Friday, October 31, 2014

Nạn buôn người qua Trung Quốc bùng phát ở Tây Ninh

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam-RFA Phần âm thanh
Cửa khẩu Mộc Bài Tây Ninh Cửa khẩu Mộc Bài Tây Ninh RFA
Thời gian gần đây, các ổ mại dâm và đường dây tổ chức buôn bán phụ nữ sang Trung Quốc tại Tây Ninh hoạt động ráo riết, nhiều phụ nữa bị lừa bán sang Trung Quốc vì có hoàn cảnh gia đình khó khăn, vì ham tiền và phần khác là vì ngờ nghệch, không biết gì, chân ướt chân ráo lên các thành phố lớn làm thuê, cuối cùng bị dụ dỗ trôi về Tây Ninh và nhận kết cục đau lòng là bị bán cho Trung Quốc.
Tôn giáo bị chiếu cố, tội phạm được bỏ ngỏ
Một thiếu tá công an đã về hưu hơn sáu năm nay ở Tây Ninh chia sẻ: “Nói là nói vậy thôi chứ khi nó bể rồi mới quan tâm. Chứ nó đâu có rảnh đâu mà quan tâm, thành ra nó đâu diệt được tận gốc. Đúng là phải diệt từ mầm mống, nhưng cái này bể ra nó mới diệt thành ra đâu diệt được. Nó đi qua cửa khẩu qua Campodia, nhưng đó là trường hợp quá cảnh thôi. Nó không có passport, nó đi đường lậu, qua đó nó bàn giao cho người khác. Theo nhận định của tôi thì nó điều tra nó cũng biết vậy, qua đó rồi nó mới đi nước thứ ba.”
Theo ông thiếu tá công an này, chuyện mại dâm đã có mặt ở Tây Ninh từ rất sớm bởi vì sau 1975, thị xã Tây Ninh trở thành vùng xôi đậu, vừa là nơi của những tín đồ thuận thành của đạo Cao Đài sinh sống lại vừa là nơi của các đầu gấu, ma cô và dân buôn lậu hoạt động, càng về sau, các ổ mại dâm càng phát triển mạnh ở đây bởi không có vùng đất nào vừa hoang vắng lại có đường rừng giao thoa với các tỉnh khác cũng như có biên giới kết nối với nước Campodia như Tây Ninh.
Khi có biến, bọn tội phạm chỉ cần băng các rừng cao su để chuyển sang địa bàn tỉnh khác hoặc trốn sang Campodia theo đường cắt rừng, mọi chuyện trở nên khó khăn đối với các cơ quan an ninh. Càng về sau, hoạt động tội phạm ở Tây Ninh càng phát triển. Có hai nguyên nhân dẫn đến sự bùng phát tội phạm ở đây: Sự tĩnh lặng của tôn giáo và; Sự quản lý không chặt chẽ của nhà cầm quyền.
Bán hàng gần cửa khẩu Mộc Bài Tây Ninh. RFA
Bán hàng gần cửa khẩu Mộc Bài Tây Ninh. RFA
Ở nguyên nhân thứ nhất, ông cựu sĩ quan công an này cho rằng đa phần những tín đồ tôn giáo, từ Cao Đài cho đến Phật Giáo, thậm chí Thiên Chúa Giáo đều ít quan tâm đến chuyện thị phi xã hội, đặc biệt là những chuyện nhạy cảm họ càng không quan tâm bởi triết lý về duyên nghiệp, nhân quả hay định mệnh của các tôn giáo không cho phép các tín đồ xắn tay làm những chuyện không thuộc về chức năng của họ mà lại dính đến nhà cầm quyền. Tố cáo người khác kiếm cơm bằng nghề mại dâm cũng là điều mà các tín đồ ngại can thiệp nhằm giữ sự an tĩnh luân hồi.
Lợi dụng sự an tĩnh của tôn giáo, những kẻ bất hảo thường tìm đến Tây Ninh như một mảnh đất dung thân an toàn để hoạt động. Nhưng, cũng theo ông cựu sĩ quan này, còn một vấn đề khác khá nhạy cảm là đạo Cao Đài ở Tây Ninh phát triển rất mạnh và đã nhân rộng trên toàn thế giới, Tòa Thánh Tây Ninh trở thành chiếc nôi tâm linh của tín đồ Cao Đài toàn thế giới. Chính vì vậy, mọi sự giám sát của ngành công an nhắm vào tôn giáo nhiều hơn là tội phạm.
Và đôi khi sự nở rộ tội phạm trên mảnh đất thiêng Tây Ninh cũng nằm trong một chủ trương nào đó nhằm kìm hãm sự phát triển của tôn giáo cũng như làm giảm uy tín của miền đất thánh này. Cho đến khi mọi sự đã đi vượt tầm kiểm soát, ngành an ninh mới loay hoay tìm cách đối phó, khống chế.
Nhưng đó cũng là sự đã rồi, đã có rất nhiều cô gái miền Tây bị bán sang Trung Quốc theo đường dịch vụ việc làm ngoài luồng, dắt mối làm osin, phụ giúp việc nhà, bị dụ dỗ lên Tây Ninh để sang Campodia theo đường du lịch, sau đó gặp các tay môi giới tại Campodia, lại trở về Việt Nam để đi sang Trung Quốc theo đường du lịch hoặc tìm cách đi thẳng từ Campodia sang Trung Quốc, bi kịch số phận của họ phủ xuống từ đó.
Thậm chí, việc mua bán nội tạng cũng diễn ra với tầng suất rất cao ở tây Ninh. Đó là nhận định của một cựu sĩ quan công an Tây Ninh mà theo ông kết luận thì việc này có tay của một số sĩ quan công an cao cấp ở tỉnh này nhúng vào.
Tình trạng rối rắm ở cửa khẩu Mộc Bài
Ông Phó, cư dân lâu năm của Tây Ninh, chuyên buôn hàng hóa từ Campodia về Việt Nam, chia sẻ: “Trung Quốc thì nó đi theo hướng đó. Qua bên Campodia thì đa phần thì họ đi buôn bán, còn lại là casino, gái gú, qua mấy khu ăn chơi bên đó toàn người Việt. Người Việt mình bên đó nhiều, nhưng đa số mình phải qua môi giới, tức là mình nhờ một người nào bên đó có chức quyền đứng ra lo hết, về mặt pháp lý, còn mình chỉ làm thôi, rồi tới tháng mình trả mấy đó. Đường dây nó cũng núp dưới bóng môi giới, một trùm nào đó bên đó.”

Theo ông Phó, việc tội phạm có đất hoành hành trên Tây Ninh là chuyện đương nhiên, nó giống như hệ quả tất yếu của mọi thứ tiêu cực do nhà nước gây ra. Đặc biệt là cửa khẩu Mộc Bài giáp giới giữa Việt Nam và Campodia, có thể nói rằng sự tham ô, hối lộ trắng trợn ở cửa khẩu này là môi trường tốt nhất cho nạn buôn người phát triển.
Đơn giản, bất kì người nào đi qua cửa khẩu Mộc Bài, khi làm thủ tục xuất cảnh hoặc nhập cảnh, đều phải kẹp tiền trong cuốn sổ hộ chiếu. Thấp nhất là 10 ngàn đồng, trung bình từ 20 đến 50 ngàn đồng, có những trường hợp đặc biệt phải kẹp đến tiền triệu. Khi làm thủ tục, nhân viên hải quan rút tiền trong hộ chiếu bỏ vào ngăn kéo và đóng dấu, cho đi qua.
Số tiền kẹp trong hộ chiếu càng cao, khả năng được duyệt giấy tờ để qua cửa càng sớm và đối tượng bị soi chiếu kĩ lưỡng ở hầu hết các cửa khẩu Việt Nam đều là đối tượng có dính líu đến chính trị, có từng tham gia biểu tình chống Trung Quốc và từng hoạt động đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền Việt Nam. Những đối tượng còn lại dễ dàng qua cửa, thậm chí đi rất nhanh nếu số tiền kẹp trong hộ chiếu cao hơn so với mọi người.
Các nhóm tội phạm buôn người đã dựa vào kẽ hở này, đưa các phụ nữ Việt Nam sang nước khác bằng con đường du lịch, chúng chỉ cần mua cho những con mồi tội nghiệp chiếc vé du lịch ở các hãng lữ hành, và trước đó là làm cho mỗi con mồi một hộ chiếu. Khi đưa con mồi đi, chúng chỉ cần nhét hơi nhiều tiền vào sổ hộ chiếu, mọi chuyện coi như trót lọt.
Và một khi tham nhũng, hối lộ, đút lót còn là vấn nạn của đất nước thì chuyện các nhóm buôn người tha hồ tung hoành ở Tây Ninh là chuyện đương nhiên, không có gì để bàn. Bởi, suy cho cùng, cách quản lý thiếu trách nhiệm của nhà cầm quyền đã đẩy đất nước này đi từ tệ nạn này sang tệ nạn khác!

