Tuesday, May 31, 2016

Anh Thức đã cảm thức tôi dấn thân đấu tranh

Hồi năm 2009, khi đó tôi đã từng bị nhiều trận đàn áp và đánh đập từ phía công an Hà Nội trước các sự kiện Thái Hà, Tòa Khâm Sứ. Đến khi nghe tin anh Thức bị bắt tôi mới tích cực hơn tìm hiểu về thời cuộc và về anh.

Tôi nhớ không nhầm hôm đó là vào Chủ nhật ngày 24 tháng 5 năm 2009, tin anh Trần Huỳnh Duy Thức bất ngờ bị bắt với thông tin ban đầu là trộm cước viễn thông được loan tải rộng rãi trên thông tin đại chúng và các bloggers.

Một thời gian sau thì đến Lê Công Định, Lê Thăng Long đều lần lượt bị bắt và cùng với ông bị chính quyền cáo buộc tội "lật đổ chính quyền". Trong khi đó, cáo buộc trộm cước viễn thông đối với anh Trần Huỳnh Duy Thức đã không tìm ra bất kỳ bằng chứng nào sau hàng tháng lục tìm hệ thống thiết bị và sổ sách công ty. 

Cùng với Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long bị tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh đưa ra xét xử vào ngày 20 tháng 01 năm 2010, riêng cá nhân anh Thức bị tuyên án 16 năm tù giam và tịch thu một phần tài sản. Lúc này, ít nhiều người hiểu biết và can đảm để tìm hiểu được sự thật đằng sau những tội danh này. Đã có những cá nhân tri thức đã viết đơn phản cáo, nhưng không thành công.

Tôi bắt đầu lần mò một cách say sưa tìm hiểu về anh Thức và nhóm của anh bị bắt và kết tội theo cái gọi là “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Thú thật lúc này tôi cũng rất mơ hồ và sợ sệt nếu mình bị bắt và bỏ tù.

Nhưng tôi có tính tò mò cao, cái gì không biết, không hiểu thì lại càng tò mò. Càng tìm hiểu càng đọc về anh Thức thì cảm thức của tôi về anh, về hiện tình đất nước càng tỏ hiện rõ rệt hơn. Tôi càng thấy mình phải hành động gì đó để tiếp bước theo anh Thức và mọi người.

Tôi luôn đặt ra các câu hỏi tại sao và tại sao? tại sao anh Thức nguyên là một kỹ sư - doanh nhân Việt Nam, nguyên là Tổng Giám đốc của Công ty Dịch vụ điện thoại internet OCI. Tại sao với các mối quan hệ rộng lớn như anh mà anh có thể từ bỏ để dấn thân cho một quê hương Việt Nam tự do, và kết cục là 16 năm tù?

Tôi vắt tay lên trán suy nghĩ mỗi đêm tại sao anh Thức làm được, hy sinh được mà mình lại không thể chứ, tại sao anh Thức cũng là con dân nước Việt, mình cũng vậy tại sao mình không thể chứ. Và cảm thức đó càng lớn dần trong tôi, thúc bách tôi nhiều hơn.

Khi tôi ở trong tù, tất cả những gương hy sinh, những gương mặt đấu tranh cho quyền con người cho tự do mà tôi biết đều xuất hiện trong tôi, họ là những cảm thức và tinh thần cho tôi vượt qua trong chốn lao tù. Anh Thức là một người như vậy. Tôi nghĩ với án 16 năm trời anh Thức bị đày đọa trong nhà tù như vậy thì mình hãy san sẻ một chút với anh và với tổ quốc.

Tôi có nói chuyện với một số người tù về những người đấu tranh cho tự do, dân chủ và họ thường đưa ra một số kết luận rằng thường những người án cao như anh Thức sẽ sớm được đưa ra nước ngoài thôi. Tôi chưa hiểu gì về tính cách anh nên không có ý kiến gì.

Sau 4 năm ngồi tù, ra xã hội nghe thông tin về anh nhiều hơn, đã nhiều lần anh cự tuyệt với việc được tự do ở xứ sở tự do, và nguyện chết cho quê hương trên quê hương đất nước Việt Nam tôi mới lấy làm cảm phục và trân trọng hơn một con người tri thức thật, một nhân cách lớn trong công cuộc đấu tranh cho dân chủ, tự do tại Việt Nam.

Với tôi, anh Thức là một trong những con người cảm thức cho tôi dấn thân nhiều hơn trên con đường đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam.


Sự lạm dụng nguyên tắc dân chủ

Dân chủ là một ý niệm khó ưởng tượng trong truyền thống Đông Á. Dân chủ không chỉ hiện hữu trong các khát vọng mà chủ yếu phải là thực tiễn chính trị. Nếu hiểu theo chiều hướng này thì chưa có giai đoại nào trong lịch sử Trung Hoa có thể lấy làm thí dụ.

Trung Quốc có một truyền thống quân chủ chuyên chế lâu bền và liên tục nhất so với bất cứ một quốc gia nào trên thế giới. Mô hình chuyên chế đó biểu lộ dới ba dạng thức: chuyên chế quân phiệt, chuyên chế pháp quyền và chuyên chế quan liêu...

Chuyên chế quan liêu chịu ảnh hưởng của Nho Giáo đã có truyền thống đậm nét nhất, liên tục nhất và lâu dài nhất. Nho Giáo đã tạo Trung Quốc thành một “xã hội luân thường” gồm toàn những con người chức năng và nghĩa vụ. Họ đã vì luân lý của Khổng Tử mà chịu hy sinh tự do để dựng nên những đế chế tồn tại quá lâu trong lịch sử.

So sánh với các xã hội Tây Phương ta thấy có một sự tương phản rõ rệt. Cá nhân trong xã hội Tây Phương là loại cá nhân đồng loạt, tương tác hàng ngang trong xã hội. Cá nhân đó buộc phải chấp nhận sự tồn tại của các cá nhân khác trong tư cách đồng hạng, bình quyền và bình đẳng. Loại cá nhân này cần đến các khế ước xã hội, đến pháp luật, đến tư hữu để bảo vệ tự do của mình. Họ coi tự do là một vấn đề sinh tử, vì thế cho nên một số nước Tây Phương đã nhanh chóng trờ thành dân chủ.

Một ngộ nhận nguy hiểm

Sau cuộc trấn áp Thiên An Môn năm 1989, Đảng CSTQ bị phá sản về mặt đạo đức. Trong nước gần như không còn ai tin vào những khẩu hiệu mà Đảng vẫn hô hào về xã hội chủ nghĩa. Ngoài nước mô hình chính trị Trung Quốc bị cả loài người ghê tởm.

Mặc dầu bị tai tiếng như thế, nhưng 20 năm sau, Đảng CSTQ đã tạo được sự ủng hộ mới của quần chúng qua thành tích đã đem lại một sự phát triển kinh tế đáng kinh ngạc và qua cố gắng làm hồi sinh chủ nghĩa Đại Hán. Những việc này tạo ấn tượng chế độ đang tìm cách tự do hóa, nhưng đây là một ngộ nhận nguy hiểm.

