Thursday, January 31, 2013

THÔNG CÁO BÁO CHÍ: TREO QUỐC KỲ VIỆT MỸ VÀ PHƯỚN TẾT TRÊN ĐƯỜNG BOLSA NHÂN DỊP TẾT QUÝ TỴ 2013

Update 31-1

Thông báo

Lễ Xuất Phát treo cờ VNCH và Hoa Kỳ nhân dịp Tết Quý Tỵ 2013

                       
Lý do: Lễ Xuất Phát treo cờ VNCH và Hoa Kỳ nhân dịp Tết Quý Tỵ 2013
Địa Điểm: Sân cỏ đối diện Thương xá Phước Lộc Thọ
Thời gian: Lúc 12:00 trưa ngày thứ Bảy 02 tháng 02 năm 2013

Lễ Xuất phát treo cờ Hoa Kỳ và VNCH là bước đánh dấu thời gian liên tục 2 tuần lễ lá cờ VNCH tung bay trên khu phố Little Saigon nhân dịp đầu năm Tết Quý Tỵ 2013. Công trình này là cố gắng của đồng hương và các cơ sở thương mại trong vùng Little Saigon nhằm duy trì sự hiện hữu của một Việt Nam tự do không bao giờ chấp nhận cộng sản.
Ban Dựng Cờ Chính Nghĩa kính mời quý dân cử, quý đại diện các hội đoàn, quý cơ quan truyền thông báo chí và quý đồng hương tới tham dự buổi lễ.
Sự hiện diện của quý vị sẽ nói lên quyết tâm giữ vững lập trường quốc gia và nuôi dưỡng ý chí quyết thắng của lá cờ VNCH chính nghĩa.

Thay mặt Ban Dựng Cờ Chính Nghĩa
Trần vệ
Phan Văn Chính / Trần Văn Minh / Phạm Văn Tú   
Ngày 30/1/2013                              
~~//~~
Kính thưa quý vị lãnh đạo hội đoàn,

Chương trình treo phướn tết và cờ VNCH nhằm tạo không khí ngày Tết vui nhộn, tưng bừng cho khu vực Little Saigon, nhất là phải có hình ảnh lá cờ VNCH tung bay để xác định lập trường quốc gia của đồng hương Nam Cali.
Kính mong quý vị tiếp tay bảo trợ cho những lá phướn tết để chúng ta có thể cùng nhau duy trì truyền thống này.

Kính quý vị,

Thay mặt Ban Dựng cờ Chính nghĩa
Trần V Minh
(714) 398-9641


THÔNG CÁO BÁO CHÍ
Ngày 19 tháng 01 năm 2013
Mục đích:        TREO QUỐC KỲ VIỆT MỸ VÀ PHƯỚN TẾT TRÊN ĐƯỜNG BOLSA NHÂN DỊP TẾT QUÝ TỴ 2013
Ngày:              từ ngày 02 – 17 tháng 02 năm 2013
Kính gửi quý cơ quan truyền thông và báo chí:
Nhân dịp Tết Quý Tỵ 2013, Ban Dựng Cờ Chính Nghĩa sẽ tổ chức treo Quốc kỳ Việt Mỹ và phướn Tết trên đường Bolsa để giúp cho quang cảnh trung tâm Little Saigon thêm phần tưng bừng, náo nhiệt và đượm màu tình tự quê hương.
Quốc kỳ Việt Mỹ và phướn Tết sẽ được treo trên các cột đèn nằm phía Nam của đại lộ Bolsa, từ đường Magnolia tới đường Brookhurst, và Quốc kỳ Việt Mỹ cũng được treo trên các cột đèn giữa đường.
Hình phướn Tết theo mẫu bên trái.
Ngày treo: từ ngày 02 tới 17 tháng 2 năm 2013;
Lễ Xuất Phát Treo Cờ sẽ được cử hành tại bãi cỏ đối diện khu thương mại Phước Lộc Thọ vào lúc:
12 giờ trưa, thứ Bảy 02 tháng 02 năm 2013
Ban Dựng Cờ Chính Nghĩa:
Trần Vệ: (310) 800-5202
Phan Văn Chính: (714) 625-7160

Chi tiết về bảo trợ phướn Tết:
  • Giá bảo trợ: $200 cho mỗi phướn (hình ở trên).
  • Tên của cơ sở bảo trợ sẽ nằm bên dưới của phướn.
  • Kích thước phướn là 2ft X 6ft.
  • Phướn sẽ được treo từ ngày 02 – 17 tháng 2 năm 2013.
  • Phướn sẽ được trao lại cho ân nhân bảo trợ phướn sau ngày 17 tháng 2, 2013.
  • Xin liên lạc với chúng tôi nếu quý nhà bảo trợ cần Tax ID để khấu trừ thuế. 
(Email received from Tran Minh)

TIN NÓNG: Người dân Dương Nội Một mất một còn “Thà hy sinh chứ không chịu mất đất”

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2013-01-30
Hơn nửa tháng qua người dân Dương Nội đã không còn nhường bước trước sức mạnh của lực lượng cưỡng chế. Họ cùng nhau ra khu đất mà nhà nước sẽ trưng thu, dựng lều trại tại đây và sẵn sàng chết trên mảnh đất của gia tộc mình.
Photo courtesy of infonet.vn
Người dân Dương Nội cuốn giẻ, tẩm xăng để đốt chủ đầu tư nếu thi công dự án trên phần đất ruộng của họ

Đã quá thất vọng với chính quyền …

Mặc Lâm được một người trong cuộc là chị Cấn Thị Thêu kể lại cuộc tranh đấu đất đầy gian khổ có khi dẫn đến cái chết của người Dương Nội, trước tiên chị Thêu cho biết:
Chị Cấn Thị Thêu : Dạ, báo cáo với bác là ruộng đấy bị họ ủi phá thu hồi vào tháng 3 năm 2010. Khi mà họ ủi phá cánh đồng lúa thì họ ủi phá cả mồ mả của cha ông bà con lên. Trong suốt mấy năm trời chị em khiếu kiện từ cấp quận cho đến cấp thành phố, cấp trung ương nhưng đến bây giờ thì họ lại dự kiến thu hồi ngày 17 tháng 1 vừa rồi. Thế là từ ngày 11 chị em đã chuẩn bị tinh thần, bởi vì trong suốt 5 năm trời khiếu kiện bà con rất tin và hy vọng chính quyền sẽ giải quyết thỏa đáng quyền lợi cho bà con.
Đến bây giờ họ lại dựng và quay tôn (tole) giao lại cho doanh nghiệp để xây dựng đô thị trên đất ấy, cho nên bà con lần này quyết chiến luôn. Trước khi quyết chiến, bà con gửi đơn đến công an phường, công an quận, đến công an thành phố và Bộ Công an. Lần này nếu chính quyền không bảo vệ quyền làm chủ ruộng đất cho nhân dân mà để cho cá nhân hay tổ chức nào xâm phạm một cách bất hợp pháp vào đất đai của nhân dân thì nhân dân coi đó là quân cướp đất.
Nếu họ cố tình thực hiện như quân ăn cướp thì nhân dân sẽ xử sự với họ như đối với quân kẻ cướp. Bà con cũng nói rõ trong đơn là lần này “ai có súng dùng súng, ai không có súng thì dùng gươm dáo, cuốc xẻng, gậy gộc để vùng lên chiến đấu với quân cướp đất”. Chị em chúng tôi đã ăn sương nằm gió suốt hơn 20 ngày trời tại cánh đồng là cái khung mà họ định quây tôn đấy.
Lần này nếu chính quyền không bảo vệ quyền làm chủ ruộng đất cho nhân dân mà để cho cá nhân hay tổ chức nào xâm phạm một cách bất hợp pháp vào đất đai của nhân dân thì nhân dân coi đó là quân cướp đất.
Chị Cấn Thị Thêu
Mặc Lâm : Vâng, chúng tôi cũng có nghe là trong lá đơn gửi cho bộ công an đó thì người dân ở Dương Nội cũng đã tuyên bố rằng họ sẽ tự thiêu. Điều này có đúng hay không, thưa chị ?
Chị Cấn Thị Thêu : Ồ, đúng rồi đấy, bác ạ. Không phải chúng em tự thiêu mà chúng em sẽ thiêu chết quân cướp đất ạ.
Mặc Lâm : Dạ vâng, tất nhiên là dùng hỏa công để bảo vệ lấy mình ?
Chị Cấn Thị Thêu : Vâng. Đúng đấy ạ. Chúng em dự định sẽ thiêu chết quân cướp đất, và trong lúc xảy ra đụng độ thì có thể là người của chúng em cũng sẽ phải ngã xuống, cũng sẽ phải bị cháy, nhưng mà chúng em chấp nhận hy sinh. Thà hy sinh chứ không chịu mất đất!  Không thể chấp nhận bị đói nghèo!
Mặc Lâm : Tổng số người dân Dương Nội trong khu vực bị quây tôn chừng khoảng bao nhiêu gia đình, thưa chị?
Chị Cấn Thị Thêu : Dạ vâng, khoảng trên dưới 300 hộ, liên quan đến hơn một nghìn người ạ.
Mặc Lâm : Thưa chị, khi người dân Dương Nội chống cự như vậy thì chính quyền có gửi người xuống để đưa ra những thỏa thuận hay nói chuyện với người dân hay không?
Chị Cấn Thị Thêu : Không ạ. Họ cứ liên tục phát trên loa là anh em họ quay tôn, họ kiên quyết xử lý theo quy định của pháp luật. Kẻ nào mà chống đối chính quyền, dùng xăng dầu để chống lại lực lượng cưỡng chế thì họ đều quy vào cái tội “chống người thi hành công vụ”, “tội giết người”. Họ cứ đọc trên loa như thế thôi. Họ cứ đe dọa dân như thế thôi chứ họ không đến để giải quyết cho dân, họ không hứa hẹn cái gì đâu ạ.