Người tị nạn Việt Nam rời trại, sống tạm trong cộng đồng ở Úc

Một nhóm người tị nạn Việt Nam được đưa đến đảo Christmas ở Australia (ảnh chụp ngày 14/4/2013).
Một nhóm người tị nạn Việt Nam được đưa đến đảo Christmas ở Australia (ảnh chụp ngày 14/4/2013). VOA _Một nhóm hơn 50 thuyền nhân Việt Nam mới đây đã được cho ra khỏi trại tị nạn và sinh sống trong cộng đồng ở bang Tây Úc, Australia.
Tin cho hay, phần đông các thuyền nhân này là các tín đồ Công giáo, và người Việt ở miền Tây Australia đã mở rộng vòng tay đón chào họ.
Bác sĩ Nguyễn Anh Dũng, Chủ tịch Cộng đồng người Việt tại tiểu bang Tây Úc, cho VOA Việt Ngữ biết về đợt thả người tị nạn mới nhất này:
“Khoảng một trăm người được thả ra vào cái đợt cách đây khoảng 3 tuần, và 58 người được ở lại tiểu bang Tây Úc. Những người khác thì đi những tiểu bang khác. Họ là những người bị nhốt trong trại tù Yongah Hill khi mà họ vượt biên. Đó là tin rất phấn khởi cho mọi người bởi vì hầu hết những người đó là thanh niên, nam nữ có. Họ là những người trong giáo xứ tại Nghệ An và có một số tại Vũng Tàu bị chính quyền họ bắt bớ, đàn áp cho nên họ phải bỏ chạy.”
Ông Dũng cho biết những người này đã được cấp visa tạm thời, có thời hạn 12 tháng, trong khi đơn từ của họ được xét duyệt.
Nhân vật lãnh đạo cộng đồng người Việt, sang Australia tị nạn đầu những năm 80, cho biết cộng đồng đã chào đón họ tới “thế giới mới”, và chỉ dẫn cho họ những luật lệ cũng như cách thức hòa nhập cuộc sống, nhất là việc học tiếng Anh.
Lý do em ra đi là em muốn có một cuộc sống được tự do và có thể được làm những gì với khả năng của mình. Chúng em biết là nguy hiểm nhưng chúng em vẫn phải ra đi. Nguy hiểm mà chúng em gặp phải (trong hành trình) thì chắc chắn là thoải mái hơn là khi ở trong nước Việt Nam.
Một người tị nạn Việt Nam vừa được thả.
Một người vừa được thả sau 18 tháng ở trong trại, không muốn nêu danh tính vì sợ ảnh hưởng tới việc xét duyệt trường hợp của mình, nói với VOA Việt Ngữ rằng lý do quan trọng nhất khiến anh phải ra đi là “sự đàn áp của chính quyền”.
“Rất chi là vui, và thấy mình được may mắn hơn những người còn đang ở trong trại cũng như may mắn hơn những người muốn rời bỏ đất nước mà không rời bỏ được. Lý do em ra đi là em muốn có một cuộc sống được tự do và có thể được làm những gì với khả năng của mình. Chúng em biết là nguy hiểm nhưng chúng em vẫn phải ra đi. Nguy hiểm mà chúng em gặp phải (trong hành trình) thì chắc chắn là thoải mái hơn là khi ở trong nước Việt Nam.”
Theo ông Dũng, Australia đã “chu cấp cho họ tiền bạc để sống rất đầy đủ, giống như một người thất nghiệp tại Úc, với một điều kiện là họ không được đi làm bất cứ việc gì, kể cả những việc thiện nguyện”.
Bác sĩ Nguyễn Anh Dũng, Chủ tịch Cộng đồng người Việt tại tiểu bang Tây ÚcBác sĩ Nguyễn Anh Dũng, Chủ tịch Cộng đồng người Việt tại tiểu bang Tây Úc
Vị chủ tịch cộng đồng cho VOA Việt Ngữ biết rằng vẫn còn có khoảng hơn 100 người vẫn bị giam giữ tại trại Yongah Hill ở bang Tây Úc.
Ngoài ra, còn có người Việt bị giam trên hòn đảo Christmas, cách bờ biển Úc khoảng hơn 1.000 cây số.
Ông cho biết qua các cuộc tiếp xúc cũng như qua lời khai với chính quyền, các thuyền nhân đó đều là ‘các thanh niên trẻ, chống lại những việc tịch thu nhà cửa của các nhà thờ, giáo hội”, nên đã “bị thẩm vấn, bị đe dọa” khi còn ở Việt Nam.
Ông Dũng nói về khả năng hòa nhập cuộc sống của những người tị nạn nếu họ được chấp thuận ở lại Úc lâu dài.
“Tôi thấy là hầu hết các anh em vào khoảng chừng ba mươi mấy tuổi, cái quãng đấy là nhiều nhất. Tất cả 58 người đó thì có 4 cô gái, còn lại tất cả là thanh niên. Tôi nghĩ rằng nếu mà họ được ở lại thì họ sẽ hòa nhập xã hội rất là tốt tại vì họ còn trẻ, có khả năng học hành, có khả năng học nghề. Chúng tôi vượt biên ở cái tuổi già hơn, mà chúng tôi vẫn có thể thành công được. Đối với các anh em trẻ thì tôi nghĩ cơ may thành công lớn hơn rất nhiều”.
Khoảng 100 người được thả cách đây khoảng 3 tuần…Họ là những người trong giáo xứ tại Nghệ An và có một số tại Vũng Tàu bị chính quyền họ bắt bớ, đàn áp cho nên họ phải bỏ chạy.
Bác sĩ Nguyễn Anh Dũng, Chủ tịch Cộng đồng người Việt tại tiểu bang Tây Úc.
Báo chí Australia trích dẫn số liệu của Bộ Di dân nước này cho biết con số người Việt Nam xin tị nạn đã tăng vọt trong những năm vừa qua, nhưng chưa công bố các lý do dẫn tới việc này.
Trong khoảng thời gian từ năm 2012 tới năm 2013, con số thuyền nhân vượt biển sang Úc tăng tới 30 lần. Theo đại sứ quán Australia ở Việt Nam, hầu hết các thuyền nhân tìm đường sang Úc là người tỉnh Nghệ An.
Trong cuộc tiếp xúc với Đại sứ Australia năm 2012, giới chức tỉnh này cho biết đa số người Nghệ An vượt biên trái phép “theo đạo thiên chúa, trình độ dân trí thấp, hoàn cảnh sống hết sức khó khăn bị đường dây mua bán vận chuyển người dụ dỗ”.
Chính phủ Australia từng tuyên bố sẽ cùng hợp tác với Việt Nam để “bắt giữ và khởi tố những người tổ chức đưa người vượt biên trái phép và ngăn chặn hành vi kinh doanh nguy hiểm dựa trên sinh mạng của con người”.
Mới đây nhất, hồi tháng Bảy, Tòa án tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã tuyên án tù đối với ba người vì “đã tổ chức đưa 84 người vượt biên sang Úc” năm 2013. Sau hơn chục ngày lênh đênh trên biển, nhóm người này đã bị giới hữu trách Úc bắt giữ.

Từ chối bạn, chào đón kẻ thù


Có lẽ các bạn đã biết ký giả Bill Hayton vừa mới xuất bản một cuốn sách có tựa đề là “The South China Sea: The Struggle for Power in Asia” (Biển Đông: Cuộc Đấu Tranh Quyền Lực ở Á Châu). Tôi chưa đọc cuốn sách (và chắc cũng không có thì giờ đọc trong tương lai gần) nhưng có nhận bài điểm sách của David Brown đăng trên Asia Sentinel (1). Đọc bài điểm sách này, tôi thấy sách có lẽ là nguồn thông tin tốt cho những ai còn quan tâm đến chủ quyền biển đảo và sự đe doạ của Tàu cộng đối với Việt Nam. Nhưng câu chuyện về mối liên hệ giữa cá nhân của tác giả với Chính phủ VN cũng thú vị.
Trong sách, Bill Hayton chứng minh rằng những yêu sách về chủ quyền ở Biển Đông của Tàu cộng dựa trên chứng cứ lịch sử là rác rưởi. Ông chỉ ra rằng những chứng cứ đó không thể nào đứng vững khi xem xét đến các văn chứng của triều Nguyễn của Việt Nam. Từ 1750, triều Nguyễn đã điều các đội hải quân ra trấn giữ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đội quân triều Nguyễn còn có chức năng cứu vớt thuyền bị nạn, và mỗi chuyến hải hành, họ ghi lại trong sử sách rất cẩn thận.
Thật ra, những cái gọi là chứng cứ lịch sử của Tàu cộng về chủ quyền Biển Đông thì những học giả nghiêm chỉnh đều bác bỏ và chẳng xem ra gì. Nhưng bác bỏ những chứng cứ đó một cách có hệ thống, có khoa học, và ghi thành một cuốn sách như Bill Hayton đã làm là một công lớn. Một số học giả VN ở trong nước suốt ngày này sang tháng nọ nói về chủ quyền, về văn bản triều Nguyễn, về “chứng cứ không thể chối cãi”, nhưng chưa có ai hệ thống hoá chứng cứ thành một cuốn sách viết bằng tiếng Anh. Nói như thế để thấy cái công của Hayton là đáng kể.


Ấy thế mà Việt Nam ngày nay ngưng “lải nhải” (chữ của bài điểm sách) về chủ quyền mang tính lịch sử của mình! Thay vào đó, Việt Nam cầu khẩn thế giới tuân thủ theo luật biển UNCLOS (1994). Thái độ đó gián tiếp nói rằng Việt Nam công nhận chủ quyền của Tàu cộng trên những quần đảo họ đã đánh chiếm bằng vũ lực từ VN. Còn Tàu cộng thì họ biết các yêu sách và chứng cứ của họ yếu, nên họ dùng vũ lực và tẩy não. Họ tẩy não người Tàu rằng chủ quyền của Tàu cộng ở Biển Đông là không thể chối cãi, rằng các nước nhỏ như Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai đang chiếm biển đảo của Tàu!
Nhưng đoạn tái bút của bài điểm sách mới là thú vị vì liên quan đến cá nhân tác giả. Bill Hayton là phóng viên của đài BBC và từng công tác ở Việt Nam trong thời gian 2007-2008. Dù Bill Hayton có quan điểm và phát biểu có lợi cho Việt Nam trong cuộc đấu tranh duy trì chủ quyền biển đảo, nhưng ông không được Việt Nam chào đón. Thật ra, Chính phủ Việt Nam cấm không cho ông vào Việt Nam!
Năm 2012, Hayton xin visa để vào VN dự hội nghị về biển đảo do Bộ Ngoại giao VN tổ chức, nhưng đơn của ông bị bác. Vài tháng sau, ông lại đệ đơn xin visa vào VN để phỏng vấn các quan chức cho cuốn sách này, và một lần nữa, Chính phủ VN không cho ông vào. Hệ quả là ông không có nhiều chất liệu để viết về VN trong cuộc đấu tranh chủ quyền về biển đảo. Do đó, phần liên quan đến Việt Nam trong cuốn sách này tương đối “mỏng” so với các phần khác.

Phải nói thái độ của Chính phủ VN thật khó hiểu. Theo suy nghĩ bình thường, trong khi các học giả VN chưa viết được hay chưa đủ khả năng viết được một cuốn sách như Bill Hayton, thì đáng lẽ phải chào đón một người có quan điểm “gần” VN như Bill Hayton đến VN, hay ít ra là cung cấp dữ liệu cho ông ấy. Nhưng suy nghĩ bình thường đó có lẽ không ăn khớp với suy nghĩ của Nhà nước. Nghe nói trong thời gian làm ký giả ở VN, Hayton đã có những bài làm cho Chính phủ VN không hài lòng. Nhưng tôi nghĩ việc nào ra việc đó, có thể những bài đó không hợp gu với Chính phủ, nhưng về Biển Đông thì nên sử dụng mọi quan điểm và dữ liệu từ mọi nguồn để đem lại lợi ích cho chủ quyền quốc gia.
Nếu Chính phủ VN chào đón các học giả Tàu vào VN tham dự hội nghị (và đó là quyết định hoàn toàn đúng) thì VN chẳng có lý do gì để từ chối không cho người bạn như như Bill Hayton vào VN.