Ưu tiên hàng đầu của Đảng CSTQ vẫn như cũ là nắm giữ quyền lực tuyệt đối. Tăng trưởng kinh tế không bao giờ dẫn đến dân chủ khi mà chế độ độc tài, độc đảng vẫn còn tồn tại. Thật ra Đảng CSTQ chỉ đang cố gắng hiện đại hóa chủ nghĩa chuyên chế để thích ứng với thời đại.

Trong khi kinh tế tăng trưởng, Đảng tìm cách liên hiệp với các lãnh tụ kinh doanh, sẵn sàng ủng hộ chế độ chuyên chế để đổi lại sự giàu có. Thay vì xuất hiện như giai cấp trung lưu với khả năng thách thức chính quyền, nhóm lãnh tụ kinh doanh này ủng hộ đường lối cai trị bằng biện pháp mạnh để dẹp yên những bất ổn trong dân chúng.

Điều đáng chú ý hơn cả là Đảng CSTQ đang tìm cách xuất cảng sách lược nói trên ra nước ngoài và yểm trợ tài chánh cho những nơi mà mô hình “tư bản chuyên chế” này đang được sao lại. Việt Nam đang nhắm mắt sử dụng chiếc phao cứu vớt đó. Mô hình tư bản chuyên chế là một thách thức đối với các giá trị dân chủ, một thách thức cần cảnh giác.

Sự lạm dụng nguyên tắc dân chủ 

Nguyên tắc dân chủ bị Trung Quốc và các nước độc tài Đông Á lạm dụng nhiều nhất là nguyên tắc “chủ quyền quốc gia”. Thuật ngữ này xuất phát từ tư tưởng của Macheaveli và Jean Bodin, và qua dòng chảy của lịch sử đã được các quốc gia Âu Châu bồi dưỡng khi ký kết Hiệp Ước Wesphalia (1648) để xác nhận chủ quyền của Thụy Sĩ và Hòa Lan. Việc sử dụng ý niệm này rất hạn chế trong thế kỷ 17 và phải đợi đến thế kỷ 20 mới trở thành thông dụng.

Trong Bản Tuyên Ngôn Bangkok năm 1993, một số nước Á Châu đã căn cứ vào ý niệm “chủ quyền quốc gia” để đòi hỏi phía Tây Phương phải tôn trọng lãnh thổ, không được can thiệp vào công việc nội bộ và không được sử dụng “nhân quyền” để tạo áp lực chính trị.

Hiển nhiên là tất cả những nguyên tắc dân chủ và tự do nói trên đều là những sản phẩm của văn hóa Tây Phương nhưng đã được nhóm người bênh vực các giá trị Á Châu đem ra sử dụng một cách lạ kỳ. Lạ kỳ ở chỗ trong khi họ đả kích dữ dội các ý niệm về nhân quyền thì họ lại trân qúy một cách quá đáng ý niệm chủ quyền quốc gia.

Họ không hiểu rằng sự phát triển của ý niệm chủ quyền quốc gia và ý niệm nhân quyền là sự phát triển song hành. Không những thế, giữa hai ý niệm đó còn có ba mối liên hệ mật thiết.

Thứ nhất, quy chế bình đẳng và độc lập của chủ quyền quốc gia trong sinh hoạt quốc tế, chỉ là sự quảng diễn của cùng một loại quy chế ban cho nhân quyền trong sinh hoạt giữa con người và con người. Nếu nguyên tắc chủ quyền quốc gia được đặt ra để bênh vực những quốc gia nhỏ yếu chống lại sự đàn áp và hà hiếp của các quốc gia lớn mạnh hơn, thì cũng chẳng khác gì trường hợp nguyên tắc nhân quyền được đặt ra để bênh vực những cá nhân và tập thể nhỏ bé chống lại sự lạm dụng của các lực lượng xã hội lớn mạnh hơn. Cả hai ý niệm đó đều nhằm tái phân phối sự bất bình đẳng về quyền lực. 

Ngày nay khi giá trị của ý niệm chủ quyền quốc gia dần dần trở thành lỗi thời thì những nước bị hội chứng thuộc địa ám ảnh vẫn chưa theo kịp đà tiến hóa của tiến trình thay đổi này. Lạ kỳ hơn nữa là khi sử dụng ý niệm chủ quyền quốc gia để lưu ý các nước Tây Phương không được hà hiếp các tiểu quốc đang phát triển, thì chính các tiểu quốc này lại dùng ý niệm đó như một chiếc lá chắn để tự do vi phạm quyền của con dân trong nước họ. Làm như vậy không chỉ là một sự vi phạm luân lý mà còn hạ thấp tư cách và trình độ văn minh của giai cấp lãnh đạo quốc gia họ trước mắt cộng đồng thế giới.

Thứ hai, nếu xét về phương diện chức năng thì nhân quyền còn bổ túc cho chủ quyền. Thật vậy, trong thời kỳ Trung Cổ, cá nhân chỉ sống và phụ thuộc vảo quyền hành của những đơn vị dân cư nhỏ như bộ lạc, xóm làng... Sang thời hiện đại, những cấu trúc xã hội này bị loại bỏ để nhường chỗ cho Nhà Nước. Chính vì có sự thay đổi này mà Nhà Nước nắm trong tay một quyền lực quá lớn, đã đe dọa nhân quyền. Trái lại, cá nhân chỉ có tay không nên khó có thể bảo vệ những quyền tự do bẩm sinh của chính mình.

Vì thế, người ta nghĩ ra ý niệm nhân quyền để trang bị cho cá nhân phương tiện tự bảo vệ hầu chống lại sự bạo ngược của kẻ cầm quyền. Đó là một bài học về liên hệ chức năng giữa hai ý niệm chủ quyền và nhân quyền không thể nào không biết tới. 

Thư ba, giữa chủ quyền và nhân quyền còn có một liên hệ khác về phương diện luân lý. Về mặt này, người ta đưa ra quan điểm Nhà Nước không được phép ỷ vào quyền lực của mình để vi phạm nhân quyền. Trái lại Nhà Nước có trách nhiệm phải bảo vệ những quyền đó. Trách nhiệm này là trách nhiệm giải phóng con người khỏi sự quản chế quá chặt chẽ của bộ lạc, xóm làng, mà Nhà Nước đã được nhân dân giao phó. Cho nên chủ quyền phải được nhân quyền bổ túc và tăng cường để có chính danh tồn tại. 

*

Chủ quyền có thể mang tính tuyệt đối trong sinh hoạt quốc tế giữa các quốc gia với nhau để thực hiện bình đẳng, nhưng không thể được coi như vô giới hạn trong sinh hoạt quốc nội. Từ thực tế này, có thể khẳng định rằng: không có chủ quyền nếu không có nhân quyền và can thiệp vào sự đàn áp nhân quyền của một quốc gia không phải là can thiệp vào việc nội bộ của xứ này.