… nên sẵn sàng chết vì đất

Mặc Lâm : Chắc người dân Dương Nội cũng biết vụ anh Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, anh ấy đã chống lại chính quyền mà phải bị giam hãm, tù đày. Vậy người dân Dương Nội có thấy sợ hãi với biện pháp mà chính quyền nói hay không khi mà chống lại họ, thưa chị?
Chị Cấn Thị Thêu : Bác ơi, chị em bây giờ không sợ nữa đâu. Sau khi cái vụ việc anh Đoàn Văn Vươn xảy ra thì chúng em cũng đã thuê mấy ô-tô xuống tận trận địa mà anh Vươn đã chiến đấu chống trả lực lượng cưỡng chế. Chúng em có một anh, đấy là anh Hùng đấy ạ, hoàn cảnh chúng em cũng tương tự như thế, là người dân không chuyển đổi được nghề nghiệp mà họ thu hồi tước đoạt hết đất đai tư liệu sản xuất của bà con, đẩy bà con vào cảnh đường cùng, cảnh nghèo đói thất nghiệp, thì chị em chẳng còn cách nào khác.
Nếu chính quyền không giải quyết để trả lại quyền lợi no ấm cho nhân dân thì chúng em phải vùng lên để giành giật lại miếng cơm manh áo sự sống của chúng em thôi. Đất đai này là của cha ông nghìn đời để lại, nhân dân đã xây đình, xây chùa tồn tại ở đây hàng bao nhiêu nghìn năm, thế mà bây giờ họ lại bảo đất của nhà nước, rồi họ thu hồi, họ đưa cho những người giàu sang những thôn xóm để họ xây đô thị. Họ bán trên mạng hàng bao nhiêu tiền một mét vuông, đẩy người dân vào cảnh sống mà không có đất làm, chết không có đất mà chôn, thì chúng em đành phải vùng lên mà thôi. Chúng em không sợ chết đâu ạ. Chấp nhận hy sinh, chấp nhận bị bắt, bị tù. Phải vùng lên để chiến đấu chống quân cướp đất.
Chúng em không sợ chết đâu ạ. Chấp nhận hy sinh, chấp nhận bị bắt, bị tù. Phải vùng lên để chiến đấu chống quân cướp đất.
Chị Cấn Thị Thêu
Mặc Lâm : Xin được hỏi chị một câu cuối. Người dân Dương Nội, đặc biệt là những người đang tranh đấu như vậy thì nguyện vọng chung của họ là gì, thưa chị?
Chị Cấn Thị Thêu : Dạ, nguyện vọng chung của chúng em là mong muốn khi thu hồi đất thì chính quyền ít nhất phải trả lại bà con 60 phần trăm trên tổng số diện tích đất bị thu hồi, chuyển cho chúng em số đất ấy thành đất sử dụng ổn định lâu dài, đất thổ cư để cho chúng em sinh sống ổn định trên khu đất đấy. Để chúng em có chỗ ở, có nơi mà làm ăn sinh sống. Thứ hai nữa, nguyện vọng của bà con là họ đã phá mồ mả của ông cha chúng em rải rác trên khắp hai cánh đồng, bây giờ thì xương cốt vương vải khắp nơi. Yêu cầu chính quyền phải giám định ADN, phải lật từng centimet để quy tập các ngôi mộ bị hủy phá để trả về cho các gia đình có mồ mả bị phá. Đấy là nguyện vọng của chị em như thế ạ.
Mặc Lâm : Một lần nữa xin cảm ơn chị.
Chị Cấn Thị Thêu : Vâng. Chào bác ạ.

Hoa Kỳ “hài lòng” về việc chính quyền Việt Nam trả tự do cho ông Nguyễn Quốc Quân

Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân (DR)

Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân (DR)
Được bất ngờ phóng thích và trục xuất ngay về Mỹ vào hôm qua, 30/01/2013, ông Nguyễn Quốc Quân, một công dân Mỹ gốc Việt bị chính quyền Hà Nội buộc tội âm mưu lật đổ chính quyền, đã về đến California. Sự kiện ông Quân được thả ra đã lập tức được chínhquyền Mỹ đánh giá là một “tin vui”.
Phát biểu nhân cuộc tiếp xúc thường kỳ với báo chí vào hôm qua, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Mỹ, bà Victoria Nuland xác định là đối với chính quyền Hoa Kỳ, “không có một ưu tiên nào cao hơn sự an toàn và an ninh của công dân Mỹ ở ngoại quốc”. Trên tinh thần đó, theo phát ngôn viên bộ Ngoại giao Mỹ, Hoa Kỳ cảm thấy “hài lòng về việc công dân Mỹ Richard Nguyễn được trả tự do”, và đấy là một “tin vui”.
Trước đó, phát biểu với hãng tin Pháp AFP, phát ngôn viên của đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội, Christopher Hodges, đã cho biết là phía Mỹ cảm thấy “khích lệ” trước việc ông Nguyễn Quốc Quân được phóng thích.
Xin nhắc lại là vào hôm qua, trong một bản tin ngắn, Thông Tấn Xã Việt Nam loan báo quyết định trục xuất ông Nguyễn Quốc Quân, bị giam giữ từ ngày 17/4/2012 khi ông đáp máy bay về tới phi trường Tân Sơn Nhất.
Là một thành viên cao cấp trong đảng Việt Tân, trụ sở tại Hoa Kỳ, ông Quân thoạt đầu bị cáo buộc vào tội danh “khủng bố”, nhưng sau đó được chuyển thành “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền”. Đảng này luôn khẳng định lập trường đấu tranh ôn hòa cho dân chủ, nhưng theo chính quyền Việt Nam, đó là một tổ chức “khủng bố”.
Việt Nam từng loan báo sẽ mang ông Quân ra toà xét xử vào hạ tuần tháng giêng này, nhưng rốt cuộc phiên xử không diễn ra và ông bị cấp tốc trục xuất về Mỹ vào hôm qua.
Theo hãng tin Mỹ AP, việc trả tự do cho ông Nguyễn Quốc Quân được thực hiện sau khi có áp lực ngoại giao từ phía Mỹ. Sư kiện này đồng thời cho phép gỡ bỏ một cái gai cụ thể trong quan hệ giữa Hà Nội và Washington, trong bối cảnh cả hai nước đang cố gắng tăng cường quan hệ vì cùng chia sẻ mối quan ngại trước sức mạnh kinh tế và quân sự ngày càng tăng Trung Quốc.

Wednesday, January 30, 2013

Nhật Bản là “khắc tinh” của Trung Quốc


Hình ảnh vẽ lại về cuộc chiến trên biển giữa Trung – Nhật.
Tham vọng Trung Quốc hai lần ‘đứt gánh’ vì Nhật Bản
Nhật Bản gần như là “khắc tinh” của Trung Quốc trên con đường phát triển. Trung Quốc từng có hai cơ hội bứt phá quan trọng, nhưng đều vì Nhật Bản mà “đứt gánh giữa đường”.
Tienphong Online giới thiệu bài viết của Mã Dũng, nhà nghiên cứu lịch sử cận đại (Viện Khoa học xã hội Trung Quốc) đăng trên Hoàn cầu Thời báo và Tân Hoa xã:
Đây đang là lần thứ ba Trung Quốc khởi động tiến trình hiện đại hóa. Trải qua 34 năm cải cách mở cửa, đất nước đông dân nhất thế giới đang bước vào một giai đoạn then chốt.
Dư luận đang đặt ra câu hỏi, liệu Trung Quốc có “mất cả chì lẫn chài” lần nữa và tiến trình hiện đại hóa lần thứ 3 này có bị người Nhật chặn đứng hay không?

Tơi tả trong chiến tranh Thanh – Nhật
Năm 1861, sau khi trải qua hai cuộc chiến tranh nha phiến khốc liệt, cuối cùng Trung Quốc đã tỉnh ngộ và bắt đầu học tập phương Tây, lịch sử Trung Quốc gọi đó là “phong trào Dương Vụ” hoặc “Đồng Quang trung hưng” (Đồng Quang: chỉ hai đời hoàng đế thứ 10 Đồng Trị và hoàng đế thứ 11 Quang Tự thời nhà Thanh).
Vài năm sau đó, kinh tế Trung Quốc đã có sự thay đổi rõ rệt, nền tảng công nghiệp và giai cấp tư sản Trung Quốc mới nổi từng bước trưởng thành, thể chế chính trị, đặc biệt là hệ thống luật pháp sau một thời gian điều chỉnh dần dần hội nhập với thế giới. Việc xây dựng một đất nước Trung Quốc hoàn toàn mới có địa vị bình đẳng với các nước trên thế giới không phải là chuyện quá xa vời.