Vì sao một ký giả am tường “chứng cứ lịch sử về Biển Đông của Việt Nam” như Bill Hayton xin visa vào Việt Nam hai lần đều bị Nhà nước từ chối?
GS Nguyễn Văn Tuấn đọc cuốn sách Biển Đông: Cuộc đấu tranh quyền lực ở Á Châu (The South China Sea: The Struggle for Power in Asia) công bố ở Hoa Kỳ mới đây cảm thấy ngạc nhiên trước một cây bút người Mỹ mà nắm vững lịch sử chủ quyền biển Đông rành rẽ như Bill Hayton, đồng thời cũng lấy làm lạ về một người có quan điểm gần gũi Việt Nam như ông ký giả này mà hai lần xin visa vào nước ta dự Hội nghị về Biển Đông và tìm kiếm thêm tư liệu cho cuốn sách của mình lại không được nhà nước CSVN chấp nhận.
Chúng tôi thì chẳng lạ gì chuyện đó.

Thưa GS, khi người ta đang sống trong tâm trạng lo lắng thường trực về nguy cơ bị truống khỏi chiếc ghế quyền lực không biết lúc nào (nói là “hệ tư tưởng XHCN lung lay” cho có vẻ to tát, kỳ thực là “độc quyền phe đảng” lung lay, mà “độc quyền phe đảng” thì bảo lưu cho cái ghế mình đã ngồi chễm chệ trong gần suốt 70 năm) thì còn nghĩ được gì về những chữ thiêng liêng như TỔ QUỐC, QUỐC GIA, DÂN TỘC… vốn nằm ngoài hiểu biết và trí tuệ của họ – những kẻ xuất thân từ “khoai sắn:
Ngày xưa khoai sắn sống lang thang
Bãi cát cồn khô mé núi hoang
Không hỏi đòi chi hồn giản dị
Quanh năm bè bạn chị em làng
Một buổi cờ son lên nối ngôi
Sao thiêng nghiêng xuống luống cày tồi
Sắn khoai hăm hở về dinh chiếm
Quyền sống trên miền rối cỏ hôi…”
Tố Hữu
(Nên nhớ các sách ABC chủ nghĩa cộng sản vẫn giải thích cộng sản là vô tổ quốc).

Bởi thế, họ làm sao có được cái nhân cách ngời ngời của một Mạc Ngọc Liễn, Thái phó nhà Mạc, vào năm 1594, khi quân lính của Mạc đang thua lụn bại trước sức tấn công vũ bão của phe Trịnh Tùng, biết mình bệnh nặng sắp chết ông vẫn viết thư căn dặn khẩn thiết vua Mạc Kính Cung, dù vương triều Mạc có mệnh hệ gì cũng “nhất thiết chớ mời người Minh vào nước ta, để đến nỗi dân ta phải chịu lầm than. Đó cũng là tội không gì nặng bằng” (Đại Việt sử ký Bản kỷ tục biên, Q.XVII, tờ 48b – 49a).
Không! Họ không có được lấy một phần trăm phẩm chất cao quý con nhà ấy đâu. Nghĩ thế cũng đã là sang trọng cho họ quá! Xuất thân “khoai sắn” thì đi đến đâu chỉ phá phách tanh bành đến đấy theo cung cách “ăn xổi” là đủ – Rồi từ hôm ấy bọc Hoàng cung / Lớp lớp khoai xanh mướt vạn vồng… (Tố Hữu, bài đã dẫn). Đào xới cả vườn ngự lên mà trồng khoai trồng sắn thì làm sao quản lý nổi một đất nước có lịch sử bề thế hàng nghìn năm về cả vật chất lẫn tinh thần, để đến nỗi dẫn đến tình trạng cả một nước tuột dốc không phanh, “nát như tương” về mọi mặt, như cơ sự ngày hôm nay thì đủ rõ (xin xem Chùm bài lên tiếng về công an “bôi lem” đất nước và bài Ngập sâu trong lòng dân… tiếp sau bài này).

Thì ý niệm về “bảo vệ Tổ quốc” cũng trong một chiều hướng như thế đó. “Khoai sắn” cho nên tầm nghĩ chỉ có một mẩu, mới bị dỗ ngọt mà hớt hải kéo nhau đến hội nghị Thành Đô năm 1990. Ngẫu nhiên được thượng lên chiếc ngai vàng, cứ ngỡ là của “trời cho”, phải quyết giữ lấy và cướp thêm cho “toàn vẹn núi sông”, nên kiên trì dốc người dốc của đánh chiếm suốt 20 năm trong nội bộ “người trong một nước”, với cái “cao vọng” “đốt cháy cả rặng Trường Sơn” để giành cho được “một nửa kia” bằng bất kỳ giá nào. Còn khi lâm thế bí với giặc ngoài thì lại vội nghĩ trước sau gì mình cũng là “chư hầu”, bèn lệnh ngay cho quân lính hứng đạn chịu chết chứ không mảy may tự vệ, như ở Gạc Ma năm 1988. Mâu thuẫn mà thống nhất, không có gì là lạ.
Hãy cứ xem dưới đây hình ảnh những kẻ đang toa rập với nhau quyết tiếp tục khấu đầu “4 tốt, 16 chữ vàng” trước bọn bành trướng Đại Hán, ngay giữa tình thế cả nước đang sục sôi vì giàn khoan HD 981 của chúng ngang ngược cắm vòi sâu vào hải phận nước ta và làm cả thế giới kinh ngạc – đấy cũng là một kiểu chạy mánh “ăn xổi” chứ còn gì nữa:

Bên hành lang QH ngày 21-5-2014, với đôi mắt lim dim, khuôn mặt thật gợi cảm và cái miệng dẻo, ông Vũ Mão đang cúi đầu trước ngài TBT mà rằng: “Chúng ta nên nói với nhân dân thế nào về phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt trong quan hệ đối ngoại hai nước? Tôi cho rằng, 16 chữ ấy có thể có lúc không đạt được nhưng nó vẫn là cái mong muốn muôn thuở”.
Còn vô số những hình ảnh khác nữa, cứ tự do chường ra khắp đó đây, vừa bẽ bàng với quốc tế mà ngay trong nước, hang cùng ngõ hẻm nào cũng phải bàn tán, xì xào. Nhưng thôi, chỉ một hình ảnh ấy cũng đã đủ để giải thích lý do ký giả Bill Hayton hai lần không được cấp phép vào Việt Nam. Có ai dại gì đi cấp phép cho cái anh nhà báo tuy có con mắt nhìn tinh tường về Biển Đông làm lợi cho đất nước mình đấy, nhưng lại cũng không kém sắc sảo để xoi mói đến tận… những chiếc ghế trong thâm cung mà người ta đang cố bám chặt, lâu bao nhiêu hay bấy nhiêu. Nước mất ư? Thì đã có vàng ký gửi trong các ngân hàng Thụy Sĩ và có nhà mua sẵn ở Mỹ đâu đấy cả rồi, lo quái gì.

Nguyễn Tuấn

(1) http://www.asiasentinel.com/book-review/south-china-sea-struggle-power-asia/

Philippines kiện Trung Quốc: Tòa án Liên Hiệp Quốc ra quyết định vào đầu năm 2016

mediaĐảo Thị Tứ trong quần đảo Trường Sa, vùng lãnh hải tranh chấp giữa Trung Quốc, Đài Loan, Philippines và Việt Nam.(DR)
Đức Tâm
Ngoại trưởng Philippines, ngày hôm nay, 30/10/2014, cho biết, Tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc, có trụ sở tại Hà Lan, có thể ra quyết định trong năm 2016, về vụ Manila kiện Bắc Kinh liên quan đến tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông.
Vào tháng Giêng năm 2013, Philippines đã nộp đơn kiện lên Tòa án trọng tài bác bỏ bản đồ 9 đường đứt đoạn – mà Việt Nam gọi là bản đồ đường lưỡi bò – do Trung Quốc đưa ra để khẳng định chủ quyền và lãnh thổ của mình đối với khoảng 80% diện tích của Biển Đông.
Trả lời đài truyền hình ANC, Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario nói : « Chúng tôi hy vọng có quyết định vào trong năm 2016 ». Manila hy vọng có quyết định của Tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc sẽ làm rõ các quyền hàng hải của Philippines ở Biển Đông, và nhờ vậy, có thể mở đường cho việc giải quyết các tranh chấp.

Vào tháng 03/2014, Philippines đã nộp lên tòa án hồ sơ pháp lý 4000 trang, bao gồm nhiều bằng chứng, bản đồ, chứng minh cho đòi hỏi của mình và thuyết phục tòa tuyên bố bản đồ đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông là vô giá trị.
Manila gọi Biển Đông là biển Tây Philippines, bao gồm cả vùng đặc quyền kinh tế được Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 thừa nhận. Các đòi hỏi chủ quyền, lãnh thổ của Trung Quốc chồng chéo với các vùng biển của một số láng giềng Châu Á, như Việt Nam, Philipines, Malaysia, Brunei và Đài Loan.
Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố không tham gia vụ kiện nói trên và cho rằng các bên liên quan cần đàm phán trực tiếp với nhau. Tuy nhiên, Tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc vẫn đề nghị Trung Quốc cung cấp tài liệu phản bác các lập luận của Philippines vào trước ngày 15/12/2014.
Theo Ngoại trưởng Rosario, nếu Trung Quốc không đáp ứng yêu cầu của Tòa án, thì vụ kiện của Philippines sẽ được giải quyết nhanh hơn, bởi vì tiến trình xem xét, ra phán quyết của Tòa vẫn tiếp tục, cho dù Trung Quốc có tham gia hay không.
Ông Rosario giải thích, nếu Trung Quốc không nộp tài liệu, phản bác đề nghị của Philippines, thì kể từ ngày 16/12/2014, Tòa sẽ đưa ra các câu hỏi cho phía Philippines. Trong tháng Ba và tháng Bảy năm 2014, Manila đã cung cấp thêm tài liệu và sẽ trình bày lập luận của mình trước Tòa trong hai tuần lễ. Tòa án sẽ dành nhiều tháng để nghiên cứu hồ sơ và có thể ra quyết định cuối cùng trong năm 2016.
Trang web của đài truyền hình Philippines GMA News, dẫn lời các chuyên gia pháp lý, cho rằng các bằng chứng lịch sử mà Trung Quốc đưa ra trong các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, không phù hợp với luật pháp quốc tế đương đại.

