Friday, August 31, 2012

Biếm họa Ba Bui : Tôi nói đồng bào nghe hiểu không?


Bản tin truyền hình sáng 31.08.2012

Sinh viên Đại Học Sài Gòn tố cáov


Kính gởi : Báo mạng Internet
 
Chúng tôi đứng tên là tập thể sinh viên luật khoa, trường Đại học Sài Gòn xin trình bày với quý báo mạng tố cáo tên Hồ Xuân Thắng, là bí thư chi bộ đảng, là trưởng khoa Luật Đại học Sài gòn đã có các hành vi giả mạo bằng cấp, khai man lý lịch, hủ hóa và trụy lạc trong quan hệ với sinh viên, gây mâu thuẫn nội bộ, quản lý nhũng nhiễu và sai phạm, phá hoại môi trường sư phạm, gây mất đoàn kết nghiêm trọng trong nội bộ trường Đại học Sài Gòn.

Tuy nhiên, được sự bao che, dung túng của cấp trên, là ông Hiệu Trưởng, đứng đầu trường Đại học Sài gòn trong suốt một thời gian dài, từ lúc thành lập đến nay, và “tức nước vỡ bờ” nên hôm nay, sinh viên chúng tôi quyết tâm phản ánh thông tin này lên báo mạng Tiếng Dân Kêu, vì trong cơ chế nhà nước này, các báo tờ cũng bị kiểm soát ngặt nghèo, không thể đưa thông tin của sinh viên chúng tôi đi theo lề khác mà phải đăng theo hướng ca ngợi những sai trái và sinh viên chúng tôi không chấp nhận được.Về thư tố cáo này, tập thể chúng tôi đã gởi cho Ban Thanh Tra Đảng Thành ủy một bản và chắc chắn, hoặc có thể đã báo cáo lên cả ông Bí Thư Thành Ủy Lê Thanh Hải để nắm thông tin và có biện pháp xử lý. Thế nhưng, do có sự dung dưỡng của Ban Giám Hiệu trường, tên trưởng khoa luật là Hồ Xuân Thắng. chỉ bị xử lý là bị cắt chiến sĩ thi đua, một hình thức bao che cho hắn ta.

A) Tố cáo về công tác quản lý trong trường đại học Sài Gòn.
Nguyên trường Đại học Sài gòn được thành lập từ việc nâng cấp Cao đẳng sư phạm. Cái tên Sài Gòn đã đi vào tâm thức của người dân Việt Nam thì Phan Xuân Biên (là người sinh trưởng tại Nghệ An) lúc đó, đang là Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy, đã vận động để bổ nhiệm ông Nguyễn Viết Ngoạn (cũng sinh trưởng tại Nghệ An) làm hiệu trưởng.
Trong suốt quá trình hoạt động từ đó đến nay, ông Ngoạn đã tuyển dụng vào rất nhiều những người cùng quê Nghệ An được tạo nên dư luận trong tổ chức thành ủy là “đồng chí Ngoạn đang muốn chuyển Đại học Sài Gòn thành một phân hiệu của Đại Học Vinh hoặc biến thành Đại học Nghệ An giữa TP. Hồ Chí Minh”; và tất nhiên, ồ ạt tuyển dụng những người đồng hương Nghệ An vào thì những người sử dụng bằng cấp giả chiếm tỷ lệ không nhỏ, trong đó có tên Hồ Xuân Thắng và được đồng chí Ngoạn quyết định làm trưởng khoa luật.
Tên trưởng khoa Luật Đại học Sài gòn là đệ tử thân tín, cũng người Nghệ An, cậy thế lực của người đỡ đầu nên thường xuyên hoạnh họe các phòng ban khác và các nhân viên trong trường. Việc này các phòng ban khác trong trường đều biết nhưng đều căm hận và âm thầm chịu đựng vì có sự che chắn từ Hiệu trưởng Nguyễn Viết Ngoạn của hắn ta. Thậm chí, khi bị phản ứng dữ dội của các phòng ban, ông Hiệu trưởng này đã từng nói trong cuộc họp “thằng Thắng có thối như cứt thì tôi vẫn bảo vệ nó” thì còn ai dám chống tiêu cực trong môi trường sư phạm của một trường danh tiếng là Đại học Sài gòn. Hưởng ứng theo quan thầy, tên Hồ Xuân Thắng đã tuyên bố với các nhân viên trong trường là “thằng Thắng này có bị chúng mày chém 10 nhát thì vẫn là dân Nghệ An nhé” làm cho những người không phải quê hương Nghệ An vô cùng bức xúc nhưng không thể phản ánh được sự phân biệt vùng miền, cục bộ địa phương của công tác nhân sự trong trường chúng ta.
B) Về tên Hồ Xuân Thắng, trưởng khoa Luật Đại học Sài gòn
Trong công tác quản lý, tên Hồ Xuân Thắng có những sai phạm rất nghiêm trọng và gây mâu thuẫn nội bộ, phá hoại môi trường sư phạm. Chúng tôi liệt kê một số vấn đề cụ thể như sau:
1- Khi bầu chọn danh hiệu Chiến sĩ thi đua, tên này đã tự ý xé bỏ biên bản họp bình xét để điền thêm người thân cận của mình vào để hưởng tiền, còn bản thân hắn ta chưa đủ 100% thì tự ý sửa cho mình đạt số phiếu 100% để tự tô vẽ bản thân. Sau đó, hành vi sai phạm này bị phát hiện thì hắn ta chỉ bị cắt chiến sĩ thi đua;
2- Thậm chí, trong tất cả các cuộc họp tại khoa, có nhiều thông tin chính xác rằng sau khi họp xong, tên Thắng này đồng ý với ý kiến của các giảng viên nhưng sau đó, hắn ta cùng với tay trợ lý hủy bỏ biên bản này và soạn một biên bản họp khác theo ý của hắn ta để báo cáo lên cho người đỡ đầu và cho các phòng ban khác. Có nghĩa là hành vi giả mạo các biên bản họp để lừa đảo cấp trên và cấp dưới. “Dối trời, lừa dân” có tính chất thường xuyên trong công tác quản lý.
3- Tự ý sửa điểm của sinh viên mà không thông qua giảng viên. Khi giảng viên chấm điểm có những bài dưới trung bình nhưng là sinh viên mà hắn có quan hệ “đặc biệt nào đó” thì hắn tự ý sửa điểm tăng lên, còn nếu sinh viên nào được điểm cao mà hắn ta ghét thì tự ý sửa xuống rồi nộp cho phòng đào tạo. Hắn ta còn giả mạo chữ ký của các giám khảo khác ký vào bài thi.
- Sinh viên nào tranh luận với hắn thì hắn tự ý sửa điểm thi từ cao xuống thấp, còn với sinh viên nữ nào đẹp trong lớp thì hắn ta có quan hệ trụy lạc và các sinh viên này không cần đi thi cùng với tập thể lớp, Hắn ta cùng với cô sinh viên này đi khách sạn, tại đây, hắn ta lấy đề thi khác đưa riêng cho em này và làm bài riêng, chỉ có họ biết với nhau và cho điểm cao làm cho dư luận sinh viên đồn thổi khắp nơi. Việc này, các sinh viên khác đều biết ảnh hưởng vô cùng tệ hại tới môi trường sư phạm. Thậm chí, hắn ta còn buộc nhân viên trong khoa phải ký vào các giấy tờ để hợp thức hóa các chứng từ này.
- Trong chuyên môn giảng dạy, tên này không biết gì về chuyên môn. Thường chỉ cho sinh viên tự nghiên cứu, còn bản thân thì bỏ giờ, bỏ tiết. Còn khi đứng lớp là nói lăng nhăng kể chuyện Liên Xô và khoe khoang gia thế dòng họ. Khi dạy về Luật Doanh Nghiệp, hắn ta dám giảng rằng “trong công ty cổ phần nếu bị thua lỗ phá sản thì các cổ đông phải bán nhà bán cửa để trả cho các khoản nợ!!!” Khi bị sinh viên phản ứng vì có sinh viên học thêm ở các trường đại học khác biết vấn đề này thì hắn ta đuổi ra ngoài và tự ý cách chức lớp trưởng của lớp có sinh viên này phản ứng dù đó là lớp mà hắn ta làm chủ nhiệm.. Bài kiểm tra về vấn đề này, một số sinh viên còn lưu giữ, nếu ai làm đúng theo ý của hắn thì được điểm cao, còn làm theo đúng luật Doanh nghiệp thì bị điểm thấp.
- Về tài chính, thường xuyên ăn chặn, ăn bớt tiền chấm bài của các giáo viên thỉnh giảng, tự ý quyết định các khoản thu nhập của mình trong khoa Luật. Vừa làm Trưởng khoa, kiêm luôn thủ quỹ và làm bí thư chi bộ đảng nên chi tiêu vô tội vạ, kê khống các khoản chi dù không có chứng từ hoặc tự mua ngoài chợ, nhưng được sự che chắn của người đứng đầu nên đều được thông qua.
- Trong lý lịch khai học cử nhân Anh văn thương mại mà tên Hồ Xuân Thắng này, tiếng Anh không biết gì??? Ngay cả tiếng Nga cũng chỉ biết giao tiếp thông thường chứ không dịch được các bài báo khoa học mà cũng bảo vệ được luận án Tiến sĩ bên Nga???
2) Về Bằng cấp giả
Trong hồ sơ, tên Hồ Xuân Thắng khai đã tốt nghiệp tiến sĩ Luật tại trường Đại học Tổng hợp Xã hội Quốc gia Moscow và đã tốt nghiệp đại học cũng chính trường này. Tuy nhiên, nhìn bằng mắt thường cũng biết bằng cấp là giả mạo. Bởi vì:
- Bằng đại học và bằng tiến sỹ của cùng học trong một trường Đại học nhưng hai (02) con dấu khác nhau, do 02 đơn vị khác nhau cấp. Không có trường đại học nào trên thế giới có như thế.