Những người muốn làm giảm giá trị của các ý niệm nhân quyền Tây Phương thường nói rằng: “Thế giới được phân chia thành hai khu vực văn hóa: khu vực Á Châu gồm các nước Đông Phương và khu vực Tây Phương gồm các nước Âu Châu và Bắc Mỹ. Cho nên mọi xâm phạm của bên nào vào lãnh vực văn hóa của bên kia phải được coi như một “hành động đế quốc văn hóa” và mọi giá trị văn hóa mỗi bên nêu ra chỉ có giá trị tương đối.

Thật ra, nếu muốn vô tư thì phải nói rằng, thế giới không có hai hệ giá trị văn hóa ngang hàng Tây Phương và Đông Phương. Nếu phải so sánh hai nền văn hóa này thì chỉ có thể là sự so sánh giữa cái “hiện đại” và cái “lỗi thời”. Tây Phương với sức phát triển về mọi mặt tương trưng cho cái ‘hiện đại”. Còn Đông Phương với sự tụt hậu về mọi mặt tượng trưng cho cái “lỗi thời”. Bằng chứng dễ nhận biết nhất là các “giá trị” Á Châu đã tỏ ra bất tương hợp với các giá trị hiện đại của nhân loại như nhân quyền và dân chủ.

Kết luận

Cách nhìn và sự lưỡng phân tuyệt đối nói trên không được người Tây Phương công nhận, vì chủ nghĩa dân chủ tự do với sự nhìn nhận các quyền dân sự, chính trị và các quyền của thiểu số không xa lạ gì đối với Á Châu mà trái lại còn phù hợp với điều kiện của vùng này. Giữa hai chủ nghĩa thật ra không có bất cứ một tình trạng đối chọi nào như nhiều người tưởng tượng.

Nhìn vào tình trạng thay đổi hiện nay ở Á Châu, ta thấy sự phát triển kinh tế đã kéo theo hiện tượng đô thị hóa nhanh chóng và sự lan tỏa của kinh tế thị trường vào các ngõ ngách của xã hội. Kinh tế thị trường cũng kéo theo sự phổ biến việc sử dụng nhân tài, tinh thần thi đua trong mọi lãnh vực, cơ hội nâng cao giáo dục quần chúng, nâng cao hiểu biết kỹ thuật và nới rộng hoạt động thông tin. Tất cả những thay đổi đó đều là những lực phát triển theo hướng hỗ trợ cho tính phổ quát của cá nhân chủ nghĩa.

Nói như vậy để chứng minh là các dân tộc Á Châu không xa lạ gì với tiêu chuẩn của tự do nhân quyền trong dĩ vãng cũng như trong hiện tại và chủ nghĩa tự do không phải là khó chấp nhận đối với các dân tộc trong vùng./. 

Tháng 5 năm 2016


Monday, May 30, 2016

Tại sao người ta khom lưng?