Giành lại tương lai của Hồng Kông

Joshua Wong Chi-Fung – Trà Mi lược dịch

Joshua Wong Chi-Fung1“Hôm nay quý vị đang lấy đi tương lai của chúng tôi, nhưng cái ngày mà chúng tôi quyết định tương lai của ông bà sẽ đến.” – Joshua Wong Chi-Fung (Hoàng Chí Phong).
BBieeu tình đồi đan chủ, phổ thông đầu phiêu tại Hong Kong (29/9/2014). Ảnh: TNYT

Biểu tình đòi dân chủ, phổ thông đầu phiếu tại Hong Kong (29/9/2014). Ảnh: TNYT/Dale De La Rey/Agence France-Presse — Getty Images
HONG KONG – Đêm thứ Ba đánh dấu một tháng kể từ ngày cảnh sát Hồng Kông tấn công người biểu tình ủng hộ dân chủ ôn hòa bằng hơi cay và lựu đạn khói, đã vô tình gây cảm hứng cho hàng ngàn người đến chiếm giữ đường phố đòi quyền tự do bầu chọn lãnh đạo của Hồng Kông.
Tôi đã bị cảnh sát bắt giữ ngày hôm đó, ngày 28 tháng 9, vì đã tham gia vào vụ bất tuân dân sự ở phía trước của trụ sở chính của chính phủ do sinh viên lãnh đạo. Tôi đã bị giam giữ 46 tiếng, cắt đứt với thế giới bên ngoài. Khi được trả tự do, tôi rất cảm động khi thấy hàng ngàn người trên đường phố, tập hợp đòi dân chủ. Từ đó tôi biết rằng thành phố này đã mãi mãi thay đổi.
Kể từ khi Hồng Kông được (Anh Quốc) trả lại cho Trung Quốc vào năm 1997, chưa đầy một năm sau khi tôi ra đời, người dân của thành phố này đã lầm lũi trong một hệ thống chính trị mà quyền lực nằm trong tay của những người giàu có, nổi tiếng, và băng đảng. Nhiều người trong chúng tôi, đặc biệt là người thuộc thế hệ của tôi, đã hy vọng thay đổi dân chủ cuối cùng đã đến sau nhiều năm Bắc Kinh hứa hẹn rằng chúng tôi sẽ có bầu cử tự do. Thay vào đó, vào cuối tháng Tám, Bắc Kinh đã phán quyết rằng băng đảng đầu sỏ của Hồng Kông sẽ vẫn là chóp bu. Phổ thông đầu phiếu đã trở thành một giấc mơ tan vỡ.

Nhưng không bao lâu. Hàng nghìn người biểu tình, hầu hết còn trẻ, những người tiếp tục chiếm khu vực chính của thành phố mỗi ngày đều cho thấy thay đổi chính trị cuối cùng sẽ đến bằng sự kiên trì. Cuộc biểu tình dân chủ hòa bình của chúng tôi đã phá hủy huyền thoại rằng đây là một thành phố của những người chỉ quan tâm đến tiền bạc. Hồng Kông, muốn cải cách chính trị. Hồng Kông, muốn thay đổi.
Thế hệ của tôi, cái gọi là thế hệ hậu-90 trưởng thành sau khi Hồng Kông đã được trả lại cho Trung Quốc, sẽ bị mất mát rất nhiều nếu Hồng Kông chỉ trở thành như là một thành phố của Trung Quốc đại lục, nơi không có tự do chia sẻ thông tin và pháp luật bị xem thường. Chúng tôi rất tức giận và thất vọng với Bắc Kinh và chính quyền địa phương của Leung Chun-ying (Lương Chấn Anh) đang cố tình đánh cắp tương lai của chúng tôi.
Thế hệ hậu-90 đang lớn lên trong một thành phố thay đổi vô cùng so với thời của cha mẹ và ông bà của chúng tôi. Các thế hệ trước đó, nhiều người từ Trung Quốc đại lục đến đây, muốn một điều: một cuộc sống ổn định. Một công việc chắc chắn luôn luôn quan trọng hơn chính trị. Họ làm việc chăm chỉ và không đòi hỏi gì hơn là một số tiện nghi và ổn định.
Những người của thế hệ tôi muốn nhiều hơn nữa. Trong một thế giới mà ý tưởng và lý tưởng tự do phát triển, chúng tôi muốn những gì mọi người khác trong một xã hội tiên tiến dường như đang có: quyền quyết định tương lai của chúng tôi.
Tình hình kinh tế ảm đạm của chúng ta góp phần vào sự thất vọng của chúng tôi. Triển vọng về công ăn việc làm quá tồi tệ; tiền thuê nhà và giá bất động sản vượt quá khả năng của giới trẻ. Khoảng cách giàu nghèo của thành phố thì sâu hoắm. Thế hệ của tôi có thể là thế hệ đầu tiên ở Hồng Kông sẽ nghèo hơn so với cha mẹ của chúng tôi.
Cha mẹ tôi không phải là người hoạt động chính trị. Nhưng trong vài tháng qua, vì vai trò nổi bật của tôi trong phong trào, địa chỉ nhà của gia đình tôi đã bị tiết lộ trên mạng, và cha mẹ tôi đã bị sách nhiễu. Mặc dù bi quấy rầy, cha mẹ tôi vẫn tôn trọng sự lựa chọn của tôi, tham gia vào các cuộc biểu tình. Họ cho tôi tự do làm những gì tôi tin là quan trọng.
Những người trẻ tuổi khác không được may mắn như vậy. Nhiều thanh thiếu niên tham dự cuộc biểu tình với chúng tôi không được cha mẹ đồng ý. Họ bị trích vì đấu tranh cho dân chủ, và nhiều người cuối cùng phải nói dối với cha mẹ về những sinh hoạt buổi tối. Tôi đã nghe được những câu chuyện cha mẹ xóa địa chỉ liên lạc và trao đổi trên mạng xã hội trong điện thoại di động của con em của họ để ngăn cản thanh niên thiếu nữ tham gia các nhóm hoạt động.
Sự tỉnh thức chính trị của thế hệ tôi đã được nung nấu trong nhiều năm qua. Gần năm năm trước đây, những người trẻ tuổi đã dẫn đầu cuộc biểu tình chống lại việc xây dựng lãng phí của một tuyến đường sắt mới nối Hồng Kông với Trung Quốc đại lục. Năm 2011, nhiều người trẻ tuổi, trong đó có tôi, đã tổ chức để chống lại một chương trình giáo dục quốc dân tuyên truyền của Trung Quốc mà Bắc Kinh cố gắng áp đặt cho chúng tôi. Tôi, lúc đó 14 tuổi, và tất cả tôi có thể nghĩ là các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh không có quyền tẩy não chúng tôi bằng quan điểm xuyên tạc của họ về thế giới.
Nếu có điều gì tích cực về quyết định mới đây của chính phủ trung ương về quyền phổ thông đầu phiếu thì đó chính là bây giờ chúng tôi biết rõ vị trí chúng tôi đang đứng. Bắc Kinh tuyên bố sẽ cho chúng tôi một người, một phiếu bầu, nhưng kế hoạch chỉ có ứng cử viên được chính phủ phê duyệt mới có thể tranh cử không thể gọi là cuộc phổ thông đầu phiếu. Trong việc lựa chọn lối đi này, Bắc Kinh đã cho thấy họ nghĩ thế nào là công thức “một quốc gia, hai chế độ” đã quản trị thành phố từ năm 1997. Với Bắc Kinh thì “một quốc gia” đứng trước.
Cảnh sát HK với dùi cui, lựu đạn cay đi dẹp biểu tình (28/9/2014). Ảnh: Xaume Olleros/Agence France-Presse — Getty Images.
Cảnh sát HK với dùi cui, lựu đạn cay đi dẹp biểu tình (28/9/2014). Ảnh: Xaume Olleros/Agence France-Presse — Getty Images.
Tôi tin rằng quyết định tháng Tám và phản ứng mạnh mẽ của cảnh sát Hồng Kông với những người biểu tình – bắn hơn 80 lựu đạn cay vào đám đông và sử dụng bình xịt hơi cay với dùi cui – là một bước ngoặt. Kết quả là cả một thế hệ đã được chuyển hóa từ những người đứng bên lề thành những người hoạt động. Người dân đã bị buộc phải đứng lên và tranh đấu.
Ngày nay, có rất nhiều học sinh trung học hoạt động trong phong trào dân chủ: Học sinh mới ở tuổi 13 đã tẩy chay lớp học, trong khi thanh thiếu niên ở mọi lứa tuổi đã ở lại qua đêm tại địa điểm biểu tình. Họ phảng kháng một cách thanh nhã, mặc dù bị cảnh sát và những tên côn đồ đâm thuê chém mướn tấn công.
Một số người nói rằng chính phủ giữ vững lập trường chống lại phổ thông đầu phiếu chính hãng thì đòi hỏi của chúng tôi sẽ không thể đạt được. Nhưng tôi tin rằng hoạt động là làm cho những việc “không thể” trở thành “có thể”. Giai cấp thống trị của Hồng Kông cuối cùng sẽ mất sự ủng hộ của người dân, và nagy cả khả năng cai trị, bởi vì họ đã đanh mất một thế hệ thanh niên.
Trong tương lai tôi có thể bị bắt lại một lần nữa và thậm chí có thể đi tù cho vì vai trò của tôi trong phong trào này. Nhưng tôi sẵn sàng trả giá đó nếu nó sẽ làm cho Hồng Kông thành một thành phố tốt hơn và công bằng hơn.
Phong trào phản kháng có thể cuối cùng sẽ không đạt kết quả. Nhưng, nếu không được gì khác thì nó đã đem lại niềm hy vọng.
Tôi muốn nhắc nhở tất cả mọi thành viên của giai cấp thống trị tại Hồng Kông: Hôm nay quý vị đang lấy đi tương lai của chúng tôi, nhưng cái ngày mà chúng tôi quyết định tương lai của ông bà sẽ đến. dù bất cứ chuyện gì có xảy ra cho phong trào phản kháng, chúng tôi sẽ đòi lại nền dân chủ của chúng tôi, vì thời gian đưng về phía của chúng tôi.
Thách đố với "một quốc gia, hai chế độ" (1/10/2014). Ảnh: Chris McGrath/Getty Images
Thách đố với “một quốc gia, hai chế độ” (1/10/2014). Ảnh: Chris McGrath/Getty Images
Joshua Wong Chi-Fung (黃之鋒, Hoàng Chí Phong) là một đồng sáng lập viên của nhóm sinh viên hoạt động Scholarism. Bài viết này được dịch từ tiếng bản tiếng Anh trên The New York Times đã được dịch từ tiếng Trung Hoa.
© 2014 DCVOnline

Nguồn: Taking Back Hong Kong’s Future. By JOSHUA WONG CHI-FUNG, The New York Times, OCT. 29, 2014.

Vì sao Việt Nam còn nghèo!?