Chiến tranh Thanh – Nhật là cuộc chiến tranh giữa triều đình Mãn Thanh của Trung Quốc và Nhật Bản diễn ra từ 1-8-1894 đến 17-4-1895. Cuộc chiến tranh này đã trở thành biểu tượng về sự suy yếu của nhà Thanh và chứng tỏ sự thành công của quá trình hiện đại hóa do công cuộc Minh Trị Duy Tân ở Nhật Bản mang lại so với phong trào Dương Vụ ở Trung Quốc.
Tuy nhiên, trong lúc Trung Quốc đang tiến bước theo lộ trình đã hoạch định, giai cấp sĩ đại phu, giới quân sự diều hâu bắt đầu có tư tưởng tự mãn, khinh địch.
Trung Quốc đã thay đổi những chính sách bí mật đã định khi phong trào Dương Vụ tiến hành được 33 năm, vì tương lai của Triều Tiên mà khai chiến với Nhật Bản qua cuộc chiến tranh Thanh Nhật (hay còn gọi là chiến tranh Giáp Ngọ ).
Chỉ trong vòng mấy tháng ngắn ngủi, quân đội nhà Thanh đã bị đánh tơi tả, huyền thoại “Đồng Quang trung hưng” một đi không trở lại.
Sự thảm bại của hạm đội Bắc Dương đã khiến người Trung Quốc phải nén đau thương để suy nghĩ và tỉnh ngộ, và rất nhiều người cho rằng, đó là do quan điểm “Trung thể Tây dụng” (học lấy những tri thức hữu dụng của phương Tây, nhưng vẫn giữ lấy những giá trị bản thể cốt lõi của Trung Quốc) gây tai họa.

Và thế là, năm 1895, Trung Quốc đã thay đổi toàn bộ chiến lược đã phát triển mấy chục năm, hướng về phương Đông, bắt chước Nhật Bản và bước vào “thời kỳ Duy Tân”.
Sau đó, Duy Tân, Tân Chính, Quân Hiến, quân chủ lập hiến rồi lại Quân Hiến… tất cả đều đi theo vết xe của Nhật Bản.


Tàu chiến của hải quân Trung Quốc trước đây
Trượt dốc vì hung hăng
Hạm đội Bắc Dương là một trong bốn hạm đội hiện đại nhất của hải quân Trung Quốc vào cuối thời nhà Thanh. Hạm đội này nhận được sự hậu thuẫn lớn từ Lý Hồng Chương, Tổng đốc Trực Lệ. Hạm đội Bắc Dương thống trị châu Á trước khi chiến tranh Trung Nhật lần thứ nhất xảy ra. Cuối những năm 1880, hạm đội Bắc Dương được coi là “mạnh nhất châu Á” và “mạnh thứ 8 thế giới”.
Cho đến nay, lịch sử vẫn chưa thể phán đoán sự chuyển hướng của Trung Quốc năm 1895 là tốt hay xấu.
Tuy nhiên, hầu hết các học giả Trung Quốc vẫn phải thừa nhận rằng, việc quốc gia này chấm dứt phong trào Dương Vụ là đáng tiếc.
Giả sử năm 1894, Trung Quốc không vì tương lai của Triều Tiên mà khai chiến với Nhật Bản, giả dụ lúc đó Trung Quốc nghe theo lý do phản đối chiến tranh của các đại thần nhà Thanh như Lý Hồng Chương, Tôn Dục Văn, nghe ý kiến đánh giá của các chính trị gia quốc tế về quan hệ Trung – Nhật, tìm mọi cách để né tránh chiến tranh, tiếp tục con đường “Trung thể Tây dụng” thì 20 năm sau đó, Trung Quốc sẽ thế nào?

Khi mới bắt đầu phong trào Dương Vụ, Trung Quốc chỉ học hỏi và phát triển khoa học kỹ thuật; 10 năm sau đó tập trung phát triển kinh tế đối ngoại, mở rộng đầu tư, chấp nhận các công ước quốc tế; 10 năm tiếp nữa, Trung Quốc thảo luận tính khả thi của phong trào cải cách chính trị… Nếu đi theo lộ trình đó, e rằng Trung Quốc sẽ không tụt hậu quá xa so với thế giới.
Tuy nhiên, lịch sử quá đỗi vô tình. Sau chiến tranh Thanh – Nhật, mọi thứ đều trở về con số không. Trung Quốc lại trải qua 30 năm sóng gió, năm 1928 tái thiết thống nhất và bước vào công cuộc xây dựng hiện đại hóa mới.
Nếu đánh giá trong vòng 1 thập kỷ (1928 – 1937) là giai đoạn “hoàng kim” để Trung Quốc phát triển chủ nghĩa tư bản có thể là hơi quá, nhưng đích thực đây là giai đoạn rất có tiềm năng để Trung Quốc tiến hành hiện đại hóa.

Chiến tranh Trung Nhật, Chiến tranh Thế giới thứ hai đã làm thay đổi cục diện thế giới và thay đổi đất nước Trung Quốc.
Khác với cuộc chiến Thanh – Nhật trên biển năm xưa, hầu hết học giả Trung Quốc cho rằng, chiến tranh chống Nhật của Trung Quốc là “không thể tránh khỏi”, nhưng cho dù thế nào thì đó cũng là lần thứ hai Nhật Bản chặn đứng tiến trình hiện đại hóa của Trung Quốc, khiến “thời kỳ hoàng kim” của chủ nghĩa tư bản Trung Quốc tan thành mây khói.
14 năm dài chờ đợi, 8 năm khổ chiến chống chọi, tiến trình hiện đại hóa mà Trung Quốc phải trả giá rất đắt bằng sức người, sức của đã biến thành con số không tròn trĩnh.


Kỳ hạm Matsushima, tàu do Đô đốc Sukeyuki Ito chỉ huy trong trận hải chiến Hoàng hải 1894.
‘Mồi lửa’ chiến tranh
Hiện tại, Trung Quốc lại bắt đầu bước vào thời kỳ phát triển then chốt. 34 năm cải cách mở cửa đã khiến Trung Quốc có quyền được nói “không” nếu muốn.
Những tranh chấp về lãnh thổ trên vùng quần đảo mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư và Nhật Bản gọi là Senkaku cùng mồi lửa chiến tranh có thể bùng phát bất cứ lúc nào đã khiến người Trung Quốc thực sự phẫn nộ.
Mặc dù những năm tháng nghèo đói bần cùng đó đã trở thành quá khứ đối với người Trung Quốc, nhưng hai lần Nhật Bản đập tan giấc mơ hiện đại hóa của quốc gia tỉ dân này là bài học khiến Trung Quốc mãi mãi không thể quên.

Ngày nay, sự lớn mạnh đã khiến Trung Quốc có nhiều không gian lựa chọn chiến lược hơn. Tuy nhiên, làm thế nào để không phải trả giá quá đắt, để những tranh chấp trên vùng quần đảo Điếu Ngư (Senkaku) không thể trở thành tảng đá chặn đứng bước tiến của Trung Quốc đang là một bài toán vô cùng đau đầu cho chính quyền Bắc Kinh, đồng thời cũng là hồi chuông cảnh tỉnh cho toàn Trung Hoa.
Sự phát triển của kinh tế Trung Quốc trong vòng 34 năm qua đã khiến nội bộ Trung Quốc nảy sinh ra hàng loạt vấn đề, nhiều học giả Trung Quốc cho rằng nguyên nhân quan trọng khiến Nhật Bản “gây gổ” với Trung Quốc là họ tin rằng: Nếu tiếp tục cho Trung Quốc 20 năm hòa bình nữa, hàng loạt vấn đề nảy sinh trong nội bộ đất nước Trung Quốc sẽ được giải quyết một cách ổn thỏa.
Đến lúc đó, Nhật Bản không thể sánh với Trung Quốc về tổng GDP mà còn để mất đi thế mạnh vượt trội so với Trung Quốc đã duy trì hơn một thế kỷ qua.