Bằng tiến sĩ của tên Thắng



Bằng đại học của tên Thắng

- Bằng đại học ghi “luật sư theo chuyên ngành luật học” nhưng về chuyên môn, không ai ghi như thế vì luật sư là một nghề, không phải ngành. Thí dụ “ngành luật, chuyên ngành luật học” thì có lý chứ trường đại học của toàn thế giới không cấp bằng luật sư mà chỉ cấp thẻ luật sư.
- Bằng Tiến sỹ làm quá thô thiển, không phải phôi bằng gốc của trường Đại học này.
- Bằng Tiến sỹ phải viết bằng 2 ngôn ngữ là Anh-Nga, còn bằng này chỉ có chữ tiếng Anh???
- Chữ tiếng Anh cũng run tay khi viết “in Gurisprsudence” so với chữ ở trên.
- Bản sao công chứng hai văn bằng này có hai dấu khác nhau của cùng một trường nên hắn không dám công chứng cùng một phòng công chứng mà phải đi chứng thực ở hai phòng công chứng khác nhau.
- Văn bằng tiến sĩ luật chỉ có một chuyên ngành hẹp nhưng hắn ta khai mình làm tiến sĩ của bốn chuyên ngành luật là Luật Dân sự, Luật hôn nhân gia đình, Luật Kinh doanh và tư pháp quốc tế. Không một quốc gia nào trên toàn thế giới lại có một bằng tiếng sĩ của bốn chuyên ngành mà phải là bốn văn bằng tiến sĩ mới đúng.
3) Về khai man lý lịch:
Tên này tên là Hồ Xuân Thắng, sinh ngày 20-10-1965, người Nghệ An, ở xã Quỳnh Yên, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Năm 1983 học lớp 10 trường cấp 3 Quỳnh Lưu nhưng không đậu tốt nghiệp và về làm ruộng, là xã viên Hợp tác xã Yên Trường của xã Quỳnh Yên, huyện Quỳnh Lưu. Bởi vì vào thời điểm này, nếu nó tốt nghiệp phổ thông sẽ đi thoát ly, không ở lại quê làm ruộng.
Trong lý lịch, tên này khai như sau:
- Tháng 10-1986 xuất khẩu lao động sang Liên Xô, làm công nhân nhà máy Dệt bông vải sợi Sackhtư đến tháng 4-1991.Thời kỳ này, ông Nguyễn Mạnh Cầm cũng người Nghệ An đang làm đại sứ Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô.
- Tháng 5-1991 Hồ Xuân Thắng làm cán bộ lãnh đạo quản lý công nhân nhà máy xây dựng hóa Trerepôvéts đến tháng 8-1992. Từ thời gian này trở về sau, trong hồ sơ không thấy khai làm việc ở đâu nữa vì ra ngoài chợ Vòm buôn bán chợ trời.
Trong lý lịch không khai việc làm nữa mà chuyển sang về việc học như sau:
- Từ tháng 8-1992 đến tháng 10-1995: Đi học Anh văn tại trường đại học Thanh Niên Moscow, Liên bang Nga và làm chi ủy viên kiêm Bí thư chi bộ học viên thanh niên. Trong thời gian này, từ tháng 9-1992 đến tháng 9-1993, làm chi ủy viên phụ trách khối thanh niên và từ tháng 9-1993 đến tháng 02/1995 làm bí thư Chi bộ trường Đại học Thanh Niên Moscow. Hồ Xuân Thắng học ở trường này theo hệ chính quy và lấy Chứng Chỉ đã học 3 năm chứ không phải học chính quy để lấy bằng đại học (cử nhân) mà chỉ được cấp chứng chỉ, không có bằng Cử nhân.???
- Sau khi học xong Anh Văn Thương Mại ở trường này, Thắng đăng ký học tiếp chuyên ngành Luật Tư Pháp Quốc Tế tại trường Đại học Tổng hợp Xã hội Công lập Moscow từ tháng 9-1995 đến tháng 6 năm 2000 theo hệ chính quy và lấy bằng cử nhân luật học.
- Một tháng sau, tháng 7-2000, Thắng làm luôn nghiên cứu sinh cũng tại trường này, là Đại học Tổng hợp Xã hội Công lập Moscow với luận án tiến sĩ hệ chính quy với đề tài “Điều chỉnh Luật Đầu tư nước ngoài trong điều kiện dân chủ hóa nước CHXHCN Việt Nam” (mới tốt nghiệp cử nhân, sau 01 tháng làm luôn Tiến sỹ, không qua thạc sỹ???)
Trong bản khai lý lịch, phần khai về quan hệ gia đình, tên Hồ Xuân Thắng này còn viết sai chính tả như khai về bác, cậu, dì, khi viết thế này:
“Gì ruột: Hồ Thị Tư sinh năm 1926, Hội Mẹ chiến sỹ….
Gì ruột: Hồ Thị Năm, sinh năm 1928, Hội Mẹ chiến sỹ…
Anh Trai: Hồ Xuân Trình….”
Nếu sai một từ có thể do lỗi đánh máy nhưng tất cả các người dì ruột đều viết bằng “gì ruột” thì không phải lỗi đánh máy nữa mà thể hiện trình độ chưa tốt nghiệp phổ thông.
Chính vì trong công tác tại Đại Học Sài Gòn, tên Hồ Xuân Thắng này cậy quyền cậy thế phá hoại môi trường sư phạm, từ một tên bán chợ trời bên Liên Xô, tên lừa đảo quốc tế mua bằng cấp giả rồi theo chủ trương “Nghệ An Hóa” của ông Hiệu trưởng Ngoạn, để chui vào đội ngũ sư phạm tác oai tác quái, phá hoại công tác giáo dục, phá hoại trường Đại học Sài gòn. Chúng tôi là các sinh viên, thấp cổ bé miệng và là những kẻ dưới quyền của người đứng đầu, không biết kêu ai, các báo chí trong nước khôngđăng vì bảo vệ cho trường và cho chế độ. Do kêu trời không thấu; cho nên, chúng tôi viết thư tố cáo này lên báo mạng.
Ngày 31 tháng 8 năm 2010
Tập thể sinh viên khoa luật, trường Đại học Sài Gòn