“Lao động Việt Nam hoàn toàn làm chủ được các công nghệ, kỹ thuật hiện đại, đạt năng suất kỹ thuật không thua kém lao động nước khác, trong khi chi phí chỉ bằng 1/10 hoặc 1/20 ở các nước công nghiệp” - Tại Quốc Hội Chủ tịch TW/Mặt trận Tổ quốc CS Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân nói như vậy. (Dân trí.com)

Đó cũng là lời khẳng định của ông Nguyễn Thiện Nhân phản bác lại thông tin của ILO (Tổ chức Lao động Quốc tế Liên Hiệp Quốc) đề cập năng suất lao động của người Việt Nam năm 2013 được xếp vào nhóm thấp nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Chủ tịch Uỷ ban TƯ MTTQ Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân phát biểu tại phiên họp ngày 30/10 (Ảnh: Q.T)

Ông Nguyễn Thiện Nhân cho rằng nhận định như vậy là chưa phản ánh đúng bản chất kinh tế của khái niệm năng suất lao động và thực tế của Việt Nam vì năng suất lao động là kết quả phát triển lâu dài của một đất nước và do một hệ thống nhiều yếu tố chi phối, không phải chỉ do trình độ nghề nghiệp lao động.

Từng là phó Thủ tướng có bề dày thành tích học tập tại Đức và Mỹ chắc rằng khẳng định của ông Nguyễn Thiện Nhân CT/MTTQ/VN là có cơ sở. Nhưng, như thế thì: Gần nửa thế kỷ (kể từ 1975) Tại sao Việt Nam không theo kịp thiên hạ mà vẫn cứ là quốc gia còn nghèo như hiện nay? 

Giải thích về hiện tượng mâu thuẫn này ông Nguyễn Thiện Nhân nêu lên 5 lý do:

- Trước hết, xuất phát điểm của Việt Nam và các nước rất khác nhau: trình độ phát triển, hạ tầng cơ sở, nhân lực, thiết bị công nghệ, cơ cấu nền kinh tế, trình độ khoa học, mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật.

- Khả năng tự tích lũy để tái đầu tư thấp dẫn tới tình trạng các doanh nghiệp Việt Nam chưa tham gia vào đầy đủ các khâu, chuỗi sản xuất hàng hóa, do đó giá trị gia tăng chưa cao.

- Các DN sử dụng công nghệ trung bình thấp chiếm 88%. DN Việt Nam có công nghệ trung bình và trung bình thấp là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng năng suất lao động thấp và thu nhập đầu người thấp ở Việt Nam.

- Một nguyên nhân khác là nền kinh tế của ta vẫn sử dụng nhiều lao động trong nông nghiệp và trình độ lao động nói chung còn thấp. 

- Và cuối cùng chính là khoa học chậm phát triển, đầu tư cho KHCN còn thấp.

Tưởng chừng như lập luận có cơ sở khoa học để biện minh của ông Nguyễn Thiện Nhân là có lý để thỏa mãn cho câu hỏi: Tại sao Việt Nam vẫn nghèo.

Tuy nhiên nếu kiểm tra lại chi tiết, mở cửa thế giới quan nhìn ra xa hơn ngoài biên giới lãnh thổ cùng xuất phát điểm với Việt Nam là các nước láng giềng khu vực thì mới thấy cái cách nói của ông CT/TW/MTTQ/VN Nguyễn Thiện Nhân nó phơi bày rất chính xác cơ quan này (MTTQ) đúng là “cánh tay nối dài” của đảng CSVN… Luôn bằng mọi cách cả vú lấp miệng “dân” để bảo vệ lau chùi bộ mặt lem luốt “đảng ta”.

Bởi vì, viện dẫn như lời ông Thiện Nhân nói trên, Việt Nam còn nghèo (năng suất lao động thấp) là do xuất phát điểm của Việt Nam và các nước rất khác nhau: (trình độ phát triển, hạ tầng cơ sở, nhân lực, thiết bị công nghệ, cơ cấu nền kinh tế, trình độ khoa học). 

Hãy trừ đi Nhật Bản một quốc gia “đại bại” trong chiến tranh (nhưng là một cường quốc công nghiệp hùng mạnh) thì nhóm các quốc gia láng giềng còn lại bao gồm Hàn Quốc, Đài Loan và các quốc gia Đông Nam Á (Asean hiện nay) có quốc gia nào nổi trội hơn hẳn Việt Nam tại vạch xuất phát sau đệ II thế chiến?? Nhưng bây giờ đa phần các quốc gia ấy không còn nghèo như VN, một số bỏ xa mà không bao giờ Việt Nam bắt kịp (vì không ai đứng lại chờ) Vì sao vậy? Chắc chắc với kiến thức “Tây du” ông Nguyễn Thiện Nhân còn biết rõ hơn nhiều đồng bào mình, nhưng vì sao ông không muốn nói ra có lẽ chính ông ấy biết điều đó hơn chúng ta. 

Có phải là các quốc gia ấy sau thế chiến lấy lại hay có được độc lập rồi họ không muốn “đánh” ai cả, họ chỉ lo thoát nghèo cho dân giàu nước mạnh còn CSVN thì dù thế giới có hòa bình nhưng riêng họ vì tự nguyện là tiền đồn CS/XHCN nên họ lại thích “đánh”, đánh ngay cả với đồng bào mình và đánh ấy là đánh cho “Liên Xô-Trung Quốc” (lời Lê Duẩn) cho quốc tế CS, cho một Việt Nam vẫn nghèo hôm nay… vì vậy vẫn sẽ còn “đánh” nữa, lần này là đánh với TQ để nhớ ơn TQ!? - Cái này là nó quá rõ ràng rồi, ông Thiện Nhân không thể nói là không biết!. 

Nhưng chưa hết! Còn một yếu tố quan trọng khác có thể khiến Việt Nam phải còn nghèo khá lâu mà vì “húy kỵ” ông Nguyễn Thiện Nhân cố né tránh không dám động đến (nếu đề cập sâu xa có thể mất cuốn sổ hưu ngay) 

Ông Thiện Nhân hãy trừ đi 5 nước cộng sản, còn lại 185 quốc gia trong LHQ ông xem có quốc gia nào (dù là giàu có nhất) mà hệ thống điều hành quốc gia giống như Việt Nam khi ngân sách từ mồ hôi công sức nhân dân đóng thuế phải nuôi song song một lúc tới 2 nhà nước trong một quốc gia, “nhà nước đảng” và nhà nước dân? từ TW đến làng xã địa phương? 

Thật khôi hài một thằng con CSVN từ lúc sinh ra đã đeo bám “mẹ VN” mà sống đến nay tuổi gần 70 mắt mờ tai điếc lẫm ca lẫm cẫm vẫn bám vú mẹ!? không tự lập nỗi, nhả bầu vú ra là nó chết liền!
Thật là kinh hoàng, nếu tính đúng tính đủ luôn cả Công an, quân đội và công chức cấp làng xã thì những người ăn lương ngân sách lên tới gần nửa triệu!

Mới đây đề cập tới vấn đề tăng lương, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh trả lời báo chí bên lề Quốc hội ngày 27-10: “Bộ máy quá cồng kềnh dẫn đến số người hưởng lương từ ngân sách quá lớn chưa thể tăng trong năm tới (2015)”. 

Còn TS Lê Đăng Doanh, nguyên cố vấn Thủ tướng Chính phủ nói: “Khoản ngân sách chi thường xuyên ngoài bao gồm toàn thể bộ máy hành chính của nhà nước, thì ở Việt Nam ngân sách còn bảo đảm chi cho các tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, từ TW đến địa phương như là Đoàn TN, Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ cũng như các tổ chức chính trị vệ tinh khác của đảng.”

Tiến sĩ Doanh cũng xác nhận đây là những khoản mà hiện nay ngân sách công của Việt Nam đang phải chịu chi trả; trong khi đó, ở nhiều quốc gia khác các tổ chức chính trị có thể phải khai thuế và nộp nghĩa vụ đóng góp cho ngân sách, hoặc phải dựa vào nguồn thu được cung cấp từ khu vực xã hội dân sự.

Theo các chuyên gia, tại Việt Nam việc giảm biên chế của các tổ chức “ăn theo ngân sách” này trong nhiều năm qua vẫn luôn là một câu hỏi chưa có lời đáp.

Một Giáo sư Học viện thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư nói: “Không phải đơn giản có thể giảm các bộ phận như đã nói, nhiều năm rồi người ta cũng có nhiều ý kiến trái chiều thí dụ như liệu có thể giảm được biên chế của các tổ chức chính trị - xã hội, hay các tổ chức đặc trưng của xã hội không, thì câu trả lời là chưa được.”

Chuyên gia về chính sách công của đảng cho rằng vẫn cần các tổ chức này để “yên dân” và chưa thể thay đổi chính sách bao cấp, trả lương, chi ngân sách cho khối tổ chức này vì những lý do “nhạy cảm”. (*)

Nó củng “nhạy cảm” như số liệu hằng năm mà đảng CSVN nhận từ ngân sách đó là một điều thuộc “bí mật quốc gia” mà toàn dân người đóng góp ngân sách không được phép biết!?

Vì bởi đó cũng là một phần trả lời cho câu hỏi “vì sao Việt Nam vẫn còn nghèo” 





Ông Nguyễn Bá Thanh vẫn nắm ban nội chính

Sau hơn 2 tháng vắng mặt, ông Nguyễn Bá Thanh được quan chức dưới quyền khẳng định ông này vẫn đang tiếp tục điều hành công việc tại ban nội chính trung ương.

Phát biểu này dường như tái khẳng định rằng ông Nguyễn Bá Thanh vẫn đang tiếp tục nắm giữ vai trò là trưởng ban nội chính trung ương, bất chấp thông tin lãnh đạo cơ quan thuộc bộ chính trị này  đột nhiên ‘mất tích’ từ giữa tháng 8/2014 với lý do là sang Mỹ chữa bệnh.

Báo Thanh Niên trích lời ông Nguyễn Doãn Khánh, phó trưởng ban nội chính trung ương khẳng định:

"Ông Nguyễn Bá Thanh đi chữa bệnh không ảnh hưởng đến việc chung của Ban, vì ông Thanh vẫn điều hành công việc thông qua thư ký trực tiếp"

“Chỉ có những gì bất thường, những việc lớn mới chủ động xin ý kiến trưởng ban, còn thì vẫn tiến hành bình thường. Trưởng ban vẫn liên lạc qua điện thoại thường xuyên", ông Khánh cho biết thêm.

Hiện tình hình sức khỏe của ông Nguyễn Bá Thanh vẫn đang là điều bí ẩn, mặc dù có một số thông tin nói rằng việc điều trị của ông Thanh vẫn đang ‘tiến triển tốt’.

Trong vai trò là đại biểu quốc hội, ông Thanh cũng vắng mặt tại kỳ họp thứ 8, quốc hội khóa 13 đang diễn ra. Đây là kỳ họp mà quốc hội sẽ bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước. 

Giữa lúc chính trường CSVN diễn ra những cuộc đấu đá quyết liệt, việc ‘mất tích’ của ông Thanh tạo nên nhiều câu hỏi về tương lai chính trị trong cuộc chạy đua quyền lực sắp tới.