Ngô Nhân DụngSourceBáo Người ViệtPosted on: 2016-05-29
Sau khi Tổng Thống Mỹ Barack Obama rời Việt Nam, trên mạng Internet có người đem hai bức hình ra so sánh. Bức hình thứ nhất chụp ngày 25 Tháng Năm, một ông “quan nhỏ bước ra khỏi xe hơi, trong lúc mặt đường ngập lụt. Một anh quân hầu vội vác chiếc ghế tới cửa xe cho quan bước lên, rồi một anh khác khom lưng cõng ông vào bậc thềm, cách cửa xe hai mét. Bức hình thứ hai chụp trước đó, cảnh ông Obama đang ở Việt Nam, tay cầm dù che cho hai nhân viên cùng bước với mình sau khi xuống máy bay gặp trận mưa lớn.
Một công dân mạng bình phẩm: “Không cần phải nói nhiều, hai tấm hình này cũng đủ nói lên bản chất của hai chế độ.”
Không sống dưới chế độ độc tài thì không thể hiểu tại sao anh quân hầu lại sẵn sàng khom lưng cõng ông “quan nhà báo.” Tại sao ông quan làm báo lại sẵn sàng cưỡi lên lưng người ta để bảo vệ đôi giầy của mình? Tại sao người ta cư xử với nhau với những phản ứng tự nhiên như vậy? Ðây chắc phải là một cảnh bình thường, trong đời sống hàng ngày. Cậu lính hầu thấy quan đang lo sợ ướt giầy, ướt gấu quần, thì đưa lưng ra cõng. Phản ứng tự nhiên, vì xưa nay cậu đã quen hầu các quan rồi. Ông quan thấy có đứa đưa lưng ra cõng thì ung dung cưỡi lên lưng người ta, không thắc mắc gì cả. Sau này ông kể, “sự việc diễn ra khá nhanh, lúc đó tôi cũng không nghĩ gì...” Ðúng ra, việc diễn ra nhanh hay chậm thì chắc ông cũng không thấy cần phải nghĩ gì cả. Ông cử động theo thói quen hàng ngay. Dù sao ông cũng biết xấu hổ khi bức hình lan truyền trên mạng, nên tìm cách giải thích, rằng vì ông già cả nên được anh quân hầu trẻ tuổi cõng. Chưa đầy 60 tuổi đã thấy mình già, nhưng nếu ông không quyền, không chức, thì có anh chị nào xin cõng hay không?
Chúng ta không cần nêu danh tính, in chân dung của ông quan và anh quân hầu trong câu chuyện này. Vì thực ra họ đều “ngay tình,” chỉ “phản ứng tự nhiên.” Họ không suy nghĩ gì khi khom lưng xuống hoặc cưỡi lên lưng đồng loại. Họ không cảm thấy hành động của mình có ý nghĩa nào về đạo đức cá nhân hay đạo đức xã hội. Cuộc sống trong chế độ Cộng Sản đã tạo ra kiểu hành vi, thái độ này, người trên thì vênh vang hưởng thụ, thằng dưới thì khúm núm xun xoe. Nền văn minh xã hội chủ nghĩa sản xuất ra các hoạt cảnh bình thường như thế, bởi vì người ta sống như thế từ lâu, đã thành tập quán rồi. Thằng dưới phải khúm núm, sợ hãi thằng trên. Thằng trên coi thằng dưới như “gia nhân, đầy tớ.”
Những chữ “gia nhân, đầy tớ” tôi mới thấy trong cuốn “Lời Ai Ðiếu,” hồi ký của nhà báo Lê Phú Khải, Người Việt xuất bản. Ông Khải đã làm việc nhiều năm cho các đài truyền hình của Cộng Sản. Trong một đoạn, ông thuật lại mấy câu chuyện nghe cô em họ nói; cô đã từng phục vụ các quan Bộ Chính Trị trong các buổi họp. Cô kể rằng, “Khi họp Bộ Chính Trị, Bác Lê Duẩn nói thì các bác Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp cứ cắm đầu xuống mà nghe, không ai dám ngẩng đầu lên, không ai dám nói nửa lời.” Và ông Lê Duẩn, tổng bí thư đảng Cộng Sản, “mắng mỏ người khác như mắng gia nhân, đầy tớ.” Ông Lê Phú Khải lại kể một lần Võ Nguyên Giáp mặc trào phục oai nghi, đi xe hơi có tài xế lái, đến dự một buổi họp quan trọng. Lê Duẩn trông thấy, bảo, “Anh không được dự.” Thế là ông đại tướng quay đầu lủi thủi lên xe ra về.
Cung cách cư xử từ trên đã như vậy, xuống dưới không thay đổi, mức sợ hãi có thể còn tăng cường độ. Bác Sĩ Tôn Thất Tùng được coi là y sĩ có uy tín nhất miền Bắc. Một vị tướng cảnh sát, từng làm thứ trưởng Bộ Công An, đã chứng kiến cảnh ông bác sĩ “quá lo sợ, mồ hôi vã ra như tắm.” Chỉ vì ông phải ra làm chứng trong một vụ nghi án. Hai phe Bộ Công An đánh nhau, bên nói nạn nhân bị giết, các thủ phạm đã bị đưa ra tòa, kết án, còn bên kia cố chứng minh người đó tự tử. Bác Sĩ Tôn Thất Tùng biết rằng nếu phát biểu ý kiến trái với phe công an mạnh thì không biết sự nghiệp và cả cuộc đời của mình sẽ ra sao! Là người ngoài, ông đâu biết phe nào mạnh hơn? Ông Tùng rút khăn trong túi ra lau mồ hôi, rút theo mấy gói bột ngọt, đánh rơi cả xuống đất. Thấy ông Tùng run quá, vị tướng cảnh sát cúi nhặt mấy gói “mì chính,” để lại trong túi cho ông, để ông còn cho vào tô khi đi ăn phở. Ông cho biết, Bác Sĩ Tùng phải thuộc hạng sang lắm (trong chế độ xã hội chủ nghĩa) mới có thứ bột ngọt này cất trong túi. Ông Tùng run, nhưng đủ bình tĩnh, khôn ngoan, không cho ý kiến nào cả. Chắc ông đã quyết định theo kế thoát thân đó trước khi dự buổi thẩm tra, vậy mà vẫn còn sợ, run, toát mồ hôi. Mà Bác Sĩ Tùng không thuộc hàng dân thấp cổ bé họng.
Thói quen sợ hãi người có quyền, có thế đã lan tràn. Xuống dưới nữa thì chúng ta mới thấy, cảnh anh quân hầu khom lưng cõng ông tổng biên tập một tạp chí của hội nhà báo. Làm chức tổng biên tập mà oai quyền đến thế sao? Người sống tự do quen không thể nào hiểu nổi lý do nào khiến con người khom lưng cõng nhau như vậy! Thời tôi sống ở Montréal, Canada, một bữa tôi đến trường đứa con út học, ngồi chờ để gặp các thầy, cô giáo; ngày hôm đó các thầy cô phải tiếp các phụ huynh. Ðang ngồi đọc báo chờ, thấy một người đến ngồi cùng băng ghế, tôi ngẩng lên, rồi vội cười chào. Ông ta lễ phép chào lại. Phụ huynh mới tới đó là Luật Sư Pierre Trudeau, người làm thủ tướng nước Canada mấy lần. Năm đó hình như đảng ông mới thất cử, nhưng vài năm sau ông lại trở về ngồi ghế thủ tướng.
Tại sao trong một nước tự do dân chủ thì ông thủ tướng hay anh dân thường đều tự coi họ bình đẳng như nhau? Tại sao trong xã hội Cộng Sản thì thói đội trên đạp dưới trở thành căn bệnh kinh niên, nặng nề như vậy?
Tất cả là do môi trường tạo ra. Trong chế độ độc tài đảng trị, thì các quan trên, dù chỉ đứng hạng nhì, hạng ba trong một hội nhà báo, khi được đảng Cộng Sản tin dùng là đủ thấy mình có quyền thế, coi những kẻ dưới mình như gia nhân, tôi tớ. Trong chế độ dân chủ, muốn làm thủ tướng hay tổng thống thì phải được dân bỏ phiếu, được dân ủy quyền. Cho nên có người nhận xét về hai bức hình, hình người cõng người và hình ông Obama che dù cho nhân viên, “Chúng cho thấy sự khác biệt: Một bên là đảng cử, một bên do dân bầu.”
Chính guồng máy dân chủ làm cho mọi người sống bình đẳng, một cách tự nhiên. Cái guồng máy đó chạy trong đời sống xã hội, thế là ai cũng cư xử, hành động theo quy luật dân chủ. Cứ như thế, sau một thế hệ, cùng lắm là hai thế hệ, ai cũng thấy mình không thua kém những kẻ có chức có quyền. Và những kẻ có quyền chức cũng thấy mình chẳng hơn gì đám dân ngoài phố. Nhất là các nhà chính trị. Họ phải chật vật đi xin phiếu của dân, xin dân bỏ phiếu cho mình. Họ phải tìm mọi cách chứng tỏ là mình gần với dân, thông cảm dân, vì mình không khác gì những người đi bỏ phiếu.
Người Việt Nam ở Mỹ nhìn cảnh ông tổng thống của họ đi ăn bún chả, ngồi trên cái ghế đẩu, xắn tay áo cầm chai bia mà tu, không ai ngạc nhiên cả. Ông ta đứng trú mưa dưới mái nhà tôn cái quán chông chênh bên đường ở huyện Từ Liêm, lại mời cô chủ và các khách hàng ra chụp hình với mìn. Cũng không người mỹ nào coi là chuyện lạ lùng. Nhiều người còn hỏi: Ủa cái ông Obama này, ổng tính tranh cử lần nữa hay sao? Bà con mình ở Hà Nội hay Sài Gòn đâu có quyền đi bỏ phiếu bầu tổng thống Mỹ?
Những gì ông Obama đã quen làm ở Mỹ, cách ông ta cư xử với dân Mỹ, ông ta chỉ làm giống hệt như vậy khi tới nước Việt Nam. Một là coi mình với người khác đều ngang hàng, bình đẳng. Hai là có cơ hội là bày tỏ tình thân thiện với mọi người. Nghĩ một cách tự nhiên, làm cũng tự nhiên như thế. Thái độ và hành vi này đã trở thành loại “bản năng thứ hai” của những người làm chính trị trong các xã hội dân chủ tự do. Họ được huân tập trong guồng máy dân chủ.
Vì vậy, sau khi ông Obama đi rồi, một người ở Sài Gòn viết trên mạng “những ấn tượng ông để lại trên mảnh đất chữ S này thì mãi mãi còn.” Cô Nguyễn Thị Ngọc Anh, 24 tuổi, nói với nhà báo: “Tôi muốn nước tôi có một người lãnh đạo như ông Obama.” Ông Nguyễn Quang Chơn viết trên blog của mình: “Ông Obama. Tôi kính mến, quí trọng và muốn được học tập ông... đối với người dân Việt, cái mà ông Obama đem đến chính là phong cách của ông, con người của ông...” Phải nói, mọi người dân Việt Nam đều khao khát những người cầm quyền ở nước mình cũng biết cư xử với dân như một ông tổng thống Mỹ.
Ông Obama có biệt tài khi nói trước đám đông mà khiến cho mọi người đều cảm thấy ông ta nói với chính mình. Ông đã trổ tài này khi nhắc đến Lý Thường Kiệt, rồi kết luận với “của tin, chút này” của Nguyễn Du. Ông ta có thói quen thổ lộ những kinh nghiệm và tâm tình mà người khác có thể chia sẻ ngay lập tức. Ngày hôm qua, tới Hirosima, nơi bom nguyên tử Mỹ đã giết 140 ngàn người Nhật, ông đã làm nhiều người rơi lệ khi nhắc đến những đứa trẻ lúc chết còn sững sờ không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Nghĩ đến những em bé chết oan vì tội lỗi của người lớn, ai cũng nhận được bản thông điệp hòa bình này.
Giống như vậy, tôi đã từng đọc bài thi sĩ Hữu Loan kể cha mẹ vợ ông bị đấu tố trong cải cách ruộng đất. Các cụ bị chôn sống đứng, nhô đầu trên mặt đất, rồi người ta cho kéo cầy đi qua. Nghĩ đến cảnh đó đủ rợn người. Nhưng gần đây tôi còn rùng mình hơn, khi đọc một đoạn hồi ký về cuộc Cách Mạng Văn Hóa của Trung Cộng; nhân năm nay là 50 năm kỷ niệm thảm họa đó. Một nhân chứng kể ở tỉnh Sơn Tây người ta đem chôn sống một bà già và đứa cháu. Nhân chứng kể nghe thấy tiếng đứa bé kêu khóc: “Bà ơi, cát chui vào mắt con đau quá!” Rồi nghe tiếng bà trả lời: “Lát nữa sẽ hết đau, con ạ.”
Tại sao con người có thể tàn ác với nhau như thế? Chế độ Cộng Sản đã thay đổi con người, tạo ra những hành vi chúng ta không hiểu nổi. Tàn ác cực độ. Hoặc hèn hạ kinh khủng.
Muốn cứu con người, phải chấm dứt chế độ đó.