Phản đối văn công Việt cộng Đàm Vĩnh Hưng đến trình diển tại Calgary.

CALGARY VIETNAMESE CANADIAN ASSOCIATION HộI Người Việt Calgary ________________________________________
# 203-1829 , 54th Street S.E. Calgary , Alberta T2B 1N5
Tel: (403) 272-4668   -   Fax: (403) 272-4668

Calgary , ngày 26 tháng 8 năm 2012
THÔNG BÁO
V/v :  Phản đối văn công Việt cộng Đàm Vĩnh Hưng đến trình diển tại Calgary.
Kính thưa Quý đồng hương ,
Văn công Việt cộng Đàm Vĩnh Hưng, Ủy viên Đoàn Thanh Niên Liên Hiệp Thành phố Hồ Chí Minh và một số ca sĩ đến từ Việt nam sẽ trình diễn tại Thành phố Calgary vào dịp Lễ Lao động 02 tháng 09 năm 2012 sau khi trình diễn tại hai thành phố Vancouver ngày 31 tháng 08 năm 2012 và Edmonton ngày 01 tháng 09 năm 2012 .
Cộng đồng người Việt khắp nơi trên Bắc Mỹ đã từng biểu tình phản đối những show hát có mặt Đàm Vĩnh Hưng . Đã có nhiều thành phố đã hũy bỏ phần trình diển của Đàm Vĩnh Hưng như : Harrah’s Casino Philadelphia Pennsylvania, Muckleshoot Indian Casino Seattle WA, Hollywood Casino Charles Town .
Cộng đồng Người Việt Quốc Gia khắp nơi trên Canada đã ra thông báo phát động những cuộc biểu tình phản đối  sự hiện diện của Đàm Vĩnh Hưng  . Riêng tại thành phố Calgary , chúng tôi kêu gọi quý đồng hương hãy đề cao cảnh giác trước âm mưu dùng văn nghệ để thi hành nghị quyết 36 của Cộng sản Việt Nam nhằm xoá bỏ căn cước tỵ nạn của chúng ta và gây chia rẽ, phân hoá  cộng đồng người Việt hải ngoại  .
Chúng tôi  kêu gọi quý đồng hương tham gia buổi biểu tình phản đối Đàm Vĩnh Hưng của  cộng đồng người Việt Calgary tổ chức vào lúc 06:00 chiều ngày 02 tháng 09 năm 2012 tại địa điểm trình diễn:
Century Casino  , 1010- 42 Ave. SE Calgary AB. 
Muốn biết thêm chi tiết xin liên lạc : Hội Người Việt : Ô. Trần Chí Hiếu : 403-852-0665 ; Hội CQN : Ô. Đặng Văn Ngọc : 403-512-6882
Có thể sẽ có sự hiện diện của ố đen Lý Tống trong buổi biểu tình theo lời mời của Ban tổ chức .
Trân trọng thông báo,
Hội Người Việt Calgary
Hội Cựu Quân Nhân QL/VNCH Calgary
***Dưới đây là bản Thông Báo bằng Anh ngữ:
Calgary, 26th of August, 2012
Re : Singer Dam Vinh Hung’s appearance in Calgary
Singer Dam Vinh Hung, a member of the Youth Association in Ho Chi Minh City, is performing along with several other singers from Vietnam in Calgary on September 2, 2012. His appearance in Calgary follows similar appearances in Vancouver and Edmonton on August 31, 2012 and September 1, 2012 respectively.
The Vietnamese communities across North America have always protested against Mr. Dam Vinh Hung’s appearances.  A few concert organizers even cancelled Dam Vinh Hung’s performance including those held at Harrah’s Casino in Philadelphia, Muckleshoot Casino in Seattle, and Hollywood Casino in Charles Town .
The Vietnamese communities in Canada have also announced their protest plans against Dam Vinh Hung’s appearance.  In Calgary, we are asking all of you to be cautious of the implementation of the Vietnamese Communist government’s Resolution 36, which under the guise of entertainment aims at dividing and exploiting the Vietnamese diaspora around the world.
We are calling Vietnamese Canadians to participate in the protest against Dam Vinh Hung’s presence at the upcoming event at 6:00 PM on September 2, 2012 at:
Century Casino, 1010- 42 Ave. SE Calgary AB.
For more information please contact:
Calgary Vietnamese Canadian Association : Mr. Tran Chi Hieu  403-852-0665
Calgary Vietnamese Veteran Aids Association: Mr. Dang Van Ngoc 403-512-6882
Mr. Ly Tong may be present at the protest.