Bạn đọc Danlambao

Thánh Ba mắc bệnh lạ

Thay vì đi bộ qua nước ‘Bạn’ láng giềng chữa bệnh, Thánh Ba alias Thượng Phương Kiếm Sĩ lặng lẽ bay đến tận nước cựu thù đế quốc Mỹ điều trị (từ mấy tháng qua và không biết nằm lỳ đến bao giờ). Về trường hợp này, Còm sĩ có nick Vietnam nêu thắc mắc:

"Sao chẳng nghe tin tức gì của lão Thánh Ba nhỉ? Chẳng thấy hội đoàn hải ngoại nào túm lấy ổng mà khai thác. Ổng bị bịnh thật hay giả. Thông tin ấy có thể kiểm chứng được không? Trừ phi ổng biết bưng bít thông tin ngay tại xứ tự do này. Giỏi! Lão này giỏi! như ông bà ta hay thán phục Ai đó…".

Được biết "đồng hương Quảng Nam Đà Nẵng ở Mỹ vốn rất ‘tôn kính anh hùng’ của họ nên muốn biết thật sự Ngài vướng phải bệnh gì, đang ở đâu để đến thăm; nhiều khi Ngài thèm Mì Quảng chính gốc Hội An và các món đặc trưng Miền Trung thì họ đem đến cho ngài thời. Biết đâu Ngài mau lành bệnh."

"Hiện nay, tình hình sức khỏe của Thánh Ba vẫn đang là bí mật quốc gia, mặc dù có một số thông tin nói rằng việc điều trị của Thánh Ba vẫn đang ‘tiến triển tốt’.

Trong vai trò là đảng biểu quốc hội, Thánh Ba xứ Đà cũng vắng mặt tại kỳ họp thứ 8, quốc hội khóa 13 đang diễn ra. Đây là kỳ họp mà quốc hội sẽ bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước." (Theo Dân Làm Báo, 31/10/2014).

Nhà báo Nguyên Khôi trong chương trình Đọc Báo Vẹm 396 có lời bình rất có hậu về sự vắng mặt hơi hơi lâu của Thánh Ba như sau:

"Kính thưa quí vị, nếu quí vị đang làm việc tại Việt Nam, nếu quí vị đang ở trong guồng máy tham nhũng, quí vị đang tham nhũng thì quí vị an tâm vì Thánh Ba - Phó trưởng ban chống tham nhũng, đang nằm điều trị tuốt bên Mỹ, mai mốt ổng về rồi tính; còn bây giờ quí vị cứ an tâm tiếp tục tham nhũng, không ai quấy rối, không ai gây phiền phức cho quí vị đâu."

"(Nếu) Thông Điệp “Đánh Chuột - Giữ Bình” đến với Thánh Ba trong tình cảnh bệnh hoạn này... ai cũng thấy sao mà bất nhẫn. Chẳng lẽ Vệ Kính Vương trong những ngày này trong lòng không thấy một chút áy náy bận hận nào trước những đau đớn về thể xác cũng như tinh thần của "Kiếm Sĩ Hốt Liền" hay sao?" (Nguyễn Thượng Long)

Và, kính thưa toàn thể quí vị:

"Tin mới nhất từ bệnh viện John Hopkins cho hay Thánh Ba alias Thượng Phương Kiếm Sĩ mắc phải bệnh lạ: Commu-carcinoma (CC). Sau mấy tháng vào đây, hiện nay, bệnh tình Thánh Ba đã ở ngưỡng giai đoạn cuối, vi khuẩn đã lan tràn (metastasis) từ miệng đến các bộ phận khác của cơ thể như phổi, tim, thận, ruột già, xương… và đặc biệt là mật.

Trường hợp Thánh Ba, cụ thể như các đảng viên đcs cao cấp khác, bệnh không thể lan tới bộ não, vì bộ não đã từ lâu không được phát triển, nên không có các tế bào sống cần thiết cho quá trình lây lan (metastasis) của CC. "CC đã không lan được tới bộ não, điều này là cực kỳ may mắn, và đây là nguồn hy vọng duy nhất và sau cùng cho Thánh Ba", bác sĩ Smith - người chăm sóc cho Thánh Ba, chia sẻ.

Bác sĩ Smith nói tiếp: "Chúng tôi khám phá ra rằng những người bị Commu-carcinoma thường bắt đầu có triệu chứng vêu môi, dẫn đến loét miệng. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy triệu chứng này là hậu quả sơ khởi tất yếu của việc lạm phát về nói nói nói cũng như hứa hứa hứa nhiều, nhưng chẳng thấy làm hay hốt được KụK gì cụ thể (*). Nếu duy ý chí bỏ mặc triệu chứng này lâu ngày, các bộ phận khác trong cơ thể sẽ dễ dàng bị lan lây - nhất là mật sẽ vỡ vì nỗi hoảng sợ bị đột tử, là điều đương nhiên," bác sĩ Smith kết luận.

Tờ Cờ Đỏ Washington (Washington Red Flag) cho biết, để chi trả các khoản phí khi nằm ở bệnh viện John Hopkins, Thánh Ba đã sử dụng thẻ tín dụng đặc biệt chỉ cấp cho cán bộ đảng cao cấp. Tuy nhiện giới hạn chi trả của thẻ đã sắp đến, nên Thánh Ba đang xem xét đến khả năng xin ở lại Hoa Kỳ luôn, đồng thời xin vào bệnh viện của National Institutes of Health (NIH) ở Bethesda, Maryland. Bệnh viện của NIH, nếu nhận, sẽ không bắt bệnh nhân trả viện phí, ấy vì đây cũng là một cơ sở nghiên cứu về các chứng bệnh lạ.

Được biết NIH đã liên lạc với một văn phòng luật sư về di trú để nộp đơn xin cho Thánh Ba được định cư trên nước Mỹ với tư cách là cô-bai nghiên cứu về Commu-carcinoma tức Ung thư cộng sảng!".

Mọi chi tiết mới liên quan tới long thể Thánh Ba sẽ được cập nhật Non Stop.

(Xào lại từ Khách Tổng Lú - Đảng Còm Sỹ Lề Dân) 




_________________________________

(*) Thánh Ba có câu nổi tiếng "tui có eng mà có lờm, còn mấy ông eng không, mà hổng lờm"

“Khi Loài Chim Báo Bão” được bầu trời chọn

(Gởi anh Điếu Cày: Khi tiếng hót đã vọng vang bài ca Vĩnh Quyết)
 
Nhưng mà khi chim không còn chỗ dung thân trên chính vòm trời yêu dấu của mình. Con người độc ác đã buộc cánh chim ấy không còn được cất-lên-tiếng-nói-tiếng-hót, không còn được hót ca lời tình tự quê hương hay rã giọng mòn hơi biển đảo xa vời, trên chính khung trời thân thương bạn bè gia đình ngày cũ. Chọn lựa nào mà chẳng có đau khổ, nhất là khi ngay cả một cánh chim bạt mạng chỉ biết tung trời cả trong bão tố đã không còn một chọn lựa, một đường bay nào khác! Bắt những cánh chim không hề trốn tránh yêu thương từng góc biển cha ông tổ tiên để lại, từng cánh rừng già “chiến lược” Bauxite Tây Nguyên, từng trang viết buồn đẹp sâu đậm như tiếng chim gõ mõ… để phải tủi thân làm cánh chim viễn xứ nơi một phương trời xa lạ khác, là một nỗi hà khắc tàn nhẫn chưa từng có.
Thật tình không ai hiểu, không ai biết, sớm mai thức dậy trong một khách sạn một căn hộ một không gian mới, sau một vài đêm dài nghỉ ngơi có thể cũng sẽ không chợp mắt được, ở một nơi không còn bị co rút cánh mỏi trong một chiếc lồng khốn nạn, như một nhà tù đèo heo hút gió ở Nghệ An, cánh-chim-báo-bão Điếu Cày sẽ nghĩ gì và cảm thấy ra sao một “ngột ngạt” mới ở một chân trời tự do mới? “Ngột ngạt” nghĩ cho cùng vẫn là từ đúng nghĩa nhất đã giam hãm con người đầy chí khí lúc nào cũng chực chờ, sẵn sàng làm một điều gì, một điều gì hoàn toàn không vì lợi ích cá nhân mà vì lợi ích chung cho tất-cả-đồng-bào-chúng-ta.

“Khi Loài Chim Báo Bão” đã là một tên gọi, một bài ca, một tụng ca mà đã rất lâu chúng ta có dịp dành tặng anh, một Điếu Cày không khoan nhượng không thỏa hiệp: “…Khi anh như loài chim báo bão. Đã đập cánh gọi kêu linh hồn ai ảo não. Khi tiếng hót đã vọng vang bài ca Vĩnh Quyết.” Hình ảnh ấy quả thật là đẹp và ước gì chúng ta vẫn được giữ mãi, để những bài thơ, bài nhạc kể cả những lần xuống đường đòi Tự Do cho anh (Free Điếu Cày) được xứng đáng trong niềm tin: “Điếu Cày là người được anh em giao phó”.

Hẳn nhiên vẫn còn sớm chán để có thể khẳng định một điều gì. Trong lũ con lạc loài như chúng ta, kẻ lưu vong, lưu đày ngay trên đất nước thân yêu của mình, hay lưu vong, lưu đày ở ngoài đất nước, thì cũng đã không thiếu những trái tim, những tấm lòng, việc làm đoái hoài đến quê hương, nhưng liệu trong ngần ấy đứa con lưu lạc, lạc loài, ai sẽ là người được đất nước tha thiết ủy thác nhận lãnh trách nhiệm? Và ai, chúng ta sẽ chọn ai đây, cũng như sẽ về theo dấu chân ai, giả thử bây giờ chúng ta mở ra một cuộc bình chọn lấy liền cho vui trên diễn đàn Danlambao và Facebook, nơi xuất hiện rất đầu tiên thông điệp nhắn gởi của một biểu tượng yêu nước chống Tàu Cộng xâm lăng và quyết thắng ngôn luận báo chí: blogger Điếu Cày.

Chưa chi đã thấy blogger Người Buôn Gió tình nguyện bay theo anh, và nhà báo Phạm Chí Dũng hẹn anh trong 3 năm nữa. Nhất là số đám đông thầm lặng như chúng ta thì nhiều vô kể, kể cả những vị có khi bị ném đá vì lỡ quá chân thành đặt dấu hỏi và điều quan trọng là chúng ta không lạ gì nhau, để phải làm nản lòng chiến sĩ. Đúng là “hò hẹn lâu rồi anh nói đi”, nhưng có lẽ với Điếu Cày thì “Hẹn Em Sài Gòn Năm 2015” nghe hợp lý hơn, vì chính họ cũng đã tỏ vẻ sợ con người luôn hành động và đột phá ấy, và như thế nói theo cách nói nửa miệng của Võ Thị Sáu: “Chế độ này liệu có tồn tại vài ba năm nữa để mà bỏ tù ai?”