AI TIẾP TAY CHO SỰ MAN TRÁ CỦA TRUNG QUỐC?

 
NGUYỄN NGUYÊN BÌNHSourceBùi văn Bồng's BlogPosted on: 2016-05-30
Vẫn không thể dễ dàng 'bỏ qua' về vụ cá chết hàng loạt trên biển Đông. Vì những người tự gọi là lãnh đạo, tự nhận phần quyết định tuyệt đối, tự nhận ‘lo’ tất cả mọi việc của đất nước đến giờ này vẫn chưa đưa ra được nguyên nhân chính xác của sự vụ nghiêm trọng này. Dư luận đã chỉ ra: đây không chỉ là họa cá chết mà (bản chất) là âm mưu nhằm gây ra một họa diệt chủng nếu không nhận rõ nguyên nhân của mọi nguyên nhân và tìm cách rốt ráo khắc phục. Theo tôi, nguyên nhân sâu xa của nó vẫn không tách khỏi cái ‘gien’ (gen) di truyền bành trướng bá quyền của tập đoàn cầm quyền Bắc Kinh.
1.Nói thêm ít lời về gien (gen) di truyền bành trướng bá quyền đại Hán.
Gần đây, khi đi công du một số nước Âu, Mỹ, người đứng đầu tập đoàn Bắc Kinh bỗng   không khảo mà xưng lên rằng: người Trung Quốc không có ‘gien ’ (gen) bá quyền bành trướng! Nghe mà bật cười, nhớ đến một chuyện tiếu lâm của ta xưa. Chuyện kể nhà nọ bán thịt lợn sề (mà theo dân gian thì thịt lợn sề độc, không nên ăn), mới dặn thằng con là phải giấu đừng cho ai biết. Thằng bé sốt sắng vâng lời, nên mỗi khi có khách đến định mua, nó đều nói lớn ngay rằng: thịt này không phải thịt lợn sề đâu đấy! Khách nghe nói vậy bèn sinh nghi, xem kĩ thịt, thì phát hiện đúng là thịt lợn sề thật, rồi bỏ đi, không mua…
Cái gien (gen), hay cái máu bành, bá của Trung Quốc, ai còn lạ. Nó có từ xưa với cái lý tưởng truyền đời mà những người có tí máu mặt trong đất nước đó thường tâm niệm, đã sống làm người thì phải : Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Cả mấy ngàn năm phong kiến, người ‘quân tử Tàu’ đã trung thành với lý tưởng ‘bình thiên hạ’( đó chỉ là cách nói tránh cho cái tham vọng muốn cướp hết đất đai của các nước khác để làm bá chủ mà thôi). Rồi đến thời cộng sản, thì họ cần phải che giấu cái ý đồ ‘bình thiên hạ’ đi. Nên ngoài miệng họ hô hào xây dựng thế giới đại đồng, chỉ để bàn tay hoạt động, tiếp tục ra sức đánh chiếm đất đai lãnh thổ, lãnh hải các nước mà họ điêu trẹo họng gọi là ‘thu hồi’lãnh thổ bị mất. Một điều đặc biệt là, từ khi Trung Quốc xuất hiện đảng cộng sản thì những người cầm đầu đã không ngừng đấu đá sát phạt lẫn nhau trong các cuộc mà họ gọi là ‘đấu tranh đường lối’. Các phe phái trong đảng đấu nhau rất tàn bạo, quyết liệt, không ngán cả đầu rơi máu chảy. Thế nhưng, dù thắng dù thua, không phe nào chịu từ bỏ cái tâm đen bành trướng bá quyền.


Mao Trạch Đông được Hồ Chí Minh rao bán nước Việt
Mao Trạch Đông là người thắng nhiều nhất trong các cuộc đấu, vì vậy đã có nhiều cơ hội thể hiện máu ‘ bá, bành.’ Có thể dẫn ra vài câu nói rất thô lỗ của ông ta : “Tôi sẽ làm chủ tịch 500 triệu bần nông đưa quân xuống Đông Nam Á” hay “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam Á…Một vùng như Đông Nam Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản, xứng đáng với sự tốn kém để chiếm lấy”… Đặng Tiểu Bình, đối thủ chính trị rất nặng kí của Mao, người mà Mao đã phải phát động cả một cuộc ‘Cách mạng văn hóa’nổi tiếng khủng khiếp để đấu cho bằng được, đấu đến lên bờ xuống ruộng, bị gọi là ‘tên số 2 trong Đảng đi theo chủ nghĩa tư bản’ thì sao? Sau khi Mao chết, Đặng trở lại chính trường, ông ta không hề chọn con đường nào khác Mao. Vẫn là bành trướng bá quyền đại Hán. Thậm chí còn thể hiện hung hăng quyết liệt hơn qua việc phát động cuộc chiến tranh tháng 2- 1979 xua hàng mấy chục vạn quân sang thực hiện cái gọi là ‘ trừng phạt Việt Nam’vì đã phá kế hoạch bá quyền Đông Nam Á của Trung Quốc.