Thursday, August 30, 2012

Châm lửa “toàn thiêu” ngôi nhà nguyện - Tin từ GP. Kon Tum

VRNs (29.08.2012) – Kontum – Vào lúc 5 giờ sáng, ngày 28.08.2012, khoảng 5.000 giáo dân hai miền Kontum và Pleiku đã qui tụ về nhà thờ chánh tòa để dự lễ kỷ niệm 9 năm ngày tấn phong giám mục của Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh, giám mục giáo phận Kontum (28.8.2003-28.8.2012).

Sau thánh lễ, Đức giám mục Kontum kêu gọi giáo dân hãy dành sự chúc mừng cho ngài bằng cách đến chia vui với anh chị em dân tộc Sê Đăng vừa có ngôi thánh đường mới tại giáo xứ Tea Long, giáo hạt Đak Mót, thuộc tỉnh Kontum do cha Benêđictô Nguyễn Văn Bình làm chánh xứ. Rất đông các linh mục, tu sỹ nam nữ cùng giáo dân đáp lại lời Đức cha, họ đã lũ lượt tháp tùng cùng ngài vượt đoạn dường trên 50 km để đến giáo xứ Tea Long dự lễ khánh thành ngôi giáo đường mới.
Thánh lễ làm phép nhà thờ mới được cử hành đúng 9 giờ sáng cùng ngày. Trong bài chia sẻ, Đức giám mục giáo phận Kontum đã gởi lời cám ơn cha cố Giuse Maria Đinh Cao Tùng, nguyên chánh xứ Tân Thái Sơn, hạt Tân Sơn Nhì, giáo phận Sài Gòn đã giúp cho giáo xứ Tea Long 500 triệu đồng. Vì sức khỏe của cha đang suy yếu nên cha nghĩa tử là cha Phêrô Nguyễn Quốc Tuý, đương kiêm chánh xứ Tân Thái Sơn đến tham dự lễ thay. Đức cha cũng cám ơn các ân nhân trong và ngoài gíao phận đã giúp đỡ để anh chị em người Sê Đăng có ngôi nhà thờ đẹp ngày hôm nay. Nếu chỉ với điều kiện kinh tế khó khăn anh chị em Sê Đăng, thì họ không có đủ khả năng xây dựng được nhà thờ.
Đức cha Micae nói: “Chúng ta đang hiện diện tại ngôi giáo đường này thì phải nhớ bao gian nan thử thách, bách hại mà anh chị em chịu đựng bao năm tháng qua, từ việc dâng thánh lễ chui ở nhà yáo phu cho đến cất căn nhà nguyện chui chỉ trong 3 ngày”.
Giáo xứ Tea Long được hình thành từ năm 1905 thuộc địa sở Đak Choi, vì biến cố lịch sử của đất nước, người cộng sản không công nhận người sắc tộc thiểu số có tôn giáo, nên đời sống của anh chị em Sê Đăng đã khó lại trở nên ngặt nghèo hơn. Mãi đến ngày 14.07.2009, giáo xứ mới được dựng chui ngôi nhà nguyện “chui” và ngày 21.02.2012, Đức giám mục giáo phận Kontum đã đến dâng thánh lễ đặt viên đá đầu tiên và đặt Đức Mẹ Lộ Đức làm bổn mạng giáo xứ. Hiện nay giáo xứ Tea Long có 1.700 giáo dân Sê Đăng.
Khi ngôi nhà nguyện bằng cây rừng và mái bằng tre dựng lên, chính quyền đã nhiều lần buộc tháo dỡ. Sự giằng co kéo dài trên hai năm cho đến khi giáo phận tìm được đất xin phép xây dựng thì chính quyền buộc tháo nhà nguyện cũ mới cấp phép xây dựng. Đó là khuôn mẫu của một chính quyền hô to khẩu hiệu “của dân, do dân và vì dân”.

Cái lẽ đời sao ngang ngược, nhà mới chưa làm nhà cũ buộc phải phá? Cha sở và giáo dân dứt khoát không chịu, sau không làm được gì nữa chính quyền bắt cam kết khi hoàn thành nhà thờ mới, phải tháo dỡ nhà nguyện cũ. Anh chị em Sê Đăng nói nhà nguyện đã Thánh Hiến cho Thiên Chúa thì không được đập phá, nên họ xin Đức giám mục dùng ngọn lửa “toàn thiêu” (đốt), để ngôi nhà nguyện lên trời với Thiên Chúa. Sau thánh lễ làm phép thánh đường mới, Đức cha Micae cầu nguyện, rồi cầm bó đuốc châm ngọn lửa vào nhà nguyện cũ, giữa tiếng reo hò và tiếng cồng chiêng vang dậy của anh chị em Sê Đăng cũng như mọi người đến tham dự.
PV.VRNs
Tại Kontum

Houston: biểu tình phản đối Trung quốc xâm lấn Việt Nam

2012-08-29
 
Hàng ngàn người Việt ở Houston đã rầm rộ xuống đường biểu tình phản đối sự xâm lăng của Trung Quốc vào trưa Chủ Nhật, ngày 26 tháng 8 năm 2012
Photo Hien Vy, RFA
Hàng ngàn người Việt đã đến trước Lãnh sự quán Trung quốc, biểu tình phản đối Bắc Kinh xâm lấn lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam

Trước sự đàn áp người dân yêu nước biểu tình phản đối Trung quốc xâm chiếm lãnh thổ và lã
nh hải của Việt Nam, thì cách đây vài tuần, một số nhân sĩ trong nước đã lên tiếng đề nghị nhà cầm quyền Việt Nam để cho các đoàn thể tổ chức biểu tình chống Trung quốc xâm lược. Trong khi người Việt trong nước chưa có câu trả lời từ nhà cầm quyền, thì người Việt hải ngoại tại nhiều nơi, đã xuống đường biểu tình phản đối sự xâm lăng của Trung Quốc.  "Ủy ban đấu tranh bảo toàn lãnh thổ Việt Nam" đã tổ chức một cuộc xuống đường rầm rộ tại Houston vào trưa Chủ Nhật, ngày 26 tháng 8 năm 2012
Không e ngại cái nắng gay gắt của buổi trưa Hè, hàng ngàn người Việt hưởng ứng lời kêu gọi của Hội Đồng Liên Tôn Houston, đã đến trước Lãnh sự quán Trung quốc, biểu tình phản đối Bắc Kinh xâm lấn lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam. Không chỉ người Houston mà các cộng đồng người Việt quốc gia từ Galveston, Austin, San Antonio, Dallas, Tarrant... cũng tham dự.
Kêu gọi tinh thần Diên Hồng của người Việt
Hoà thượng Thích Huyền Việt  và LM Phạm hữu Tâm, thay mặt ban tổ chức đọc bản tuyên cáo, nói lên sự phản đối của người Việt trước sự bành trướng thế lực của Trung Quốc:
"Cực lực phản đối và tố cáo nhà cầm quyền Trung cộng về chủ trương lấn chiếm lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam và một phần lớn vùng biển Đông Nam Á.
Cực lực phản đối những yêu sách phi lý, ngang ngược của nhà cầm quyền Trung cộng đối với cái gọi là "đường lưỡi bò", chiếm đến hơn 80% diện tích vùng biển được bao bọc bởi 9 quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Đòi hỏi nhà cầm quyền Trung cộng chấm dứt mọi hành động gây hấn, bách hại ngư dân Việt Nam. Lập tức rút lui các lực lượng ngư thuyền, đơn vị quân sự khỏi vùng biển đảo Việt Nam. Trả lại Hoàng Sa, Trường Sa cho Việt Nam ..."
Linh mục Vũ Thành cho biết lý do Hội Đồng Liên Tôn kêu gọi biểu tình là để dấy lên tinh thần Diên Hồng trong lòng dân Việt, mà tiền nhân đã từng có trong những thế kỷ trước, khi Tầu xâm lấn Việt Nam:
Chúng tôi muốn tiếp nối 71 nhà trí thức hải ngoại và Việt Nam đã lên tiếng. Chúng tôi hy vọng nhóm lên tinh thấn Diên Hồng của toàn dân Việt Nam, đoàn kết với nhau mà đứng lên
Linh mục Vũ Thành
"Chúng tôi uất hận và đau xót cho đồng bào chúng tôi, nhất là những ngư dân vùng ven biển. Nước Việt Nam, một nửa là biển mà giờ đây Trung cộng mang hai mươi ba ngàn tàu đánh cá mà trong đó có vũ khí nữa, tràn ngập vào đó. Vì vậy mà có những khẩu hiệu "Ăn cắp cá". Ngư dân Việt Nam không có đất sống. Chúng tôi muốn tiếp nối 71 nhà trí thức hải ngoại và Việt Nam đã lên tiếng. Chúng tôi hy vọng nhóm lên tinh thấn Diên Hồng của toàn dân Việt Nam, đoàn kết với nhau mà đứng lên".
Linh mục Vũ Thành nói thêm là ngoài việc phản đối sự bành trướng của Trung quốc, "Ủy ban đấu tranh bảo toàn lãnh thổ Việt Nam" cũng phản đối nhà nước Việt Nam trước sự đàn áp người dân yêu nước, biểu tình chống Trung quốc tại Saigon và Hà Nội.

Cuộc biểu tình trước Lãnh sự quán Trung quốc ngày 26 tháng 8 năm 2012 ở Houston
Cuộc biểu tình trước Lãnh sự quán Trung quốc ngày 26 tháng 8 năm 2012 ở Houston. Photo Hien Vy, RFA
"Trước hết là chúng tôi chống Trung Cộng, và dĩ nhiên là chúng tôi chống sự đàn áp của nhà nước Việt Nam, không cho người dân biểu tình".
Ngoài khẩu hiệu "Trung Quốc! Hãy ngưng Ăn Cắp Cá" còn có những khẩu hiệu khác như: "Trung Quốc Xâm Lược! Hãy cút khỏi Việt Nam", "Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam", "Tẩy chay hàng hóa Trung quốc" ...
Lẫn trong tiếng nhạc đấu tranh và tiếng reo hò của đoàn người biểu tình, LM Phạm Hữu Tâm xác nhận trách nhiệm của một tu sĩ:
"Là tu sĩ, là giáo sĩ, những người lãnh đạo tinh thần tôn giáo, không làm chính trị nhưng trách nhiệm của tôn giáo là soi sáng, hướng dẫn lương tâm của con người. Sự đúng, sự thiện, phải làm. Sự xấu phải tránh. Và nhất là phải chống lại sự ác. Vì vậy hôm nay, Tôi phản đối Trung quốc xâm lăng đất nước tôi, giết hại đồng bào tôi. Tôi kêu gọi mọi người có lương tâm chân chính, phản đối sự ác này ..."
Quan tâm đến quê hương
Đứng cùng gia đình trong đoàn biểu tình, cô Minh Hoàng cho biết gia đình cô luôn luôn tham dự những cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc và Hà Nội, để hỗ trợ cho người dân trong nước, khi thấy họ bị công an VietNam đàn áp, không cho thể hiện lòng yêu nước, trước đại họa ngoại xâm:
Người Việt Nam có tấm lòng yêu nước thì dù ở nơi đâu cũng có thể thể hiện được
Cô Minh Hoàng
"Đau lòng lắm! Đau lòng lắm! Mình làm được cái gì thì làm thôi chứ rất là đau lòng. Họ đánh đập người dân. Họ coi dân không là con người nữa ..."
Cô Minh Hoàng cũng nói thêm là người Việt thì dù ở đâu cũng có thể biểu lộ lòng yêu nước:
"Người Việt Nam có tấm lòng yêu nước thì dù ở nơi đâu cũng có thể thể hiện được."
Một người biểu tình khác, tên Thắng cũng đồng quan điểm:
"Ít nhiều gì thì mình cũng phải quan tâm tới quê hương Việt Nam. Những người bên Việt Nam không có được cơ hội đi biểu tình để nói lên sự bất công của Trung cộng đối với Việt Nam. Bên đây mình phải nói lên những lời nói mà bên Việt Nam không nói được".
Có mặt trong đoàn biểu tình, Linh mục Nguyễn văn Khải, người đã từng cùng giáo dân Thái Hà xuống đường đòi công bằng cho người dân, vào những năm trước, so sánh sự đối xử khác biệt của cảnh sát với người biểu tình tại Việt Nam và Hoa Kỳ:
"Ở đây thì mọi người được tự do xuống đường, tự do giăng biểu ngữ và việc biểu tình thì được cảnh sát giúp đỡ và hướng dẫn rất trật tự. Ở Thái Hà hay Hà Nội, dân xuống đường biểu tình mà không cẩn thận là bị cảnh sát đàn áp. Đấy là sự khác biệt giữa một xứ sở tự do và một xứ sở độc tài toàn trị".
Dù biết nhà nước Việt Nam không nương tay với những người biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội và Sài gòn, nhưng anh Trần văn Bé Tư vẫn ao ước được một lần, cùng người dân trong nước xuống đường phản đối sự xâm lăng của phương Bắc:
"Nếu mình không lên tiếng thì người ngoại quốc họ không biết đâu! Mình phải lên tiếng. Lên tiếng thì giúp được trong nước. Trong nước đi biểu tình thì bị giam cầm, bị bịt miệng thì đâu có ai biết. Tôi thấy rất là giận dữ (với công an) mà rất là thương đồng bào trong nước. Mình cũng mong có cơ hội về đi biểu tình với đồng bào trong nước, cho dù họ bắt mình mình cũng chịu nữa..."