Hãy thử bình chọn thăm dò như một chiếc phao tinh thần cho riêng mình, nếu bạn không muốn chia sẻ với ai khác một điều gì, thậm chí muốn chờ những thử thách gạn lọc của tuế nguyệt trơ gan cũng không sao. Có điều, không ai không biết trong chuyến ra đi bất đắc dĩ nhưng không bất đắc chí này, chí sĩ, chiến sĩ tự do Điếu Cày dù đã tưởng bị chặt tay bó tay một thời cũng sẽ nhân cơ hội này trổ thêm nhiều nhánh tay khác. Nhánh tay bên ngoài và nhánh chân bên trong. Ai cũng biết, chỉ những kẻ mạt vận hết thời đành chơi màn “sổ chấp”, là không thể đoán biết nổi trong trái tim của người tù kiên cường ấy đã mọc sẵn những đường tim, những nhịp trống Mê Linh, những nhịp tim trở về để hòa đập với nhịp tim ngắc ngoải quê hương.

Tôi ngờ rằng những bầy chim xa xứ hẳn cũng đang muốn tìm vượt được một đường bay, để trở về tổ ấm quê nhà cùng anh như thế. Nhưng thử hỏi bằng cách nào đây, khi dân tộc chúng ta là một dân tộc bị đày đọa, đi từ chia cắt hố thẳm này đến chia cắt hố thẳm khác, từ cú lừa Nghị Quyết 36 nọ đến Khúc Ruột Ngàn Dặm mỹ miều kia, của mỏ vàng Việt Kiều 10 tỷ đô mỗi năm (?)

Chúng ta lẽ nào cứ ngồi đây chua chát “bái phục”, khá khen cho những “thiên tài” không-bỏ-dấu đảng trị ngoại lai này và 70 năm ngủ dài trong bóng tối triền miên, không tìm đâu ra thứ ánh sáng mặt trời kỳ diệu của Dân Chủ, mà cất đầu dậy cùng năm châu bốn bể. Không, mãi mãi họ là người rất dị ứng với ánh sáng, nói chi đến ánh sáng Điếu Cày.

Rồi thì những con chim sẽ liền cánh, những đàn chim sẽ gọi bầy, một lúc nào đó 400 ngàn chất xám vẫn có những luân lưu của dòng máu Việt, của trong vận rủi vẫn có vận may, chúng ta còn có ước mơ có ấp ủ của biết bao thế hệ, chúng ta đâu thể tiếp tục ngồi chờ họ ban phát từng “ân huệ”, vì lý do đánh tráo khái niệm nhân đạo và một cách nhỏ giọt, có bóng dáng của ma mỵ đổi chác và đàn áp nhân đôi sau đó. Bộ mặt trâng tráo vẫn cố vặn lại những tiếng loa rè như với tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ thì cho đi chữa bịnh, với blogger Điếu Cày thì đi học tập báo chí, cho một xứ sở đứng gần cuối hạng của thế giới về tự do ngôn luận, tự do báo chí. Theo tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới, Việt Nam tụt hậu ở hàng 174 trên 180 nước. Tổ chức này còn cáo buộc Việt Nam là nơi có nhà tù chứa nhiều blogger và cư dân mạng nhất, chỉ sau quan thầy Tàu Cộng.

Nếu ngủ mơ là có sự hồi tâm “nhân đạo” gì đó ở đây, thì với người tù bất khuất Điếu Cày sau 30 tháng nhận bản án trò hề trốn thuế, rồi liền tù tì dọng thêm ngay 12 năm tội tuyên truyền chống nhà nước (Trung Cộng) và sau 6 năm rưỡi chỉ “tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù”, để “bốc” lên máy bay “bay đi cánh chim báo bão”, thì chúng ta nên cùng nhau làm chứng nhân cho mốc điểm lịch sử này: blogger Điếu Cày rồi sẽ được trở về đất Mẹ như một lẽ tất nhiên, coi như sau một thời gian ngắn đặc biệt của quy chế tạm dung, mà không cần một nỗ lực quốc tế vận nào nữa, khi chính tập đoàn lãnh đạo ma mãnh này đã “lên giọng” như thế, thì chí ít cũng nên biết giữ sĩ diện của “tài” lãnh đạo có một không hai của mình chứ.

Hay một lần nữa và một lần nữa, nhà nước vẫn luôn muốn nắm giũ mọi góc độ pháp lý man khai rừng rú, để tiếp tục treo lủng lẳng trên đầu người tù lương tâm luôn khẳng định mình vô tội và không hề nhận tội xin tha quá quả cảm, và chính nghĩa này.

Ở đây chúng ta vừa nhắc đến tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, và tôi cũng vừa nhớ lại trong bài “Khi Loài Chim Báo Bão”, không hiểu điều gì như ám ảnh tiên tri của những căn phần định mệnh, chính tôi cũng đã gởi gấm theo cùng dòng suy nghĩ: “Hà Vũ nữa, dấy thiên hà uy vũ”. Chữ “nữa” ở đây như một kết hợp bất ngờ và càng bất ngờ hơn, khi chỉ cách nhau 6 tháng, cả hai “nhắc nhở” ấy đã có mặt ở cùng chốn tạm dung này, như một vinh danh chiến thắng của giá trị tranh đấu dân chủ nhân quyền.

Kỳ thực, sao không là đôi song kiếm hiệp hành thì càng thêm nghĩa hiệp nghĩa vụ có sao đâu nhỉ?!

Cũng không lạ khi mọi so sánh, nhận định trong lúc này rất dễ bị khiên cưỡng, chủ quan, không thích hợp, vì vừa quá sớm vừa quá sốt ruột, và vô tình làm chùng lòng nhau. Thật tình, chúng ta chỉ muốn có một sự hợp quần gây sức mạnh. Sức người vốn có hạn, và một con chim én không làm nổi mùa xuân. Nhất là hơn bao giờ hết, chúng ta cần phải nhân rộng vòng tròn đoàn kết từ trong ra ngoài: “Cầm tay nhau để không bị chặt tay mà đòi lại bàn tay cho một Điếu Cày / Cho một Điếu Cày chảy máu Tự Do.”

Điếu Cày, Cù Huy Hà Vũ, Đỗ Thị Minh Hạnh, Trần Khải Thanh Thủy…, mỗi người có mặt trong cuộc đời với một hoàn cảnh gia đình, giáo dục… không giống nhau và hẳn nhiên mỗi người có một chọn lựa, thể hiện riêng. Cuối cùng vẫn là tinh thần tôn trọng mọi khác biệt để ngồi lại bên nhau, ủng hộ nhau, nhất là chúng ta cần phải không quên những con người đã hy sinh hơn người này, một tấm lòng đấu tranh thực sự cho dân chủ, nhân quyền Việt Nam.

Với mục tiêu tranh đấu để mang lại tự do dân chủ cho đất nước, và đã dũng cảm lãnh nhận mất mát tù đày, chắc hẳn những tù nhân lương tâm nổi tiếng này chẳng ai cần phải được tuyên dương “công trạng” thêm, nhất là sự tự do ấy đã phải gay go nhọc nhằn đến từ những tổ chức, những can thiệp không ngừng nghỉ của đồng bào hải ngoại và áp lực quốc tế, hoặc tệ hại hơn nữa là thấy rõ một sự đánh đổi rẻ rúng nhân phẩm, nếu không muốn nói là vô liêm sỉ, khi một tập đoàn thống trị chỉ cốt đem con dân mình ra trừng trị thẳng thừng, để mong chờ các nước dân chủ ngoại quốc đứng ra nhủ lòng thương hại điều đình, thương lượng đo đếm từng con tin một. Đối sách này không phải là phía Hoa Kỳ không nhìn thấy, nhưng để mở ra một lộ trình tiến hóa Dân Chủ thực sự, thì chính chúng ta phải có biện pháp nhất định để bắt họ phải dẹp bỏ mọi hành động “thả” người yêu nước với chiếc vé một chiều tống xuất, tống khứ có “bài bản”. Điều này đã tạo thành tiền lệ, như trợ lý ngoại trưởng Tom Malimowski đã cảnh báo vì ý thức được điều xót xa này cho thân phận Việt Nam: “Sẽ không có tiến triển mấy, nếu cứ thả một chục người này lại bắt thêm một chục người khác.”

Điều này khiến chúng ta có cảm tưởng Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng Mẹ Mìn(h). Hết rao bán như món hàng lãnh thổ lãnh hải, khi Tổ Quốc, Dân Tộc, Quốc Gia, Đất nước, giống nòi… không bao giờ là một ý niệm thiêng liêng trong tim óc vốn dĩ vô tổ quốc thứ chủ nghĩa cộng sản của họ, thì lại xem nhân dân như con lợn, vừa không được vỗ béo, vừa chỉ nhốt vô chuồng thú như những kẻ phạm pháp nghiêm trọng, những tội đồ dân tộc không bằng. Chưa hết đâu hãy nhìn mà xem hơn 18 ngàn người con gái Việt Nam da vàng hờn tủi vì hoàn cảnh gia đình xã hội đã phải bán rẻ từng phân vuông thân xác mình, làm điếm khắp bốn phương trời cho ngoại nhân. Thử hỏi vì đâu nên nỗi nát như tương bần này?

Không, con số 18.000 phụ nữ Việt Nam phải bán mình mỗi năm còn nhiều gấp bội, chưa kể tệ nạn buôn người, nô lệ tình dục trẻ em để bán tháo đi khắp mọi miền biên giới… Đất nước này đã có quá nhiều cú tuột dốc không phanh, và không chỉ bán buôn đổi chác mà còn là một cướp giật, cưỡng chế đất đai nhà cửa dân oan, dân oán ta thán khắp nơi, và chúng ta cứ phải ngồi đây chực chờ đói khát từng biểu tượng?

Điếu Cày là một biểu tượng quyết tử, can trường không lùi bước trước chế độ độc tài cộng sản Việt Nam, luôn hèn với Tàu Khựa, ác với dân lành. Điều mà chúng ta có thể dựa vào anh là tinh thần sẵn sàng hành động chiến đấu. Nói và làm và sáng tạo phương thức để lao mình từ trận chiến này đến trận chiến khác, dường như vẫn không bao giờ muốn yên nghỉ và cũng chưa thể yên nghỉ được. Như chúng ta đã từng đặt kỳ vọng và chúng ta đã thất vọng với khá nhiều đức hy sinh đã bị mai một, nửa vời. Phải nói nếu chúng ta không có những con người đi tiên phong, xung phong như anh, từ lãnh vực báo chí mạng, để những phong trào của những mạng xã hội viết blog bây giờ được nở rộ, đặc biệt là những khơi động tấm lòng yêu nước của tuổi trẻ xuống đường chống Trung Cộng đòi chủ quyền biển đảo, cũng như đã nhìn thấy rất rõ con đường Dân Chủ cho Việt Nam là một xu hướng của thời đại, và là một phương cách để tiến bước hòa bình, nhân bản, con người.