Hồ Chí Minh đàm đạo bán nước vời Chu  Lai
Một người khác, cũng là đối thủ đáng gờm, bị Mao xếp vào hạng ‘ đối tượng đấu tranh đường lối’là Chu Ân Lai. Dưới mắt thiên hạ, ông này trong có vẻ tử tế khiêm cung. Thế nhưng, cũng không tránh khỏi căn bệnh đại Hán, trong các xử lý quan hệ các nước, vẫn trung thành với đường lối nước lớn bắt nạt nước nhỏ của Mao. Điều đó đã thể hiện trong nội dung mật đàm với Kit sing gơ, bắt tay với Mỹ, giành quyền lợi ích kỉ của Trung Quốc, làm hại quyền lợi của Việt Nam và các nước từng là đồng chí anh em với Trung Quốc (tài liệu đã bạch hóa trên nhiều trang mạng và bạn đọc còn có thể tham khảo thêm bài viết về Vụ đấu tố khủng khiếp với Chu Ân Lai tại Bộ chính trị Trung Quốc trong Blog Phạm Viết Đào).


Hai cha con Tập Trọng Huấn và Tập Cận Bình
Ông Tập Trọng Huân- cha đẻ Tập Cận Bình- cũng từng bị Mao gán tội “ cầm đầu nhóm chống Đảng” và bị cách hết chức vụ, bị phủ định mọi công lao, bị bỏ tù và ngược đãi trong thời gian dài. Bản thân Tập Cận Bình, trong những năm diễn ra cuộc‘Đại cách mạng văn hóa’, tuy còn nhỏ nhưng cũng đã từng bị bè lũ Mao làm nhục bằng cách chụp mũ giấy, bắt diễu phố, tống ngục giam, rồi bị đày về nông thôn hẻo lánh sống rất khổ cực. Vậy mà ngày nay, khi lên làm vua Trung Quốc, Tập Cận Bình vẫn hăng hái kế tiếp đường lối bành trướng bá quyền do Mao truyền lại. Thậm chí Tập Cận Bình còn thực hiện đường lối đó vừa hung hăng vừa lắt léo, hơn hẳn các bậc tiền bối.


Tướng Lưu Á Châu của Trung Quốc
Căn bệnh bành, bá nọ còn có nguy cơ phát tác ở Trung Quốc ngay trong thời kì ‘ hậu cộng sản’ trong tương lai nữa kia. Thật vậy, hãy ngẫm nghĩ chút về hiện tượng một ngôi sao đang lên của Trung Quốc là tướng Lưu Á Châu với nhiều phát biểu rúng động. Bài nói của Lưu Á Châu tại căn cứ quân sự ở Côn Minh (Trung Quốc) ngày 10- 5- 2010 đang được nhiều trí thức Việt Nam khen hay, cho là ngôn từ mạnh dạn, quan điểm mới mẻ, vì ông ta đã thẳng thắn tỏ ra ngưỡng mộ thể chế dân chủ đa nguyên đa đảng của nước Mỹ, lại thẳng thắn vạch ra những yếu kém, lạc hâu của chính dân tộc Trung Quốc. Nhưng nếu xem kĩ sẽ thấy ở đó vẫn không giấu nổi khát vọng thống trị thế giới. Động cơ thúc đẩy Trung Quốc chuyển đổi sang thể chế đa nguyên đa đảng là gì? Lưu Á Châu nói: “Tư tưởng dân chủ đã ăn sâu vào sinh mạng, huyết mạch của họ(người Mỹ). Một dân tộc như thế họ không cường thịnh thì ai cường thịnh? Họ không thống trị thế giới thì ai thống trị?”Không biết nước Mỹ, dân Mỹ có chủ tâm thống trị thế giới hay không, nhưng ở đây rõ ràng ông Lưu Á Châu đã bộc lộ bản tâm muốn thống trị thế giới, đặc sản Trung Hoa rồi. Ông ta còn nhấn nhá thề thốt (với ai đây?) rằng: “Tôi là một người trung thành với chủ nghĩa dân tộc, trong bất cứ tình huống nào, tôi cũng xem lợi ích dân tộc là tối cao. Vì điều đó, tôi chấp nhận sứt đầu mẻ trán…” Như vậy, cứ như khẩu khí của con người có vẻ cấp tiến này thì không chừng thể chế dân chủ đa đảng kiểu Mỹ cũng chỉ có thể được ‘trưng dụng’ để làm tăng thêm sức mạnh cho  chủ nghĩa bành trướng bá quyền đại Hán mà thôi.(Một điều đáng chú ý là: Lưu Á Châu gần đây cứ nói oang oang, viết sắc lẻm về ý tưởng đòi thay đổi thể chế chính trị độc tài độc đảng ở Trung Quốc mà không bị mấy người cầm đầu đảng CSTQ đụng đến một sợi lông chân nào cả, ông ta vẫn tiếp tục đeo lon thượng tướng, vẫn chễm chệ ngồi ghế Chính ủy Đại học quốc phòng. Còn ở Việt Nam thì sao? Các vị khai quốc công thần như Trần Độ, Trần Xuân Bách chỉ mới hé miệng bàn về dân chủ đa đảng mà đã bị ‘Đảng ta’ trù dập tơi bời, đến chết vẫn không yên thân. Đủ biết giới cầm quyền Trung Quốc thâm sâu, tỉnh táo hơn lãnh đạo Việt Nam nhiều).
Gần đây nhất và dễ thấy nhất là ‘cặp đôi’Tập Cận Bình> < Giang Trạch Dân. Đôi này đang sát phạt nhau ra dáng, nhưng cả hai đều chẳng ai kém ai về thành tích xiển dương chủ nghĩa bá, bành. Ai chẳng biết, Giang Trạch Dân chính là người thiết kế ra cái Mật nghị Thành Đô tai hại, còn Tập Cận Bình chính là kẻ đang hăng hái triển khai tinh thần mật nghị đó.
Như vậy, chủ nghĩa bành trướng bá quyền đại Hán vẫn là bộ phim dài còn lâu mới đến tập cuối mà nhân dân Việt Nam bị buộc phải xem trong một cái rạp chiếu cũ nát, chật chội, nóng bức, hôi hám, bị khóa chặt; đói khát, ngộp thở mà vẫn không thể bỏ về…Chủ nghĩa bành trướng bá quyền đại Hán không những có lịch sử lâu đời mà còn có cả một hệ thống lý luận, bài bản hướng dẫn cụ thể, sắc sảo. Một trong những bài bản của nó là sách Tôn Tử binh pháp. Binh pháp Tôn Tử (BPTT)không chỉ là thuật dụng binh, nó đã và đang được những người cầm quyền Trung Quốc vận dụng trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao, rất hữu hiệu. Vì BPTT dạy cho họ kế sách ‘sáng suốt nhất trong sự sáng suốt’, không cần đánh mà khuất phục được kẻ địch…


