểm soát và lung lạc thông tin cùng dư luận. Ngoài ra, nó hé lộ sức kháng cự mà quân Trung Quốc gặp phải từ đối phương, một điều mà sẽ làm chính phủ Trung Quốc mất mặt.
Ngày hôm nay, chúng ta đã biết thêm nhiều chi tiết quanh cuộc chiến. Ví dụ, một số cựu chiến binh đã viết bài trên mạng về một kế hoạch quân sự gây sốc: viên tướng Trung Quốc chỉ huy cuộc xâm lăng đề nghị tiến đánh Lào, nước đồng minh với Việt Nam, để phân cắt Việt Nam làm hai và bao vây quân Việt Nam ở miền Bắc. Mục tiêu là hủy diệt một phần lớn quân Việt Nam, với khả năng chiếm luôn Hà Nội. Kế hoạch đó không được chấp nhận vì nó gây hại cho hình ảnh quốc tế của Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc cũng để ý đến miền bắc của mình - Liên Xô sẽ không cho họ đi quá xa.
Nhưng một mục tiêu lớn của kế hoạch đó - hủy diệt Việt Nam thật nhiều để nước này không còn có thể thách thức Trung Quốc - đã được thực hiện. Bài báo này tự hào nói quân Trung Quốc đã nã đại bác không thương tiếc trên đường tấn công, và khi lui quân thì cũng phá hủy không thương tiếc.
Bài báo viết: "Còn nhiều hơn những gì bọn Mỹ làm với Việt Nam." Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn bị sốc không nói nên lời khi ông ta nhìn thấy những thiệt hại do quân Trung Quốc để lại.
Dĩ nhiên, những câu chuyện này không hoàn toàn mới cho tôi, nhất là phần nói về sự phá hủy. Nhưng điều làm tôi không thoải mái là giọng điệu các bài viết trên mạng: nó phấn khởi nhưng cũng tiếc nuối rằng đã không phá đủ và vì thế mà Việt Nam một lần nữa đang làm Trung Quốc giận dữ, thách thức Trung Quốc ở Biển Nam Trung Hoa.
Những bài viết này không đại diện cho toàn thể nhân dân Trung Quốc, nhưng chừng nào đa số còn im lặng, chúng sẽ còn lan tỏa và lây nhiễm vào con người. Với vai trò cường quốc toàn cầu gia tăng của Trung Quốc và tình cảm dân tộc chủ nghĩa đi kèm, việc thiếu vắng tiếng nói đối lại thật đáng ngại.
Sau nhiều năm, hai câu hỏi về cuộc chiến vẫn chưa được trả lời. Thứ nhất, vì sao Trung Quốc xâm lược Việt Nam năm 1979? Câu trả lời của chính phủ Trung Quốc là Việt Nam khi ấy đang xâm lấn lãnh thổ Trung Quốc, Việt Nam đang hành hạ người Việt gốc Hoa, Việt Nam đồng minh với Liên Xô chống lại Trung Quốc, Việt Nam xâm lược Campuchia để lật đổ một chính phủ thân Trung Quốc.
Nhưng không có lý do nào ở trên thuyết phục chúng tôi về một cuộc chiến tàn khốc. Một giải thích, mà tôi có xu hướng tin tưởng hơn, là Đặng Tiểu Bình muốn có cơ hội thiết lập sự lãnh đạo tối cao thông qua việc điều động quân đội và đạt thành tựu quân sự.
Câu hỏi thứ hai gây thắc mắc hơn: các xung đột biên giới không phải là hiếm, nhưng vì sao người Trung Quốc bộc lộ sự thù ghét người Việt như vậy trong một cuộc chiến biên giới? Trong hai thập niên, họ đã là "đồng chí và anh em", và bỗng dưng được mô tả là kẻ thù xấu nhất.
Nhưng với Trung Quốc, điều này cũng đã từng xảy ra. Người Nga được bảo là "anh em của chúng tôi" trong thập niên 1950 và rồi trở thành kẻ thù số một của Trung Quốc trong cuối thập niên 1960. Ấn Độ là bạn thân của Trung Quốc trong thập niên 1950 nhưng Trung Quốc cũng đánh nhau với Ấn Độ vào đầu thập niên 1960. Chính sách ngoại giao của Trung Quốc bị lung lạc bởi nhu cầu chính trị của chính thể độc đảng, và ngày nay, nó cũng gần như y như vậy.
Thăm Hà Nội
Gần đây tôi có chuyến thăm Hà Nội. Tôi gặp nhiều trí thức và người dân bình thường.
Hiện là một giáo sư người Mỹ gốc Hoa, tôi được tiếp xúc với góc nhìn của người Việt về câu chuyện, đặc biệt là những câu chuyện nhớ về sự tàn nhẫn của quân Trung Quốc trong cuộc chiến, mà ban đầu tôi không muốn tin vì chúng quá tàn nhẫn.
Nhưng tôi, từ kinh nghiệm sống ở đất nước Trung Hoa cộng sản, đã học được rằng dù sốc và vô lý đến đâu, nhiều câu chuyện về chính thể này sau đó trở nên đáng tin và rồi trở thành một phần sự thật lịch sử.
Đây là một ví dụ, mặc dù nó hơi cách xa năm 1979.
Tôi quan tâm làm thế nào Trung Quốc của Mao áp đặt nhiều chính sách lên Bắc Việt Nam, đặc biệt là cải cách ruộng đất, cải cách tư tưởng, và nhiều chính sách trí thức - văn hóa trong thập niên 1950.
Tôi lờ mờ nhận biết rằng trong nhiều trường hợp, các chính sách của Trung Quốc bị bắt phải thực hiện. Nhưng như thế nào và trong những vụ cụ thể nào?
Trong chuyến thăm, có người giới thiệu với tôi cái tên Nguyễn Thị Năm. Bà từng là nhân vật nữ thuộc hàng lãnh đạo trong công cuộc tranh đấu chống Pháp.
Gia đình bà giàu có nhưng bà tham gia cách mạng, dùng tiền gia đình hỗ trợ cách mạng. Nhưng sau khi có độc lập, chính sách cải cách ruộng đất của Trung Quốc ở Bắc Việt cần có nạn nhân.
Bà bị đưa ra, và các cố vấn Trung Quốc cố gắng thuyết phục Hồ Chí Minh rằng cần xử bắn bà để làm gương cho phong trào.
Có nhiều người giống bà đã tham gia cách mạng dân tộc, nhưng nay họ trở thành vô dụng, hoặc có ích theo một nghĩa khác.
Ông Hồ rất miễn cưỡng, nhưng các cố vấn Trung Quốc thúc ép. Bà Nguyễn Thị Năm bị tử hình như người Trung Quốc muốn.
Trong cải cách ruộng đất ở Việt Nam, hàng trăm, hàng ngàn "phú nông" và những người ủng hộ họ đã bị bắn, bị tù hay đơn giản là bị đánh chết - một thói tục phổ biến trong cải cách ruộng đất của Trung Quốc trước đó.
( Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả, một sử gia người Mỹ gốc Hoa, là Phó giáo sư thuộc Đại học Delaware State, Hoa Kỳ và nghiên cứu viên thỉnh giảng tại Viện Nghiên cứu Châu Á, Đại học Quốc gia Singapore.
)
BBC