7 người bị CA tra tấn, chằng chịt vết thương?

Những người trong làng, già trẻ, gái trai, cán bộ hưu trí, và ngay cả trưởng thôn, chủ tịch mặt trận thôn cũng bất bình, đều ký vào đơn xác nhận sự việc.

Mấy ngày qua, người dân tại thôn Tân Thượng, xã Xuân Song, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh đang rất bất bình trước hành vi của công an xã này, họ đã tố cáo hành vi đánh đập dã man khiến 7 thanh thiếu niên bị nhiều thương tích do bị đánh và dí roi điện.

Cả làng phẫn nộ

Sự phẫn nộ không chỉ có ở người thân của 7 thanh niên bị đánh đập dã man mà những người trong làng, già trẻ, gái trai, cán bộ hưu trí, và ngay cả trưởng thôn, chủ tịch mặt trận thôn cũng bất bình, đều ký vào đơn xác nhận sự việc và đề nghị công an huyện Nghi Xuân làm rõ.

Ông Chu Văn Thiệu, một thầy giáo về hưu bày tỏ bức xúc, công an xã đánh các cháu dã man quá, hơn 1 ngày qua nhưng nhiều cháu vẫn chưa thể đi lại được do vết thương quá nhiều. Khi đi thì đang bình thường, thế mà ra khỏi phòng làm việc của công an thì 7 thanh niên đều phải vào điều trị, truyền tại trạm xá.


Nhóm thanh niên bị đánh và dân làng Tân Thượng rất phẫn nộ trước việc 7 thanh niên bị đánh dã man ngay tại CA xã.

Được biết, ngày 25/8, thanh niên hai làng Tân Thượng và Bắc Mới có tổ chức giao lưu đá bóng. Khi trận đấu chuẩn bị kết thúc thì xảy ra cãi cọ giữa Lê Hồng Phú (SN 1994) với Trần Văn Tấn, con ông Trần Văn Toản, công an xã.

Một lúc sau đã xảy ra đánh nhau, rất nhiều thanh niên bên đội Tân Thượng đã lao vào, người thì can ngăn, cũng có nhiều thanh niên tham gia đánh Tấn. Chỉ khi người lớn can ngăn, Tấn bỏ chạy thì mới thôi.

Theo lời ông Trần Minh và những người có mặt trong buổi làm việc với PV, tối hôm đó Tấn có rủ thêm một số thanh niên đi đánh lại nhưng không được nên đã về.

Tối 25/8, quyền Trưởng CA xã Trần Công Tráng đã dẫn theo một số CA viên đi tìm các thanh niên nhưng không thấy.

Ông Minh nghe tin CA xã bảo con mình đánh người gây thương tích, nên đã hỏi con là Trần Mạnh Hùng. Nhưng Hùng chỉ bảo là vào can ngăn. Thế nên sáng ngày 26/8, ông đã bảo anh trai dẫn Hùng lên CA xã để cho CA hỏi. Ông tin con mình vô tội.

Cũng trong sáng 26/8, ông Tráng đã dẫn theo CA viên đến nhà các em Nguyễn Sửu Lùng (SN 1993); Nguyễn Văn Hồ (SN 1994); Nguyễn Văn Thức (SN 1995) và Lê Hồng Phú (SN 1994).


Vết thương trên người em Lê Hồng Phú. Các em bị đánh đều có vết thương gần như giống nhau, trải đều khắp người..

Gia đình các em cho biết, họ hết sức ngỡ ngàng vì con mình bị còng tay dẫn lên mà không thấy có giấy tờ gì, thôn cũng không được thông báo.

Ngoài 4 em bị công an đến bắt đi không có giấy tờ thì 3 em khác là Lê Bá Đạt (SN 1993); Hồ Văn Chiến (SN 1991) và Trần Mạnh Hùng (SN 1994) đã được gia đình đưa lên để công an ‘’giáo dục’’.

Ép cung, đánh đập dã man, dí roi điện?

Sự việc 7 thanh thiếu niên bị thương tích ngay sau khi ra khỏi phòng làm việc của CA xã đã khiến cho gia đình các em, người trong thôn phẫn nộ.

Ông Chính, bố em Hùng nói tiếp, sau khi thấy con trai về với các vết bầm dập khắp người, các vết bị roi điện giật đến ngất đi ngất lại, ông đã đưa con đến nhà Chủ tịch xã Hoàng Đình Hùng. Khi đến đây thì em Hùng đã bị ngất, phải đưa đi trạm xá cấp cứu.

Em Trần Mạnh Hùng kể lại quá trình bị đánh đập: 'Khi vào phòng CA xã thì liền bị ông Tráng cầm tóc đập đầu vào tường, đấm đá liên tục vào bụng, dùng tay móc sườn bụng. Sau màn dạo đầu đó, em liên tục bị ông Tráng và CA viên tên Hồng dùng dui cui đánh vào mắt cá chân, bụng và lưng. Khi em ngã nằm xuống thì bị CA dùng dùi cui điện dọa không đứng lên sẽ dí điện'!?.

‘‘CA xã đánh em chán chê rồi bảo thằng Thức cầm dùi cui đánh vào mắt cá chân của em thay công an. Thằng Thức không dám không làm. Sau khi đánh no nê, ông Tráng, ông Hồng còn dí dùi cui điện vào tay và bụng em làm em tưởng chừng như không chịu nổi, ngã vật xuống’’, Hùng kể tiếp.

Tất cả các em bị thương tích đều kể lại rành mạch từng chi tiết chuyện các em đã chịu đựng và chứng kiến tại CA xã từ 7h cho đến 11h trưa ngày 26/8. Tất cả các em cho biết, khi đến đó, ai cũng bị đánh như ai, đều bị tát, móc sườn, dùng dui cui đánh vào mắt cá chân, rồi dã man hơn là dí điện vào người.


Trưởng thôn Tân Thượng xác nhận sự việc vào đơn tố cáo, đề nghị làm rõ.

"Các em nếu khai không đánh Tấn thì liền bị đánh tiếp nên buộc phải nhận", Hùng kể.

Đáng chú ý, theo như lời em Nguyễn Sửu Lùng, khi em bị CA dùng dùi cui điện đánh liên tục vào mắt cá chân, đau quá nên em phải nhảy lên. ‘‘Thế là một CA bắt em phải nhảy theo các điệu nhạc rồi đánh liên tục vào chân. Những người CA khác thấy thế liền cười’’, Lùng kể.

Ông Trương Quang Vinh, trưởng thôn Tân Thượng xác nhận trong đơn tố cáo tập thể, qua kiểm tra thì thấy vết thương trên người các em là đúng thực tế và đề nghị làm rõ sự vệc.