Giả dụ Trung Quốc sẵn sàng khai hỏa đối đầu, kể cả giành chiến thắng trong cuộc chiến này, nhưng tiến trình hiện đại hóa lần thứ ba của Trung Quốc rất có thể sẽ bị chặn đứng, mọi vấn đề đang tồn tại trong nội bộ xã hội Trung Quốc không những không được giải quyết mà có thể sẽ bị kéo dài một cách vô thời hạn.
Trần Quỳnh Hương
(Theo Hoàn cầu thời báo)

Tây Tạng, Việt Nam

Hãy hình dung rằng, nếu Việt Nam trở thành một Tây Tạng thứ nhì, hay một Tân Cương thứ nhì. Nghĩa là lại một thời Bắc Thuộc, là nằm trong bàn tay sắt của Trung Quốc.Hãy nhìn Tây Tạng và Tân Cương để thấy rằng, quốc tế sẽ không can thiệp được gì, ngay cả khi Liên Hiệp Quốc có họp, có lên án thì cũng như không. Sẽ không hề có nước nào trừng phạt kinh tế Trung Quốc để phản đối các đợt đàn áp nhân quyền, sắc tộc hay tôn giáo tại Tây Tạng và Tân Cương. Đơn giản, quốc tế có thể trừng phạt Iran, trừng phạt Syria… nhưng thị trường 1.3 tỷ dân TQ đã quá hấp dẫn, quá tuyệt vời để các nước quên hằng nhiều triệu dân Tây Tạng và Tân Cương ngày ngày bị nhà nước Bắc Kinh đồng hóa bằng mọi thủ đoạn.
Như thế, nếu Việt Nam trở thành một Tây Tạng hay Tân Cương thứ nhì, cơ may vùng vẫy để thoát ra rất là hiếm. Hãy nhìn cuộc chiến tuyệt vọng của dân Tây Tạng thì biết.
Sikyong Dr Lobsang Sangay, người được bầu làm Thủ Tướng lưu vong cuả cộng đồng Tây Tạng hải ngoại, hôm Thứ Năm 24-1-2013 phổ biến bản văn kêu gọi tất cả những người Tây Tạng trong và ngoaì nước tẩy chay các lễ hội trong Lễ Losar (Năm mới Tây Tạng), năm nay sẽ rơi vào ngày 11-2-2013 vì “tình hình tiếp tục bi thảm” ở Tây Tạng.
Bản văn của Thủ Tướng lưu vong này nói rằng, thay vì tham dự Lễ Hội Losar ngày 11-2, hãy nên thực hiện các nghi lễ tôn giáo như thăm chùa và cúngd ường.
Ngài Sikyong Sangay nhắc rằng mọi người nên mặc trang phục truyền thống Chuba để bày tỏ bản sắc dân tộc, “hãy cầu nguyện cho tất cả những ai đã hy sinh thân mạng và cho bất kỳ ai tiếp tục bị đau khổ ở vùng Tây Tạng bị chiếm đóng.”
Khi tính từ năm 2009, đã có 98 người Tây Tạng tự thiêu trong lãnh thổ Tây Tạng để phản đối việc TQ chiếm đóng Tây  Tạng và đòi hỏi tự do và sự trở về của Đức Đạt Lai Lạt Ma.
Riêng trong năm 2013 đã có 3 người tự thiêu, trong đó gần nhất là Kunchok Kyab, 26 tuổi, ở khu vực Labrang, phía Tây Tây Tạng.
Chính phủ Tây Tạng lưu vong, bản doanh ở thành phố Dharamshala, lập lại lời kêu gọi hãy biến năm 2013 là năm “Đoàn Kết Với Vận Động Tây Tạng.”
Theo chương trình, nhiều ngàn người Tây Tạng sẽ đổ về New Delhi các ngày từ 30-1-2013 tới 2-2-2013 để dự chiến dịch 4 ngày — một phần của chiến dịch đoàn kết Tây Tạng.
Tương tự, vào ngày 10-3-2013, dân Tây Tạng từ khắp Châu Âu cũng sẽ đổ về Brussels, thủ đô Liên Âu, để tưởng niệm lễ Ngày Nổi Dậy Toàn Quốc Tây Tạng năm thứ 54.
Ngài Sikyong Sangay cũng kêu gọi tất cả mọi người trên thế giới, mọi hội đoàn toàn cầu giúp tăng nỗ lực vận động các chính giới, viết thư, lên tiếng, tìm gặp các chính giới, các dân cử điạ phương để nói giùm dân tộc Tây Tạng đau khổ.
Ông cũng kêu gọi “các anh, các chị người Trung Hoa” hãy liên kết với người Tây Tạng để hỗ trợ cuộc chiến chính đáng của dân Tây Tạng.
Ông cũng nói rằng chính phủ lưu vong giữ lập trường trung đạo để giải quyết vấn đề Tây Tạng qua đối thoại ôn hòa.
Tết của dân Tây Tạng thường là tháng 2 hay tháng 3 mỗi năm, theo âm lịch Tây Tạng.
Và kể từ cuộc đàn áp đẫm máu năm 2008, năm nay là năm thứ 5 liên tục người Tây Tạng ăn Tết Losar thầm lặng.
Hãy thấy đó mà sợ, nếu Việt Nam trở thành một Tây Tạng thứ nhì.
Thế giới bênh vực được gì không?
Hãy nhìn Tây Tạng và Tân Cương mà biết sợ.
Tuần lễ này cũng là tròn 40 năm ngaỳ ký Hòa Ước Paris 1973. Xin noí rõ là Hòa ước, nghĩa là để tìm hòa bình, chứ không đơn giản là Hiệp định Ngưng bắn hay thứ gì tương tự. Đó cũng là ý kiến nhấn mạnh của GS Nguyễn Ngọc Bích khi Giáo Sư ghé thăm Việt Báo để nói về những ngày chuyển biến lịch sử của VN.
Đài RFI hôm Thứ Sáu cũng ghi nhận về dấu mốc này:
“Hôm nay, 25/01/2013, tại Hà Nội, các lãnh đạo Việt Nam đã dự lễ kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris 27/01/1973, chấm dứt sự can thiệp quân sự trực tiếp của Mỹ ở Việt Nam và tạm dừng chiến sự giữa hai miền Nam – Bắc.
Phát biểu tại buổi lễ, chủ tịch nước Truơng Tấn Sang mô tả các cuộc đàm phán về Hiệp định Paris là “đấu tranh ngoại giao khó khắn nhất, lâu dài nhất đối với Việt Nam”. Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, ca ngợi Hiệp định Paris là “thắng lợi có ý nghĩa chiến lược dẫn đến chiến thắng năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”.
Các cuộc đàm phán nhằm chấm dứt chiến tranh Việt Nam đã được mở ra tại Paris ngày 10/05/1968, nhưng đàm phán đã kéo dài đến 5 năm và trong khoảng thời gian đó, chiến tranh đã leo thang, vì bên nào cũng chủ trương “vừa đánh vừa đàm”, với hy vọng biến chiến thắng quân sự thành lợi thế ngoại giao.
Chiếu theo Hiệp định Paris, các bên đồng ý ngừng bắn và Hoa Kỳ cam kết rút quân khỏi Việt Nam trong vòng 60 ngày và trong cùng thời gian các tù binh sẽ được phóng thích. Hai miền Nam Bắc cũng cam kết sẽ đi đến thống nhất đất nước trong hòa bình.
Theo nhận định của AFP, do không có giải pháp chính trị nào, chiến sự lại bùng nổ, Hà Nội phá vỡ Hiệp định Paris, tung lực lượng chính quy dùng vũ lực để chiếm trọn miền Nam.
Tuy gọi là “Hiệp định Hòa bình Paris”, nhưng hiệp định này đã không mang lại ngay hòa bình cho Việt Nam và chiến tranh chỉ chấm dứt vào tháng 4/1975, với kết quả hoàn toàn không giống như dự trù của Hiệp định Paris.”(hết trích)
Đúng vậy, đó là Hiệp định Hòa bình Paris, nhưng không hề hòa bình tí nào.
Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích hôm Thứ Sáu tại tòa soạn Việt Báo đã nói rằng, lúc đó Giáo sư giữ chức Cục Trưởng Cục Thông Tin Đối Ngoại, văn phòng ở Sài Gòn, nên quan sát tình hình hòa đàm Paris rất kỹ.
GS Bích nói rằng, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu yêu cầu phía Mỹ cung cấp bản Việt ngữ của bản văn dự thảo nhưng Kissinger liên tục lờ đi. Tuy nhiên, TT thiệu cũng có được một bản dự thảo Việt ngữ là nhờ tình báo VNCH lấy một bản từ Cục R đưa ra.
Nhờ bản Việt ngữ để đối chiếu đó, phía VNCH mới đưa ra yêu cầu Mỹ phải sửa 72 điểm trong bản văn, bởi vì bản Việt Ngữ và bản Anh Ngữ khác biệt tới 72 điểm — trong đó có 20 điểm quan trọng, theo lời GS Nguyễn Ngọc Bích.
GS Bích nói,trong Chương 4 Hòa Ước, Điều 9-A nói rằng các nước phải tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ VN theo Hiệp Định Geneva 1954, trong đó Hoàng Sa và Trường Sa là của VN. GS Bích nói, chính ông Nguyễn Tấn Dũng cũng công nhận như thế năm 2011, khi nói 3 lần rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của VNCH (nói rõ, VNCH, lời ông Dũng).
Và Điều 9-B trong Chương 4 nói rằng dân Miền Nam có quyền tự quyết qua bầu cử, và sau đó kế tiếp còn có một định ước 1973 gồm 12 quốc gia ký tên, có cả Trung Quốc, cùng ký vào.
Và bây giờ thì Hoàng Sa mất luôn, Trường Sa mất một phần.
Và bây giờ, tròn 40 năm ngày ký Hiệp định Hòa bình Paris.
Không khéo, quê nhà sẽ tới một lúc mất trọn vào tay Trung Quốc — hung hiểm là thế.
Một Tây Tạng thứ nhì là cơ nguy có thật vậy.