Lãnh đạo Formosa cúi đầu nhận lỗi
2. Vụ cá chết hàng loạt- Formosa và liên hoàn kế.
Có thể khẳng định vụ cá chết ở biển từ Vũng Áng kéo dài về phía Nam không phải là ngẫu nhiên, cũng không phải là đơn độc. Nó chính là một khâu trong chương trình đã lập sẵn của mộng bá quyền Trung Quốc, là sự thể hiện của các kế sách trong ‘tam thập lục kế’của sách BPTT. Các kế sách đó đang được Bắc Kinh thi triển trong nhiều năm qua. Nhất là từ khi lãnh đạo VN sáng tác ra cái gọi là ‘nền kinh tế thị trường định hướng XHCN’, lấy đó làm phương sách phát triển cho VN. Vì ‘kinh tế thị trường định hướng XHCN’ chẳng qua chỉ là một nền kinh tế tư bản hoang dã được (bị) điều hành bởi một triều đình nhiều vua, bản thân nó vốn chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro, mong manh dễ đổ vỡ nên rất tiện cho phía Trung Quốc thao túng, lợi dụng. Nói cụ thể hơn, vụ cá chết vừa qua trước hết là nằm trong kế liên hoàn (kế thứ 35 trong BPTT), kế đó nói: sử dụng nhiều kế liên tiếp, móc nối nhiều kế với nhau tạo thành chuỗi móc xích hoàn chỉnh, tạo phản ứng dây chuyền khiến đối phương rối loạn không biết bắt đầu gỡ mối từ đâu. Cố gắng lần tìm riềng mối, thì thấy có lẽ phía TQ đã bắt đầu từ kế ‘Tiếu lý tàng đao’-( kế thứ 10 trong 36 kế): dấu dao trong nụ cười. Nụ cười ở đây chính là ‘4 tốt, 16 chữ vàng’, còn con dao thì chính là các dự án TQ đầu tư vào VN lâu nay. Đó là dự án Bô xít Tây Nguyên, các nhà máy nhiệt điện với công nghệ lạc hậu, các dự án thuê đất trồng rừng ở những nơi hiểm yếu, và hiểm độc nhất là cụm công nghiệp Formosa cùng với cảng nước sâu Sơn Dương ở Hà Tĩnh… Để có thể đặt chân vào các địa điểm trên đất VN, qua mắt dư luận có phần nghi ngại, phía TQ đã có kế ‘Man thiên quá hải’, kế thứ nhất trong 36 kế, nghĩa là che trời để qua biển. TQ đã tìm cách nấp sau các nhà đầu tư không phải TQ. Ví dụ, họ đã nấp sau các nhà đầu tư Indonexia và Malaixia để vào được các dự án Trung tâm nhiệt điện Duyên Hải (Trà Vinh), Trung tâm nhiệt điện Sông Hậu 2(Hậu Giang), và dự án đang bị dư luận soi nhiều nhất là Formosa Hà Tĩnh.
Họ đã ‘man thiên’ bằng các cách như: mua lại dự án, hối lộ để giành chân tổng thầu EPC, cho vay tiền vốn thi công hoặc liên doanh với chủ đầu tư…Đứng chân vào các dự án lớn, họ đạt được nhiều mục tiêu. Đó cũng là thủ đoạn thường thấy của những nhà chính trị TQ: “một mũi tên nhắm nhiều đích”, lợi cho TQ, hại cho VN, như:
- Thu lợi nhuận từ khâu thiết kế, thi công( là mục tiêu thông thường và có thể coi là chính đáng).
- Bán thiết bị thế hệ cũ với giá đắt.
- Giành việc làm cho lao động phổ thông TQ.
- Vơ vét tài nguyên quý hiếm của VN.
- Khống chế địa bàn hiểm yếu về quân sự quốc phòng.
- Với dự án không thu được lợi nhuận, thậm chí bị lỗ thì lại đặt mục tiêu phá hoại đầu độc môi trường (điển hình như bô xit Tây Nguyên, Formosa).
Muốn trót lọt kế ‘man thiên’ nói trên, TQ không thể bỏ qua kế ‘Phao chuyên dẫn ngọc’- kế thứ 17, nghĩa là: ném ra hòn ngói, thu về hòn ngọc ( hay như dân ta thường nói là thả con săn sắt, bắt con cá rô). Họ có thể hối lộ một khoản tiền rất lớn so với thu nhập của cá nhân, nhưng lại là khá nhỏ so với mối lợi thu được từ dự án (mẹo này của họ không có gì lạ, có thể tìm được nhiều dẫn chứng ngay trong báo chí chính thống).
Một kế nữa đã thi hành: ‘Tá đao sát nhân’- kế thứ 3 trong BPTT, nghĩa là mượn dao giết người. Cùng với việc tự tay giết tróc ngư dân VN trên biển Đông; TQ còn khiến cho ngư dân VN gặp nhiều khó khăn khi đánh bắt trên ngư trường truyền thống, phải dạt xuống đánh bắt ở ngư trường phía Nam. Nhiều khi quá bước lọt qua lãnh hải mấy nước như Malaixia, Indonexia, liền bị các nước đó trừng trị, hoặc bắt giam, bắt phạt, thậm chí đánh chìm tàu, chết người…Đó chẳng phải mượn dao giết người sao?
Kế khác: ‘Quan môn tróc tặc’- kế thứ 22, nghĩa là đóng cửa để bắt kẻ địch. Bao nhiêu năm qua, TQ đã tìm mọi cách bao vây ngăn chặn mọi đường ra của VN. Họ đã xây nhiều nhà máy thủy điện ở đầu nguồn sông Mê kong trong đất TQ, lại dụ Lào, Campuchia và giành phần xây ‘giúp’ các nhà máy thủy điện để dần làm cạn dòng Cửu Long, triệt đường làm ăn của cư dân đồng bằng Cửu Long. Rồi lại giành phần xây các nhà máy nhiệt điện với công nghệ lạc hậu cũng tại đồng bằng sông Cửu Long để phá hoại môi trường nơi đây. Vậy là họ đã đóng được cửa phía Tây và phía Nam của ta.  