Một người với thứ ý chí quyết liệt như thế, thì cho dù có bị cưỡng bách, bứng đi trồng ở một vùng đất khác, chúng ta vẫn tin rằng quit của quê hương mang dấu ấn Điếu Cày vẫn sẽ ngọt ngào, đậm đà hương vị Việt Nam.

Ý chí quyết liệt để trồng cho được cây quít ngọt cho quê hương mới là điều tiên quyết đáng nói ở đây. Với tấm lòng kiên định, vốn là thứ vỏ quít dày sợ chi móng tay nhọn, và đã có ít nhiều chứng minh ngay sự bắt tay làm việc liền với giới truyền thông, nên dù có thể ra đi chưa phải là thượng sách nhưng với tình hình bây giờ, Điếu Cày xem ra có khá nhiều thuận lợi và sẽ phát triển được từng ý nguyện, hoài bão, lý tưởng của mình trong những chặng đường nắng mới sắp đến.

B/S Nguyễn Đan Quế, L/S Lê Công Định, L/S Lê Thị Công Nhân, và mai đây là L/S Lê Quốc Quân… vẫn nguyện làm người ở lại tiếp tục cuộc hành trình trên quê hương, bền tâm bền chí gắn bó sáng ngời hình ảnh của những nhà dân chủ đấu tranh là tiếng nói quan trọng vốn dĩ phải được phát đi từ trong nước. Không thể không nói rằng chúng ta rất ngưỡng mộ những thành trì cao quý này, như chúng ta cũng đã hơn một lần ngưỡng mộ Aung San Suu Kyl đã không bao giờ còn “đi” nữa, vì lời thề sống chết nơi mình đã sinh ra, đã ký kết đau thương, và đã không thể lẩn tránh được.

Cũng trong ý nghĩ xao xuyến lẫn lộn này, chúng ta dường như đang sững sờ thích thú trước một đốm sáng thật đẹp, thật chói lòa vừa lóe lên ở cuối đường hầm. Chúng ta lại càng tin rằng một người đã không còn trẻ nữa như Điếu Cày, dù ở tuổi 62 nhưng anh vẫn có thể đi cùng tâm tư thời đại, trẻ hóa lại để hòa nhập không ngờ với dòng chảy dạt dào của tuổi 26 như thường. Tuổi trẻ sẽ nhìn thấy ở anh như một nguồn cảm hứng sâu xa của sự bền chí dẻo dai, và họ sẽ đồng lòng hợp tác, ủng hộ một trái tim hướng thượng trẻ mãi không già, mà còn luôn biết nỗ lực làm mới những “trò chơi dân chủ” của mình. Nghĩ mà coi, chúng ta có ai suy nghĩ và nhớ ra được như nhà báo tự do Điếu Cày, khi anh mang theo trong người bức thư của bạn tù đồng nghiệp Trương Duy Nhất đã đành, nhưng điều sâu lắng và đáng nhớ ở đây chính là những dòng Tuyên Bố của Điếu Cày và Trương Duy Nhất, thay mặt các nhà báo ký giả bị khủng bố Hồi Giáo ISIS chặt đầu sát hại. Trong đó có đoạn này rất đáng chú ý, và cách “bảo vệ” mang theo “hành trang” ấy trong những đường khâu giấu kín vào mảnh áo cũng là một thú vị: “Chúng tôi kêu gọi các nhà báo VN, các tổ chức báo chí truyền thông, đồng nghiệp trên khắp thế giới lên tiếng mạnh mẽ để bảo vệ các nhà báo đang tác nghiệp trên khắp thế giới lên tiếng mạnh mẽ để bảo vệ các nhà báo đang tác nghiệp tại những vùng chiến sự nguy hiểm, và các quốc gia độc tài về truyền thông. Thúc đẩy quyền tự do ngôn luận, bảo vệ Nhân Quyền.”


Ngoài ra, Điếu Cày đã từng là chiến sĩ, bộ đội, đã từng kinh qua cuộc chiến, đã từng ôm xác đồng đội ngã gục trên vai mình khô lạnh, phải chăng điều này đã làm anh hiểu được muốn an hưởng hòa bình, mỗi người con dân đất nước phải luôn sẵn sàng trong tư thế chiến đấu, và không bao giờ cúi đầu nhận chịu nô lệ một cách cực kỳ ô nhục như những ký kết thề thốt với kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.

Chính vì hình ảnh rắn rỏi áo vải Lam Sơn, hơi hướm bưng biền nhưng hào hùng lính tráng “Trách Nhiệm, Danh Dự, Tổ Quốc” ấy, chúng ta và những người lính đã từng xông pha chiến trận cũ bỗng thấy tin tưởng, gần gũi anh hơn chăng.

Đôi dép tổ ong màu ngả vàng vướng bụi như một chứng nhân nhếch nhác tù đày lếch thếch lên phi cơ qua Mỹ đã được Vũ Đông Hà cải biên, tô điểm hay ho thành màu xanh hy vọng của một Đôi Dép Việt Nam gót đầy thân phận, có điều mớ hành trang ký ức anh mang theo trong người hẳn là sẽ còn lâu nữa mới biến thành dĩ vãng, mới trổ màu hy vọng chăng.

Vâng, tất cả 40 năm hay chỉ mới 4, 5 ngày thì dường như mãi mãi vẫn chưa xa lắm để chôn giấu trở thành ký ức, hay biến bay thành dĩ vãng. Mà cho dẫu có là dĩ vãng, mớ ký ức chúng ta mang trên vai mình vẫn là hành trang để trở về nguồn cội. Do đó tôi nghĩ họ rất độc ác khi không hoan nghênh những người con dân Việt ôn hòa về lại xứ Việt.

Và bây giờ trên dặm đường tống xuất, như trong một tình cờ của mộng mị chiêm bao được nhìn thấy Dân Chủ, đôi dép tổ ong “made in Vietnam” của Điếu Cày bỗng dừng lại ở một nơi đang diễn ra Cách Mạng Dù ngoạn mục chưa từng thấy. Hồng Kông, nơi anh thoáng qua trong giây lát với cú điện thoại mượn đỡ của ai đó vội vàng gọi về quê nhà, có lẽ anh cũng đã chẳng thấy gì và cũng chẳng nghe ngóng gì nhưng một lần nữa, đôi dép tổ ong bụi đời này lại có dịp lang bạt kỳ hồ vướng vào đất cát của một nơi đang đòi Tự Do Dân Chủ một cách mãnh liệt, hiện đại tân kỳ, tổ chức kỷ cương nhất. Rồi một hôm nào trong những tưởng nhớ, có lúc nhìn xuống đôi chân không còn đôi dép tổ ong xưa cũ nữa, chắc hẳn anh sẽ liên tưởng đến cơn gió cách mạng dân chủ của tuổi trẻ Hồng Kông đã thoáng qua làm anh vụt lạnh hôm nào, khi nhớ đến quê nhà chừng như đang mòn mỏi đợi chờ. Khi không tôi vừa chợt sống lại hai câu thơ mà anh đã nhờ con trai là Nguyễn Trí Dũng mang ra, sau những chấn song tù: “Sài Gòn đang có biểu tình/Trong đây ta chỉ một mình với ta” (không nhớ nguyên văn). Nhắc lại đây với một cánh chim vừa thoát lồng, vừa thoát khỏi thứ bầu trời ảm đạm lắm khi làm ô nhiễm cả những đường bay, thành thật mà nói, chúng ta và cả anh sẽ không bao giờ còn gặp tâm hồn mình chiều hôm ấy. Sài Gòn, Hà Nội… “có biểu tình” như anh mơ màng, dù con số chẳng là bao nhiêu, như anh trong lần dẫn đầu phong trào này, với tấm biểu ngữ cùng những anh chị em trẻ “Hoàng Sa Trường Sa Việt Nam Chủ Quyền. Tây Sa Nam Sa Trung Quốc Ngụy Xưng”, rồi cho đến khi anh bị kẹt tù, anh em ở ngoài vào thời điểm mùa hè cao độ đã tiếp nối lên tới 5, 6 ngàn của năm 2011, nhưng đó mới chính là nguồn chấn động không nguôi, vì hiệu quả trúng huyệt gây trấn áp hoảng loạn làm lộ nguyên hình quỷ đỏ, và vì thế anh sẽ nhận ra hoàn toàn không giống như một lần nào đó cho dẫu có rầm rộ ở trước đại sứ quán Trung Cộng, Việt Cộng nơi một thủ đô nước Mỹ. Không giống vì Sài Gòn, Hà Nội, Huế… mới chính là nỗi quan tâm thiết thực của chúng ta. Điều còn lại hơn ai hết, chúng ta biết anh vẫn là niềm hứng khởi tin tưởng để Nguyễn Trí Dũng và bạn bè của thế hệ con cháu anh ở trong nước tiếp tục tiến bước, đồng hành trên con đường đã được mai phục sẵn hy sinh chiến thắng.

Người tráng sĩ Kinh Kha giã từ sông Dịch sang Tần, cũng vào lúc chiều xuống hoàng hôn “bóng chiều không thắm không vàng vọt”. Điếu Cày sang Mỹ ở phi trường quốc tế Nội Bài chắc cũng chỉ ngậm ngùi một dòng sông Hương thao thức đưa tiễn. Cũng chẳng có hội tụ sông về cho một dòng… nước mắt của tạ từ nhắn gởi và bạn bè thân nhân vây quanh đọc thơ Bùi Chí Vinh “phản” thơ Thâm Tâm: “Đưa người ta cứ đưa sang sông. Không sợ tiếng sóng ở trong lòng.”

Kinh Kha sang Tần làm thích khách hạ thủ bạo chúa bất thành, như một lần ra đi không bao giờ còn trở lại, và “Ba năm mẹ già cũng đừng mong”, Với người tráng sĩ Điếu Cày, khi ra đi là để trở về như một thôi thúc của mệnh lệnh thời cuộc lịch sử sai khiến, anh sẽ không trở về với bàn tay trắng, thất tung hồn vía như lúc bị tống đi vì không còn một chọn lựa nào khá hơn.

Với Điếu Cày, nhắn gởi cùng anh câu thơ cũ chúng ta yêu mến nhất của Thâm Tâm: “Chí lớn chưa về bàn tay không” là một điều chắc hẳn không chỉ là Thơ, và bắt gặp trong Thơ. Điều này dễ hiểu, vì khi ra đi, dòng sông đưa tiễn trong tim anh là một dòng sông đấu tranh!


Powered By Blogger