40 NĂM! VẪN CHƯA THỨC TỈNH

Gorbachev40 năm đã trôi qua, hồi tưởng lại những ngày tháng xa xăm trong quá khứ tràn đầy hy vọng và tuyệt vọng lẫn lộn. Từ buổi sáng ôm mớ hành trang tù, nhếch nhác ra xe chuyển về Bình Đà , Hà Tây rồi Ba Sao, Phủ Lý Nam Hà rồi những ngày bị đưa đi “cách ly”, nằm trong cấm phòng biệt giam ngăn cách hoàn toàn với những người tù của miền Nam VNCH đang ngóng đợi lọt vào danh sách trao đổi, trao trả theo như các bên ký kết trong “Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam 27/1/1973”. Thoáng đó mà đã 40 năm, nay nhớ lại những cảm giác, ấn tượng đầu tiên của chúng tôi khi được đọc những điều khoản của hiệp định trên báo Việt Cộng vẫn không có gì thay đổi về cơ bản. Xét về nội dung “Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam 27/1/1973” là một bản hiệp định đình chiến tồi tệ nhất trong lịch sử nhân loại mà một bên tham gia thương thảo bị cả ba phía còn lại dồn ép ký vào một bản văn tự sát.
Thời gian đó, sau những đợt học tập để trao đổi, trao trả đã được tổ chức từ cuối thu 1972, những tiêu chuẩn sống cơ bản của chúng tôi được nâng lên nhằm cho những người tù binh có cơ hội sống còn, hồi phục sức khỏe để giữ thể diện cho Việt cộng một khi bị buộc phải giải quyết vấn đề tù binh theo hiệp định sẽ ký kết.
Nằm trong bốn vòng tường vây của nhà tù cộng sản, trước những hiện tượng thay đổi các chế độ giam giữ; chúng tôi vẫn lờ mờ thấy đây chỉ là những mưu mô dự phòng của bọn Việt Cộng để chúng tôi yên tâm chờ đợi ngày về, tránh tình trạng tù binh  nổi loạn vì tuyệt vọng.
Những ngày cuối năm dương lịch 1972, từ trại sơ tán vùng Tân Lập, Vĩnh Phú, chúng tôi đã nghe tiếng phi cơ B52 ầm ỳ bay qua bầu trời suốt mười mấy ngày đêm, những tưởng rằng đại quân VNCH bắc tiến.
Nhưng sau đó tin tức từ đài Tiếng Nói Việt Nam phát qua loa phóng thanh và những tờ báo cho chúng tôi biết, Không Quân Chiến Lược Hoa Kỳ đã dùng B52 oanh tạc Hà Nội. Phố cô đầu Khâm Thiên là nơi bị tổn hại nặng nề nhất, báo chí ra sức tố cáo tội ác của bọn “Hung nô thời đại” là đế quốc Mỹ và kêu gọi nhân dân Việt Nam ghi tâm, khắc cốt mối thù này nhưng sau đó vài ngày luận điệu sắt máu, hoảng hốt, căm thù  được thay bằng những lời lẽ rất là ngoại giao khi tại Paris,  hiệp định đình chiến đã được bối thư, chờ ký chính thức. Cái tên Henry Kissinger được nhắc đến kèm theo học vị Tiến Sĩ một cách trang trọng trên mặt báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, loa đài và lần đầu tiên sau khi ký kết “Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam 27/1/1973”,  ông ta, Tiến sĩ Henry Kissinger ghé qua Hà Nội và chuyến đi này được “bonus” bằng một nhóm 25 phi công Mỹ bệnh gần chết được cho về sớm trước khi tiến hành trao đổi, trao trả chính thức.
Hơn tuần sau, chúng tôi từ  trại Tân Lập xuôi xuống Bình Đà, Khúc Thủy, Hà Tây rồi sau đó chuyển vào trại Ba Sao, Kim Bảng, Nam hà .Tại đây khi được đọc một số văn bản của “Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam 27-1-1973”, chúng tôi vẫn linh cảm không có ngày về dù điều 8c của hiệp định có đề cập đến việc trao đổi, trao trả những tù binh và nhân viên dân sự của các bên bị bắt trong thời kỳ tiền hiệp định.
Chúng tôi cũng đã nhận thấy bản hiệp định sẽ bị phá vỡ vì hơn 150,000 quân BắcViệt vẫn nằm lại trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa để chuẩn bị xé hiệp định, thôn tính miền Nam bằng sức mạnh quân sự, khi các lực lượng Hoa Kỳ và đồng minh hoàn toàn rút khỏi miền Nam Việt Nam, không giống như cuộc đình chiến Bàn Môn Điếm ở Cao Ly.
Thực tế cho thấy những chữ ký trong bản hiệp định chưa ráo mực, miền  Nam đã nảy sinh nhóm chữ “đình chiến da beo”, “cắm cờ giữ đất, giành dân”. Các phía tham gia hiệp định đều tố cáo đối phương vi phạm hiệp định và những cuộc tranh cãi giữa các Ủy ban bốn bên, Uỷ ban Quốc tề tràn đầy mặt báo. Khi chúng tôi đang hưởng chút thoải mái trong nhà tù Ba Sao thì ở miền Nam thân yêu, những người lính Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục đổ  máu và hy sinh tính mạng chỉ để giành giật lãnh thổ nhưng không nhìn thấy chiến thắng chung cuộc vì Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không bao giờ ngừng chuyển quân viện và vũ khí vào miền Nam và Việt Nam Cộng Hòa hầu như không đủ sức Bắc Tiến.
Cuộc chiến cứ kéo dài như thế liệu những cam kết của Hoa Kỳ với Việt Nam Cộng Hòa có vững bền không khi trong bản hiệp định đã cho thấy Việt Nam Cộng Hòa sẽ không tồn tại mà tình hình miền Nam sẽ được giải quyết bằng một cuộc hiệp thương giữa ba thành phần theo như ngôn ngữ của Chương IV, “Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam 27/1/1973”.
Thấy được những hiểm họa đó, có nghĩa chúng tôi đã thấy được thể chế Việt Nam Cộng Hòa trên đường sụp đổ, bại vong. Trừ phi có một phép lạ, miền Nam nảy sinh một nhân vật kiệt xuất như Napoléon, De Gaulle có khả năng đưa mảnh đất cuối cùng của người Việt yêu tự do ra khỏi vòng nguy biến.
Chúng tôi trích dẫn toàn văn CHƯƠNG IV dưới đây để quý độc giả tham khảo, nhận định tại sao chúng tôi kết luận rằng Hoa Kỳ đã có ý xóa sổ Việt Nam Cộng Hòa:
TRÍCH:
Chương IV: VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN TỰ QUYẾT CỦA NHÂN DÂN MIỀN NAM VIỆT NAM
Điều 9:
Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cam kết tôn trọng những nguyên tắc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam dưới đây:
a) Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm và phải được tất cả các nước tôn trọng.
b) Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam thông qua tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ, có giám sát quốc tế.
c) Các nước ngoài sẽ không được áp đặt bất cứ xu hướng chính trị hoăc cá nhân nào đối với nhân dân miền Nam Việt Nam.
Điều 10:
Hai bên miền Nam Việt Nam cam kết tôn trọng ngừng bắn và giữ vững hòa bình ở miền Nam Việt Nam; giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng thương lượng và tránh mọi xung đột bằng vũ lực.
Điều 11:
Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ:
– Thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia;
– Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín nguỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh.
Điều 12:
a) Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau. Hội đồng sẽ làm việc theo nguyên tắc nhất trí. Sau khi Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc nhậm chức, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương để thành lập các hội đồng cấp dưới. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ký một hiệp định về các vấn đề nội bộ của miền Nam Việt Nam càng sớm càng tốt, và sẽ làm hết sức mình để thực hiện việc này trong vòng chín mươi ngày sau khi ngừng bắn có hiệu lực, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân miền Nam Việt Nam là hòa bình, độc lập và dân chủ.
b) Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc có nhiệm vụ đôn đốc hai bên miền Nam Việt Nam thi hành Hiệp định này, thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ. Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ như đã nói trong Điều 9(b) và quy định thủ tục và thể thức của cuộc tổng tuyển cử này. Các cơ quan quyền lực mà cuộc tổng tuyển cử đó sẽ bầu ra sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam thông qua hiệp thuơng mà thỏa thuận. Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc cũng sẽ quy định thủ tục và thể thức tuyển cử địa phuơng theo như hai bên miền Nam Việt Nam thỏa thuận.