Ở phía  Tây, phía Bắc, thì đã có các dự án trồng rừng biên giới, bô xit Tây Nguyên, phía Đông thì có Nghi Sơn, Vũng Áng… còn cửa ra nào cho VN ta? Vậy họ muốn ‘bắt’ ta lúc nào chẳng được! Cặp bài trùng của kế ‘quan môn…’ kia là kế ‘Phản khách vi chủ’- kế thứ 30. Báo chính thống cũng cho biết, tất cả các nơi TQ thuê đất của VN, họ đều ngang nhiên coi như tô giới riêng, họ chiếm quyền làm chủ, còn quản lý địa phương vốn là chủ thì trở thành khách, thậm chí không bằng khách, vì họ chẳng bao giờ tỏ thiện chí mời loại khách này vào thăm, đương nhiên có muốn xin vào thăm, họ cũng chẳng cho (trừ trường hợp vừa rồi, ông Tổng Trọng bỗng dưng được họ mời vào thăm rất trân trọng). Đã thực hiện được ‘phản khách vi chủ’ trên đất của Việt Nam, nhưng đôi khi cần thiết, TQ vẫn không ngại dùng ‘Khổ nhục kế’- kế thứ 34. Sự việc chưa xa là vào giữa năm 2014, khi nhân dân VN phẫn nộ xuống đường biểu tình đòi giàn khoan HD 981 của TQ cút khỏi biển Đông. Người Việt thì biểu tình ôn hòa, nhưng chính TQ đã kích động một số phần tử quá khích xông vào đập phá mấy nhà máy mang yếu tố Trung Quốc để lu loa, đòi nhà cầm quyền VN phải xin lỗi, phải bồi thường. Và đau hơn, là đã khéo léo khiến phía VN phải lấy gậy tự đánh vào đồng bào mình, bênh che cho TQ.( cái kế này, người VN đã từng biết, và các cụ ta gọi nôm na nó là ‘cào l.. ăn vạ’)
Còn đây, kế quan trọng nhất cũng đã thi hành: ‘Cầm tặc cầm vương’- kế thứ 18, nghĩa là muốn bắt ‘giặc’thì cốt nhất là phải bắt được vua của nó. Thực tế quá rõ rồi, các ông vua đều đã bị họ cầm tù bằng gái, bằng tiền và bằng…ý thức hệ! Nên bây giờ họ muốn gì được nấy, bảo gì nghe nấy. Thực tế cũng đã cho thấy, khi ‘cầm Vương’ rồi, họ liền thi hành kế ‘Thâu lương hoán trụ’- kế thứ 25. Nghĩa là họ đã giành quyền thay đổi, sắp xếp nhân sự quan trọng trong lãnh đạo VN. Sự này đâu còn là điều gì bí mật qua mấy kì đại hội?
Bài viết đã quá dài, không thể vạch vòi cho đủ những cách TQ vận dụng cả 36 kế sách để o ép VN. Cần nói, kế sách TQ dùng để ‘bình thiên hạ’không chỉ thể hiện ở những sách chuyên về chính trị quân sự, mà còn có thể tìm thấy ở cả những sách văn chương như kiểu Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử v.v..Vì tư duy trị quốc gắn với bình thiên hạ nó đã khu trú quá lâu trong trí não người TQ.(Xin mạn phép cung cấp dưới bài viết một danh mục sách nên đọc để hiểu sâu hơn về lý tưởng Tu- tề- trị- bình của các chính khách TQ cổ kim).
Cho đến lúc này, đã trên 50 ngày trôi qua rồi mà nghi án Formosa xả độc làm chết cá, chết môi trường biển VN vẫn chưa được làm sáng tỏ. Nhưng như trên đã nói,Formosa có thực sự dính án hay không thì nó cũng chỉ là một mắt xích trong liên hoàn kế của chủ nghĩa bá bành Trung Quốc. Không có Formosa thì đã có bao nhiêu dự án tai hại khác. Quan trọng là những người có quyền chấp nhận hay bác bỏ dự án TQ trên đất nước mình có đủ tỉnh táo, khôn ngoan và có tâm với đất nước hay không. Làm lãnh đạo ( nhất là lãnh đạo độc quyền toàn trị như bây giờ) có chịu đọc các sách vở TQ, VN và thế giới hay không. Hay thì giờ vàng ngọc của các vị còn phải dùng để tính toán kiếm tiền ‘phao chuyên’ từ các dự án TQ, hoặc để chơi bời đàng điếm, hoặc để nghĩ mưu mẹo đối phó trấn áp những phản biện đúng đắn, những yêu cầu chính đáng của nhân dân, đối phó với cả các ‘đồng chí’ không cùng phe cánh? Xin nhắn các vị: không đọc thì là vô trách nhiệm, đọc mà không hiểu thì là vô trí tuệ, đọc hiểu mà không dám ra tay hóa giải các chiêu trò cùa TQ thì là vô bản lĩnh. Các vị có muốn nhận mình là loại người lãnh đạo ‘tam vô’ đó hay không? Theo tôi, chưa có thì giờ nhiều, thì ít nhất (nếu chưa lú hẳn) các vị hãy vào mạng mà đọc cho được cuốn Binh Pháp Tôn Tử đã có bản tiếng Việt, ít chữ thôi, chưa đến 100 trang khổ sách thông thường. Cũng mong các vị tìm đọc các bài của nhân vật đang nổi của TQ Lưu Á Châu, và bài nói nóng hổi của Tổng thống Obama mới nói ở Mỹ Đình ngày 24-5-2016 vừa qua. Các bài này đều rất dễ tìm trên mạng. (lưu ý, bài nói của ông Obama có mấy bản dịch, xin hãy tìm bản chuẩn của Sứ quán Mỹ cung cấp). Các vị có biết bao nhiêu người VN đồng tình và hoan nghênh bài nói đó không? Các vị nên tìm hiểu để biết lòng dân bây giờ ra sao. Xin chào!
NNB (Tác giả gửi BVB)
------------------------
* Nguồn tham khảo:
- Danh mục sách tối thiểu cần đọc để hiểu về các kế sách trị quốc, bình thiên hạ của các nhà cai trị ở Bắc Kinh:
- Binh pháp Tôn Tử.( đã có tiếng Việt)
- Tứ thư ngũ kinh (Hiện chưa có bản tiếng Việt, các lãnh đạo muốn đọc thì cho dịch ra).
- Sử ký Tư Mã Thiên (đã có tiếng Việt).
- Tam quốc diễn nghĩa (rất nhiều bản tiếng Việt).
- Tuyển tập Mao Trạch Đông (chưa thấy bản tiếng Việt).
- Đặng tiểu Bình, một trí tuệ siêu việt (sách này đã xuất bản chính thống ở VN, đã và đang bị dư luận ném đá vì ca ngợi nhân vật đã lên tiếng ‘trừng phạt VN’, quả thật không nên phổ biến trong nhân dân, nhưng lấy làm sách cho lãnh đạo tham khảo thì cần thiết).
- Tập đại thành cải cách mở cửa của TQ (không biết đến nay đã có cơ quan nghiên cứu nào dịch ra chưa, nhưng tôi biết sách đã có ở vài thư viện lớn ở nước ta).
- Và cuốn sách chính thống cuả Việt Nam: Sự thật quan hệ Việt – Trung 30 năm qua- NXB Sự Thật.

Powered By Blogger