Đang cho kiểm tra để xử lý

Trao đổi với PV, ông Trần Công Tráng, quyền Trưởng CA xã thừa nhận có sai sót trong quá trình hỏi cung. Theo ông Tráng, việc làm trên ‘‘chẳng qua là để giáo dục, răn đe các em để tốt hơn thôi. Không có việc CA xã dùng dùi cui điện dí các em’’.

Ông Tráng thông tin, hiện Trần Văn Tuấn, con trai CA viên Trần Văn Toản bị đánh đanh nằm điều trị tại bệnh viện. Thương tích khá nặng nên phải mổ. Ông cũng thừa nhận việc đánh nhau xảy ra trên sân bóng, có sự chứng kiến của nhiều người, một trong số các em từng bị xử phạt vì đánh nhau.

Còn Chủ tịch xã Hoàng Đình Hùng thì cho biết, đúng là CA xã có sai. Ngày 27/8 lãnh đạo xã đã đến thăm hỏi và có nhận lỗi trước gia đình các em. Sự việc này Công an huyện đang yêu cầu CA xã báo cáo để xử lý.

Đại tá Phan Văn Đán, Trưởng CA huyện Nghi Xuân cho biết, đúng là có sự việc trên. Ban CA xã đã làm tường trình. Sau khi làm rõ đúng sai sẽ xử lý theo quy định.

Theo Nhóm PV (Vietnamnet)

Cái gì cũng “đéo” hay Chuyện ở thủ đô


Chuyện ở thủ đô (Cao Thị Uyên)
“...Ngày xưa thì hết tị nạn chính trị đến tị nạn kinh tế, còn bây giờ thì phải kể thêm tị nạn giáo dục nữa...


Tôi đi Hà Nội một tháng, gặp một số chuyện “độc” chỉ có ở thủ đô, mang về làm quà kể cho bạn nghe. Kể từng chuyện nhé. 
Niềm tin & quốc tịch
Chồng chị là đảng viên. Chị cũng đảng viên, cả hai đều là đảng viên thứ gộc. Họ làm ăn rất tài và phất rất nhanh. Hết mua bán đất đến mua bán nhà, rồi mua bán chung cư, rồi đến chơi chứng khoán. Đầu tư quả nào trúng ngay quả đó.
Một hôm, chị nói với tôi rằng, “Chị vừa mua thêm căn hộ ở Singapore, em ạ.” Tôi rất ngạc nhiên khi nghe chị nói như thế. Trước đây, tôi có nghe kể rằng chị đã mua một ngôi nhà ở Australia và một ngôi nhà nữa ở Mỹ, bang Cali hẳn hoi. Nghĩa là cho con đi du học ở xứ nào thì chị mua nhà cho chúng ở xứ đó. Trước để khỏi phải tốn tiền thuê nhà, khi học xong thì cũng vừa trả xong tiền nợ, và giá trị căn nhà cũng tăng đủ để sinh lời. Tuy vậy, tôi hỏi thêm cho rõ, “Nhưng chị đã có nhà ở Úc và ở Mỹ rồi thì mua thêm ở Sing làm gì?”
Chị bình thản chia sẻ thật với tôi, “Chị đầu tư mà em. Vả lại vốn vay tại Singapore cực rẻ. Chị sẽ chuyển toàn bộ tài sản ra nước ngoài luôn. Cái quy chế có chừng nửa triệu đô thì được nhập tịch ở Canada rất thoáng, nhà chị đang lo. Như thế sẽ an toàn hơn. Ở mình, giờ nhìn đâu cũng thấy bóng dáng thần chết. Từ thực phẩm cho đến xe cộ, sơ sảy chút là không toàn mạng. Thậm chí, tháng nào bọn chị cũng bay qua Singapore mua thực phẩm rồi đem về Hà Nội sử dụng dần dần. Mấy cái siêu thị ở đây cũng không thể tin được. Làm sao mà biết chắc rằng chúng không bán hàng đểu cho mình. Ăn bậy vào nếu không ngộ độc thì cũng ung thư.”
Chị lại khuyên, “Mấy đứa nhỏ ở nhà ráng lo cho chúng đi du học hết đi. Ngày xưa thì hết tị nạn chính trị đến tị nạn kinh tế, còn bây giờ thì phải kể thêm tị nạn giáo dục nữa. Mà thật ra thì thời buổi này, ở cái đất nước này, mọi chuyện đều phải tính hết, không thể ù lì chờ nước tới chân mới nhảy. Em cố gắng mà chạy cho được thêm cái quốc tịch. Dù sao có hai cái quốc tịch vẫn hơn. Lỡ có chuyện gì… thì… bay hơn tiếng đã đến Singapore.”
Trời ơi, cỡ làng nhàng dân ngu khu đen như tôi thì làm sao mà… chạy thêm cái quốc tịch? Quốc tịch chứ có phải là mớ rau ế mua ở chợ chiều đâu mà dễ chạy vậy ta? Làm sao mà sống tiếp đây? Chẳng lẽ, cái xứ này đến hồi vận mạt rồi sao?
Tôi tình thật hỏi tiếp luôn, “Vậy anh chị nghĩ sao về cái vụ đảng viên của mình chứ? Đảng viên mà còn tính như thế thì dân đen như em phải làm sao? Niềm tin đặt vào chỗ nào đây?” Chị đáp, “Chị có còn sinh hoạt đảng gì nữa đâu, có cái thẻ thì giữ cho có để khỏi bị chúng hà hiếp. Ngó tới thêm nhục! Còn ông ấy thì phải giữ vì còn phải làm việc trong bộ. Rồi cũng tới lúc phải vất thôi. Chị còn nghe thằng bé nhà chị ở Mỹ nó nói là, ở nước ngoài các chính phủ họ căng với đảng viên lắm. Thậm chí khi thi quốc tịch ở Mỹ nó còn hỏi người ta khai ra có phải là đảng viên Phát-xít và Cộng sản hay không, nếu có là phăng-teo luôn.”
Tôi thầm nghĩ, trời ơi, làm sao mà sống tiếp đây? Các đại gia, các nhà tư sản đỏ mới có điều kiện để trở thành người tiêu dùng thông thái, nhà đầu tư thông minh như thế. Ai ai cũng thủ thế và chuẩn bị bài chuồn để bảo toàn mạng sống và của cải. Thường thường bậc trung như mình, nghĩ thì cũng nghĩ tới đấy nhưng chẳng thể làm được. Thôi thì có chết thì chết chung với nhau, chết chùm cả nước, chứ có riêng gì mình. Lỡ có chuyện gì thì làm ơn… lỡ sớm sớm giùm một chút.
Cái gì cũng “đéo”
Ngày nay hầu như ở Hà Nội người ta không còn, hay rất hiếm, nói từ “không”, mà thay bằng từ “đéo”. Ra phố thì cái gì cũng “đéo”. Từ già cho tới trẻ, nam hay nữ gì cũng vậy, cũng nói “đéo” thay cho “không”. Thậm chí, có khi bạn còn nghe “đéo” trong các môi trường lẽ ra rất lành mạnh như nhà trường. Cái gì cũng “đéo”. Nghĩa là, “đéo có cái gì mà không đéo”. Giả dụ, ở sạp báo, bạn hỏi, “Ông ơi, có báo Nhân Dân không?” / “Đéo có Nhân Dân, chỉ có Hà Lội Mới thôi!”. Kinh!
Thịt heo tự nuôi, cho nó lành!
Xem ti-vi, thấy một chị tre trẻ ở Hà Nội đặt họ hàng ở quê nuôi heo để ăn dần cho nó an toàn, bảo đảm là heo nuôi với nguồn thực phẩm tự nhiên, không có chất “tạo nạc”. Ai muốn ăn thịt heo thì phải ghi tên trước 8 tháng. Nhà đài VTV tường thuật như thể chị chàng kia thông minh lắm, như muốn khuyến khích mọi người theo cái gương đấy. Mình nghĩ, không chừng chắc rồi cũng tới cái lúc dân ta quay lại như thời bao cấp, cái thời nhà nhà nuôi heo, tự cung tự cấp, ủn ỉn ụt ịt trong mọi nhà, trên mọi hành lang chung cư, cho nó lành.
“Sĩ”
Ra đây một thời gian ngắn tôi nhận ra được cái tính “sĩ” của dân thủ đô. Tôi gặp một số người cho rằng mình là người Hà Nội chính gốc, có tổ tiên hằng bao nhiêu đời làm quan của triều nhà Hồ, nhà Lê. Những người này có niềm kiêu hãnh về dòng dõi của mình, và họ khinh đám dân nhập cư từ Nghệ An, Thanh Hóa, hay các xứ khác đến sống ở Hà Nội ra mặt. Nếu không khinh ra mặt được thì họ cũng ngấm ngầm tự hào về cái khả năng không nói ngọng nghịu, lẫn lộn hai âm “nờ” và “lờ”, và tự hào về cái giọng thanh tao (nhưng tôi nghe thì có khi chua lét) của họ, chứ không nặng chình chịch và quê mùa của người nhập cư. Họ cho rằng như thế mình mới là “sĩ”, là “kẻ sĩ”; nghĩa là, có thể nghèo, nhưng vẫn sang trọng, một cách nào đó, trong nhân cách thừa kế được từ dòng dõi nhiều đời trước.