Điều 13:
Vấn đề lực luợng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, không có sự can thiệp của nước ngoài, phù hợp với tình hình sau chiến tranh. Trong số những vấn đề hai bên miền Nam Việt Nam thảo luận có các biện pháp giảm số quân của họ và phục viên số quân đã giảm. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hoàn thành việc đó càng sớm càng tốt.
Điều 14:
Miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập. Miền Nam Việt Nam sẵn sàng thiết lập quan hệ với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị và xã hội trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và nhận viện trợ kinh tế, kỹ thuật của bất cứ nước nào không kèm theo điều kiện chính trị. Vấn đề nhận viện trợ quân sự sau này cho miền Nam Việt Nam sẽ thuộc thẩm quyền của chính phủ được thành lập sau tổng tuyển cử ở miền Nam nói trong Điều 9(b).
HẾT TRÍCH
Theo như  điều khoản thượng dẫn, sau khi ký kết hiệp định miền Nam Việt Nam trở thành một vùng sôi đậu, da beo giữa hai chính quyền trong khi trước đây sau Hiệp Định Geneve 20 – 7 – 1954 từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam là vùng tập kết của những người quốc gia, là lãnh thổ của Quốc gia Việt Nam, sau này chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thừa kế, tiếp nối. Hoa Kỳ đã thỏa hiệp với Việt Cộng để biến hành động xâm lăng, phá hoại miền Nam của chúng qua cánh tay nối dài là MTDTGPMNVN trở thành tranh chấp nội bộ của miền Nam.
Hoa Kỳ tự nguyện đến Việt Nam để giúp Việt Nam Cộng Hòa dẹp bọn phiến loạn cộng phỉ nhưng đến khi cần kết thúc cuộc chiến, Hoa Kỳ thừa nhận bọn ăn cướp và bắt gia chủ phải bàn bạc chia gia sản với chúng. Không những thế, Hoa Kỳ lại còn gài thêm điều khoản  về “Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc” để lấy hai chống một trong khi bàn bạc, dàn xếp phương cách giải quyết công việc ở miền Nam. Với những nội dung như  vậy, về chính trị Việt Nam Cộng Hòa xem như đã bị loại ra ngoài vòng chiến.
Những ngày tháng ngắn ngủi gặp lại bác Nguyễn văn Đãi, Đại Biểu Chính Phủ vùng I và anh Bảo Lộc Phó Tỉnh Trưởng Thừa Thiên, chúng tôi đã  bộc lộ về mối hiểm họa này và các vị cũng biểu đồng tình, riêng vấn đề trao trả về miền Nam xem như một “tabou” cấn kỵ không người nào muốn bàn tới.
Cho đến ngày…..
Tôi không bao giờ quên khi anh chàng công an trại Ba Sao vào mời tôi ra gặp trưởng phái đoàn phụ trách trao đổi trao trả ngay buổi trưa ngày 30 Tết.
Lúc đó, tôi vừa từ trong nhà bước ra sân, định đi đánh bóng bàn, gã thiếu úy công an tên Chung gọi tôi:
-Anh Sơn định đi đâu đấy.
- Qua chỗ đánh bóng bàn, chơi vài hiệp.
- Thôi để lúc khác, tôi sang mời anh lên văn phòng gặp Thủ trưởng Phái Đoàn Bộ.”
Tôi hơi ngạc nhiên thầm nghĩ “tết đến nơi rồi, gặp mấy thằng công an hãm tài này thêm bực mình.” tuy nghĩ vậy nhưng cũng phải làm ra cách vui vẻ đi cùng hắn.
Khi người công an tên Chung đưa tôi vào hội trường, tôi hơi ngạc nhiên thấy hầu như toàn bộ những người cán bộ của phái đoàn đều có mặt. Hình như họ vừa kết thúc một cuộc họp. Thấy tôi bước vào, tất cả đều đứng dậy tản đi, còn lại ba người ngồi trước cái bàn lớn. Một người lên tiếng và chỉ vào chiếc ghế đối diện với họ:
- Anh Hà Văn Sơn! Mời anh ngồi đây. Năm hết tết đến, chúng tôi có vài câu chuyện muốn trao đổi với anh.
Tôi gật đầu lên tiếng :”Chào các ông” rồi chẳng chút e dè, đủng đỉnh tiến tới ngồi vào chiếc ghế đối diện, định thần nhìn thẳng vào mặt đối phương qua cái bàn hội họp. Mấy hôm nay đã có nhiều anh em đi gặp phái đoàn nhưng cuộc gặp của tôi xảy ra ngay giữa trưa 30 tết quả là một điều hơi khác lạ, không bình thường. Rồi lại gặp một lúc đến ba người đứng đầu của phái đoàn cho thấy tình thế của “cuộc gặp gỡ  nói chuyện” này không khác gì một buổi thẩm cung tại trại giam Thanh Liệt trước đây.
Tên trưởng đoàn ngồi quan sát kỹ hành động của tôi lên tiếng:
- Anh Sơn hút thuốc đi, rồi chúng ta nói chuyện.
Tôi bình thản cầm gói thuốc Điện Biên bao bạc trên bàn, rút một điếu châm lửa hút, rồi nhìn những người đối diện qua khói thuốc. Giác quan thứ sáu đã cho tôi thấy có một mối hiểm nguy nào đó đang tiềm ẩn.
Một câu hỏi vang lên:
- Sức khỏe của anh thế nào?
Tôi bình thản nhìn vào gã trưởng phái đoàn:
-Cảm ơn ông!Tôi không bệnh tật gì.
- Các anh trong nhóm vẫn khỏe và có tư tưởng tốt chứ?
Tôi thực sự cảm thấy khó chịu nên phản ứng:
- Tôi chỉ biết phần tôi chứ những người khác sức khỏe và tinh thần tư tưởng ra sao làm thế nào mà tôi biết được.
- Ấy! Anh không biết về người khác nhưng một số người trong các anh lại biết rất rõ về tư tưởng của anh.
Tôi muốn cười phá lên trước cái trò tâm lý nhái kinh điển “cổ lổ sỉ” này nhưng phải cố nhịn để xem cuộc nói chuyện đi theo hướng nào.
- Tư tưởng con người thì thiên hình vạn trạng lúc vững vàng, khi giao động. Làm sao mà ai biết được kể cũng lạ.
- Anh không tin điều tôi nói ra hay sao. Đây nhé! Chúng tôi được biết rằng anh là người khuyên bảo họ cần phải thể hiện sự trung thành với chế độ bù nhìn, tay sai Thiệu Khiêm ở Sài Gòn và đế quốc Mỹ. Anh lầm rồi…
Không để cho hắn nói tiếp, tôi lập tức chặn lại :
-Thưa… ông không nên nặng lời vô lý như vậy. Dù tôi không hề tham gia bầu phiếu cho Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu và Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm nhưng họ là nguyên thủ của chúng tôi.  Đề nghị ông trọng thị trong phát biểu nếu ông không muốn chúng tôi  đáp trả bằng cách gọi ông Hồ Chí Minh là Cáo già tay sai cộng sản Nga Hoa và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là bọn ngụy quyền đánh thuê cho Cộng Sản Quốc Tế.”
- Sinh mạng của anh còn nằm trong tay chúng tôi mà anh dám ăn nói như vậy sao?
- Trường hợp của tôi cũng không khác gì những người cán binh đồng chí của các ông đang nằm trong tay chính thể Việt Nam Cộng Hòa.
-Anh còn trẻ quá đừng ngang bướng không có lợi cho anh. Chúng tôi đang nhận nhiệm vụ tìm mọi cách giúp các anh sau này về trong Nam trở thành người tốt, có thể giúp đỡ cho cách mạng khi cần thiết.
-Tôi là một tù binh chứ không phải là cán binh, cũng không là thuộc cấp của ông nên khỏi phiền ông có hảo ý. Còn trường hợp nếu như tôi được trả về với chính quyền Sài Gòn, đối với những người cách mạng gặp tôi sau này, tôi sẽ rất vui lòng giúp đỡ bằng cách đưa họ vào các Trung Tâm Chiêu Hồi để họ mau chóng giác ngộ trở về với chính nghĩa quốc gia, học tập nghề nghiệp và trở thành người công dân lương thiện.
-Anh nói với tôi như thế này! Anh có hiểu rằng vô cùng nguy hại cho bản thân anh không? Anh không muốn về với gia đình hay sao?
-Tôi đã nói, tôi và những người cán binh Việt Cộng bị giam giữ ở miền Nam đều là tù binh giống nhau. Người nào cũng mong mỏi sớm gặp lại gia đình nhưng quyết định cho những người tù gặp lại gia đình hay không, lại tùy thuộc ở tinh thần tôn trọng hiệp định của đối phương và sự đòi hỏi của chế độ mà mình phục vụ. Thể chế VNCH là một thể chế quốc gia tôn trọng công pháp quốc tế nên cư xử tốt với tù binh và chắc chắn sẽ tôn trọng hiệp định về khỏan trao trả.
-Anh đánh giá thế nào về phía cách mạng chúng tôi?
-Tôi hơi ngạc nhiên khi thấy các ông đưa việc học tập chính sách của các ông làm tiêu chuẩn để xem xét việc trao đổi trao trả.  Các ông cố tình tạo áp lực để cưỡng ép người tù binh phải làm những chuyện không theo nguyên tắc nào cả.
- Anh cố tình không hiểu ý câu hỏi của tôi. Tôi muốn hỏi, anh có nghĩ rằng chúng tôi sẽ trả các anh cho phía chính quyền Sài Gòn hay không?
Tôi trả lời bốp chát:
- Theo suy nghĩ của tôi là không?
- Dựa trên điều gì mà anh nghĩ như vậy.
- Tại tôi đang nói mà ông chận lại nên tôi chưa nói hết. Tôi đã tự kết luận như thế để khi bị giữ lại cũng không tuyệt vọng vì tôi biết rõ câu chuyện về những người tù binh Đức Quốc Xã ở Siberia, những tù binh Pháp ở Mộc Châu, Sơn La nên chuyện trở về với gia đình của chúng tôi chỉ là hãn hữu.
Tên trưởng phái đoàn cười nham hiểm, mỉa mai:
-Anh giỏi thật cả những chuyện như thế mà anh cũng biết.. Nhưng thôi! Buổi nói chuyện hôm nay, thật tâm chúng tôi muốn tạo cho anh một cơ hội để sớm gặp lại gia đình… Anh nghĩ thế nào?
Tôi cười khinh bỉ, giọng riễu cợt:
-Tôi đang lắng nghe đây.
Tiếng của tên trưởng đoàn trầm xuống:
-Tôi chỉ yêu cầu anh làm hai điều rất dễ vì việc của anh làm không phương hại đến ai cả.
Hắn nói tới đó và ngừng lại một cách rất thủ đoạn, chờ sự chú ý của tôi. Tôi bình thản châm điếu thuốc thứ tư hay thứ năm gì đó, nhả khói lên trời. Cả hai phía đều im lặng, dọ xét lẫn nhau. Cuối cùng, tên ngồi bên tay phải gã trưởng đoàn lên tiếng:
- Anh Sơn nghĩ sao?
Tôi giả vờ thắc mắc:
- Tôi đã biết mình phải làm chuyện gì mà nghĩ hay không nghĩ.
Gã bên phải nói tiếp:
- Chúng tôi muốn anh viết hai văn bản thủ tục trước đây trong khi học tập trao đổi trao trả những người khác đã viết nhưng anh từ chối không chịu viết.
- Các ông muốn tôi viết bản “Tố Cáo Tội Ác Đế Quốc Mỹ và Ngụy Quyền Sài Gòn” và “Đơn Xin Khoan Hồng”?
- Đúng thế! Chỉ có vậy thôi! Không hơn, không kém.
Tôi bực bội:
- Con người tôi không thể làm những chuyện phi lý như vậy được. Tôi là một tù binh chiến tranh không có lý gì phải làm đơn …..
Gã trưởng đoàn sẵng giọng:
- Hôm nay, không phải là lúc đấu lý. Đây là yêu cầu của chúng tôi đặt ra. Anh có đáp ứng, tuân phục hay không mà thôi. Chúng tôi sẽ tạo điều kiện cho anh ở “cách ly” để suy nghĩ cẩn thận.
Nói xong, hắn đứng dậy. Tôi cũng đứng dậy, quay lại đã thấy anh chàng Chung cùng hai tên cảnh vệ đợi sẵn ở cửa phòng họp. Chung nói với tôi:”Anh Sơn đi với chúng tôi”.
Thấy hắn hướng về phía trại giam, tôi làm bộ hỏi: Tôi còn hành lý cá nhân .
- Khỏi cần, tôi sẽ lấy và đem lên tận chỗ anh ở.
Tôi bình thản móc túi bật diêm, châm thuốc hút vì biết bọn chó đẻ này đã quyết định có biện pháp xử trí tôi vì thái độ, chủ trương chống đối trong học tập trước đây. Buổi gặp gỡ hôm nay đã có quyết định từ trước và việc đưa tôi đi cách ly chỉ là đòn phủ đầu tung ra đúng thời điểm nhằm trấn áp tư tưởng phản kháng của tất cả những người còn lại. Vậy là định mệnh đã lên tiếng gọi.
Tôi bỗng thấy hình ảnh của chính mình qua  con sói già bị thương của Alfred de Vigny:
“Gémir, pleurer, prier est également lâche. – Fais énergiquement ta longue et lourde tâche – Dans la voie où le Sort a voulu t’appeler – Puis après comme moi souffre et meurs sans parler.”
Đêm giao thừa năm đó, tôi đón xuân trong khu biệt giam trại Ba Sao. Bọn công an trại gài một tên tù hình sự ở chung phòng để kiểm soát an ninh đồng thời báo cáo mọi hành động và suy nghĩ của tôi trong giai đoạn này.
Chúng tôi tự hào đã giữ được khí phách và liêm sỉ của người lính qua việc bác bỏ không làm bản “Tố Cáo Tội Ác Đế Quốc Mỹ và Ngụy Quyền Sài Gòn”, không chấp nhận đầu hàng viết ”Đơn Xin Khoan Hồng” để làm điều kiện tiên quyết cho chúng cứu xét trao đổi, trao trả. Chúng tôi giữ được quốc sỉ vì đã dám có thái độ dứt khoát khi đối phương có lời lẽ không tôn trọng thể chế và nguyên thủ của Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi không thừa nhận đảng Cộng Sản và cái gọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là nhà nước cách mạng, đồng nghĩa với tổ quốc và dân tộc Việt Nam.
Suốt thời gian sau đó nằm trong khu vực biệt giam, hoàn toàn đứt liên lạc với số người cùng đến Ba Sao. Tôi khắc khoải đợi chờ phép lạ xảy ra.. cho đến ngày 19 – 5 – 1973, tôi bị tước bỏ mọi điều kiện sinh hoạt nhỏ nhoi của một tù binh, đưa thẳng lên cùm tại trại Cổng Trời để trả giá cho việc biết giữ gìn liêm sỉ và quốc sỉ.
Nằm trong xà lim như chôn sống trong huyệt mộ hơn hai năm. Tin cộng sản cưỡng chiếm miền Nam khiến tâm hồn tôi tan nát, tuyệt vọng  nhưng không làm cho tôi phải ngạc nhiên. Hai năm ngắc ngoải của tôi ở xà lim trại Cổng Trời là định mệnh của một con người nhỏ bé; trong bốn bức tường xà lim lạnh lẽo, tôi không thể làm gì hơn ngoài việc kiên trì chịu đựng sự hành hạ của đói rét, nhìn cái chết đến chầm chậm.
Hai năm chuẩn bị lâm chung của Việt Nam Cộng Hòa là vận mệnh của cả một dân tộc và đất nước nhưng không có nhân tài nào xuất lộ, tìm ra một kế sách cứu quốc hay phương cách vận động khắp năm châu bốn biển để cứu vãn tình thế, mà chỉ biết ôm chặt lấy bầu sữa của một mụ đồng minh phản bội. Quả là vận nước đã đi vào thời quốc mạt.
Với một thế hệ lãnh đạo như vậy, chẳng trách nào đến ngày hôm nay, sau 40 năm vẫn có những bộ óc điên rồ, hoang tưởng đòi khôi phục lại “Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam 27/1/1973”.
Những người này đều thuộc loại “học nhi bất thức” đến nỗi không hiểu được một nguyên tắc sơ đẳng: “Tất cả mọi hiệp định, hòa ước chỉ có giá trị thực tế khi các bên duy trì được sự thăng bằng trong cán cân quân sự. Nếu vì một lý do nào đó cán cân lực lượng mất thăng bằng, hiệp định lập tức không còn giá trị.”
Lịch sử thế giới cho thấy trong đệ nhị thế chiến  Hitler đã xé bỏ bao nhiêu hiệp ước để vẽ lại bản đồ châu Âu khi lực lượng quân sự Đức có sức mạnh vượt trội.
Lịch sử của dân tộc Việt Nam trên giải đất hình chữ S sau đệ nhị thế chiến đã có hai bản hiệp định có giá trị lịch sử nhưng đến nay không còn giá trị thực tế. Đó là “Hiệp Định Geneve 20-7-1954” cắt đứt Việt Nam thành hai miền và “Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam 27/1/1973” do chính Hoa Kỳ chủ trương để bàn giao toàn bán đảo Đông Dương cho Việt Cộng.
Trong cuộc chiến tranh Đông Dương từ năm 1945 cho đến năm 1975, tài phiệt Hoa Kỳ đã đạt được mọi yêu cầu. Hoa Kỳ đã tiêu thụ hết những kho bom đạn thặng dư sau đệ nhị thế chiến ở cả hai phe Cộng Sản và Tư Bản. Vì tất cả những nhà máy vũ khí của Liên Xô cũng đều do tài phiệt ở Wall Street đầu tư. Bất nhân nhất là những phát minh khoa học kỹ thuật tân tiến của Hoa Kỳ đã được chuyển giao cho những nhà máy ở Liên Xô để chế tạo các loại vũ khí đặc biệt viện trợ cho Việt Cộng bắn vào các phi cơ và quân đội Hoa Kỳ chiến đấu ở Việt Nam.
Việc Hoa Kỳ bỏ tiền đồn Việt Nam Cộng Hòa cho Việt Cộng được bù lại bằng việc Hoa Kỳ chính thức bước vào thị trường Hoa Lục. Và cho đến nay, sau 40 năm không chừng cả giải đất hình chữ S có thể sẽ trở thành tiền đồn chống Trung Hoa….
(trích Hận Cùng Trời Đất)
Kim Âu
27/1/2013

Ăn Thứ Gì Cũng Sợ!

hình báo hanoimoi
VietBao_Bạn thân,đó là chuyện nghe hoài, nghe khắp nơi rồi: ăn thứ gì cũng sợ dính nhằm hóa chất độc. Dĩ nhiên, đây nói là dân thường thôi, không kể chuyện quan quyền hay đại gia, vì đó là tiêu chuẩn khác rồi.
Trước giờ báo chí thường chú ý chuyện công nhân ngộ độc vì bữa ăn trưa. Nhưng đó là chuyện vệ sinh của một nhà bếp tập thể, có thể vì nhà thầu pha trộn hóa chất hay cũng có thể vì rau quả đã quá cũ, hư héo…
Nhưng bây giờ là chuyện đường phố, và thức ăn dễ gây ngộ độc lại là món được ưa chuộng bởi cả trẻ và già, nam và nữ: bắp luộc, tức là ngô luộc.
Báo Dân Trí có bản tin “Phát hiện ngô luộc nhiễm chất bảo quản Nitrit,” trong đó ghi nhận rằng:
“Ngày 29/1, Cục An toàn thực phẩm cho biết, kết quả giám sát mẫu ngô luộc cho thấy, có 14/14 mẫu ngô luộc (bắp luộc) sử dụng hóa chất bảo quản nhóm Nitrit…
Viện Vệ sinh và Y tế công cộng Thành phố Hồ Chi Minh đã tiến hành lấy 15 mẫu trái bắp (ngô) nguyên liệu để kiểm nghiệm hóa chất bảo vệ thực vật nhóm Chlor hữu cơ và 14 mẫu trái bắp luộc (ngô luộc) để kiểm nghiệm hàm lượng Nitrat, Nitrit, Cyclamate, chỉ tiêu kim loại nặng (Pb, Cd, Hg) tại tỉnh Tiền Giang (Chợ Gạo và các địa điểm bán dọc đường thuộc huyện Chợ Gạo), Vĩnh Long (Huyện Bình Minh và một số rẫy bắp thuộc huyện Bình Tân), Đồng Tháp (Chợ Đất Sét thuộc xã Mỹ An Hưng A, chợ Tòng Sơn thuộc xã Mỹ An Hưng B thuộc huyện Lấp Vò).
Kết quả kiểm nghiệm cho thấy các mẫu trái bắp (ngô) nguyên liệu bảo đảm an toàn (15/15 mẫu đều đạt chỉ tiêu hóa chất bảo vệ thực vật nhóm Chlor hữu cơ.
Các mẫu trái bắp luộc (ngô luộc) tuy không phát hiện hiện sử dụng muối Nitrat, đường Cyclamate (đường hóa học) và bị ô nhiễm kim loại nặng nhưng tất cả các mẫu ngô luộc đều phát hiện có sử dụng hóa chất bảo quản nhóm Nitrit (Đã phát hiện 14/14 mẫu bắp luộc có hàm lượng Nitrit từ 230,30 – 669,29 mg/kg).
Theo Cục an toàn thực phẩm, việc sử dụng nhóm chất Nitrit để bảo quản ngô (bắp) luộc trong chế biến là không được phép, có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.”
Đáng sợ vậy. Chúng ta không dám gọi đó là tội sát nhân, vì biết rằng người dân nghèo khi bán bắp luộc đã phải gian lận như thế. Nhưng khi hủy hoại sức khỏe người dân thực tế hẳn nhiên là không thể chấp nhận vậy…

BLG Đại Dương:HỐ GIÀU NGHÈO TẠI VIỆT NAM-YẾU TỐ PHÁP LÝ KHI MANILA KIỆN BẮC KINH


Năm hết Tết đến, Rồng đi Rắn lại trong bối cảnh Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang tái hồi với lạm phát khiến cho giới nghèo khó chiếm đa số trong xã hội chưa biết lấy gì mà làm cho bữa cơm gia đình mang hương vị ngày Xuân. Điều này hình như chẳng ảnh hưởng tới tầng lớp triệu phú. Nguyên nhân nào dẫn tới hố ngăn cách giàu/nghèo ngày càng rộng được BLG Đại-Dương mổ xẻ hôm nay.

Hôm 22 tháng 1, Phi Luật Tân quyết định lôi Trung Cộng ra trước Toà án Trọng tài về Luật Biển liên quan đến hành động vi phạm “tư quyền quốc gia hoặc quyền chủ tể = sovereign rights” theo Phục lục VII của Luật Biển 1982 làm cho cộng đồng quốc tế sôi động với nhiều câu hỏi pháp lý đối với các yêu sách chủ quyền trên Biển Đông Nam Á. BLG Đại-Dương nhận định về biến cố này.

Trại Bố Lá: Quản giáo lạm quyền, xúc phạm blogger Tạ Phong Tần

VRNs (30.01.2013) – Bình Dương – “Phạm nhân không được quyền lớn tiếng ở đây, câm ngay!” là điều bà Thủy, một cán bộ quản giáo tại trại tạm giam Bố Lá thuộc Công an TP.HCM, đóng quân trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (từ TP.HCM bạn đi theo Quốc lộ 13, tới ngã tư Sở Sao, cách ngã tư Bình Phước khoảng gần 30 km, hỏi người dân ở hai bên đường sẽ được hướng dẫn).
Ngày 28.01.2013, cô Tạ Minh Tú từ Bạc Liêu lên Sài Gòn đến nhà tù Chí Hoà để thăm nuôi chị là cô Tạ Phong Tần. Đến nơi, các vị công an ở đây mới cho biết đã chuyển cô Tần đi trại Bố Lá từ ngày 23.01.2013. Nghe tin ấy, cô Tú bức xúc, vì sao chuyển trại giam, mà không ai thông báo cho gia đình biết. Riêng tại trại giam Bố Lá, cô Tạ Phong Tần nói cho cán bộ Thủy, ngay lúc có mặt cô Tú, là việc chuyển cô về Bố Lá là sai luật:
Cô Tú viết lời của cô Tạ Phong Tần cho chúng tôi như sau: “Nếu đúng quy định, tôi chưa nhận được bản án, là mấy người không có quyền chuyển tôi đi như vậy”. Đây là câu nói khiến cho bà Thủy tức giận đã buộc cô Tần phải “câm miệng”.
Ở đây có sự ngược đời: đúng ra, quản giáo và cơ quan chức năng (cụ thể là công an TP.HCM) phải là người biết luật, làm đúng luật, để giúp những người tù “cải tà quy chánh”, thì ở trại Bố Lá này, công an tỏ ra không biết luật, và cố tình lạm dụng chức vụ, xúc phạm tù nhân.
Bà Thủy còn hăm dọa rằng sẽ tát vào mặt cô Tần, nếu còn dám nói, và sẽ cho người đánh chết cô Tần, nếu cứ mở miệng là nói “quy định”. Bà Thủy, theo cô Tú, không phải là người không biết chuyện, bà biết rõ cô Tú từ quê lên thăm chị, nên bà cũng đe và lên lớp:
“Mày từ dưới quê lên, bày đặt láo phét, tao tát vào mặt mày bây giờ” – cô Tú viết.
Cô Tú cho biết, khi gởi hàng thăm nuôi, trại giam chỉ cho gởi phần thịt kho mặn, cá, rau củ quả và những thứ khác đều không cho gởi. Khi có mặt bà Thủy, cô Tần đã xin phép cho nhận tràng chuỗi Mân Côi, do một linh mục gởi, vì dây chuỗi cũ của chị đã bị giật đứt. Cán bộ Thủy cho biết, người gởi phải có giấy chứng minh nhân dân và hộ khẩu. Cô Tú ra xe lấy giấy tờ vào, bà Thủy bảo hết giờ. Lúc đó chỉ mới 16 giờ chiều.
Cuộc thăm gặp phạm nhân tại trại tạm giam Bố Lá thường kéo dài từ 30 phút đến 45 phút, nhưng cô Tú chỉ được gặp chị mình trong vòng 10 phút.
Những điều này là bằng chứng ngược lại với những gì Báo công an đã khoe với lãnh đạo thành phố về trại tạm giam Bố Lá: “Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã giám sát tình hình chấp hành pháp luật trong việc quản lý, giam giữ và thực hiện các chế độ chính sách đối với người bị tạm giam và phạm nhân tại Trại tạm giam Bố Lá (Công an TPHCM). Báo cáo với đoàn giám sát, thượng tá Phạm Văn Tám – phó giám thị, cho biết trong thời gian qua, cán bộ chiến sĩ (CBCS) của trại đã thực hiện tốt công tác tiếp nhận người bị tạm giam, phạm nhân đảm bảo chính xác, đúng quy định của pháp luật; tiến hành phân loại và bố trí giam giữ người bị tạm giam, phạm nhân theo từng loại, làm tốt công tác phân hóa đối tượng, có khu giam, phòng giam trọng điểm”.
Tuy thời gian gặp ngắn, cô Tú cũng đã kịp hỏi để xác cô Tạ Phong Tần xác nhận một sự việc, mà các tổ chức nhân quyền và báo chí quốc tế quan tâm là: “Chị Tần có bao giờ bị công an lột quần áo, và thọc tay vào chỗ kín không?” Cô Tần xác nhận có và nói rõ hai người xúc phạm đến thân thể của cô tạ Phong Tần là viên an ninh Trần Tiến Tùng (Tùng hói), và Lê Minh Hải (đây cũng là viên an ninh chỉ đạo xúc phạm đến thân thể các phụ nữ khác trong thời gian vừa qua là Huyền Trang và Hoàng Vi). Cô Tạ Phong Tần còn cho biết thêm, họ đã xúc phạm cô tại văn phòng luật sư Pháp Quyền của luật sư Lê Trần Luật trước đây.
Cùng đi thăm với cô Tú ở Bố Lá, có bà Dương Thị Tân và anh Nguyễn Trí Dũng, vợ và con trai blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải. Đây là lần đầu tiên bà Dương Thị Tân được gặp và nói chuyện với ông Hải kể từ khi ông bị giam cách đây hơn 4 năm.
Thân nhân của một tù nhân lương tâm khác cho VRNs biết nhạc sĩ Việt Khang đã bị chuyển đến nhà tù mới ở Đồng Nai. Điều này cho thấy, có thể Việt Khang và gia đình đã rút lại ý định kháng án, như lời luật sư Hà Huy Sơn nói ngay sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm xét xử Trần Vũ Anh Bình và Việt Khang.
PV. VRNs
Powered By Blogger