Từ Hà Nội đến Sài Gòn 1954 - 1975

Tác Giả: Lữ Tuấn   
Tháng 6 năm 1954 đúng 50 năm về trước,
 là lúc mọi người trong vùng kiểm soát của chính phủ Quốc Gia ở Bắc Việt cực kỳ lo lắng và hoang mang sau khi cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ ngày 7 tháng 5 năm 1954. Nhiều tin đồn trái ngược càng làm cho mọi người thêm sợ hãi. Khoảng 20 tháng 6, tại Nam Định và các tỉnh phụ cận, có tin đồn được lan truyền nhanh chóng nói rằng quân đội Pháp và quân đội Quốc Gia sẽ rút khỏi Nam Định và các tỉnh phía Nam Hà Nội. Từ hôm ấy, hàng loạt doanh trại được tháo gỡ vội vàng, xe vận tải quân sự chở vật liệu nặng bắt đầu theo nhau từ Bùi Chu, Ninh Bình, Thái Bình đổ về Nam Định cùng các xe cộ từ Nam Định nối nhau đi Hà Nội. Kho đạn Nam Định cho phá hàng loạt đạn súng cối và đạn pháo binh ở vùng đất hoang phía tây thành phố.
Bộ Tư Lệnh Pháp và chính quyền Bảo Đại không hề lên tiếng về tình hình tại Bắc Việt. Bộ Chỉ Huy Pháp tại Nam Định vẫn tiếp tục công việc chuẩn bị cuộc diễn binh hùng hậu vào ngày quốc khánh Pháp, 14 tháng 7 năm 1954 mà họ đã loan báo trước. Vào lúc này, đã có tin đồn ông Ngô Đình Diệm sẽ về nước làm thủ tướng. Những truyền đơn đầu tiên ký tên Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia ủng hộ ông Diệm xuất hiện lác đác ở Nam Định.
Ba ngày cuối cùng phi cơ quân sự lên xuống liên tiếp. Khi đã chuyên chở gần hết vật dụng và người, trạm hàng không quân sự Nam Định bắt đầu cho mọi người tự do lên phi cơ C-47 còn trống nhiều chỗ để đi Hà Nội.
Hình chụp vào tháng 9 năm 1954 với một số người Bắc di cư trên tàu USS Bayfield khi tàu vừa cặp bến Saigon. Sau Hiệp Định Geneve, tàu USS Bayfield là một trong những vận-chuyển hạm của Hải Quân Hoa Kỳ được giao phó nhiệm vụ chở người tị nạn từ Bắc vào Nam. (HÌNH ẢNH: Trung Tâm Quân Sử Hải Quân Hoa Kỳ).
Nam Định bắt đầu hoảng hốt thực sự từ ngày 28 tháng 6 khi điện bị cắt. Thành phố tối mù. Nhiều người chen chúc mua vé xe hoặc thuê xe di tản về Hà Nội. Nam Định là nơi số doanh trại và binh lính dầy đặc nhất Việt Nam. Trước đó từ 9 giờ khuya là giờ giới nghiêm, thành phố vắng vẻ không một bóng người trên phố xá. Nay đột nhiên tất cả chìm trong không gian đen thui, nhưng lại cựa mình mạnh hơn trong bóng tối. Trên đường phố người ta đi lại đông đúc khác thường quá cả giờ giới nghiêm.
Gia đình tôi lúc ấy đang ở một căn cư xá công chức nơi mẹ tôi làm việc. Lúc 7 giờ sáng, một anh lính tống thư viên người Pháp vào sở đưa một giấy báo di chuyển, ghi đúng số người thuộc quyền sở này và gia đình nhân viên kể cả 4 gia đình ở cư xá. Tất cả mau lẹ tập trung đợi xe. Sau đó chừng 15 phút, một tiểu đội Bảo Chính Đoàn dẫn 4 xe vận tải trưng dụng của tư nhân đến nơi và cho biết đúng 8 giờ kém 15 mọi người phải có mặt đầy đủ trên xe.
Việc di tản có vẻ đã được chuẩn bị nhiều tuần lễ trước đó. Số người ngồi trên xe thoải mái rộng rãi vì không ai mang theo đồ đạc gì nhiều ngoài một vài chiếc valise và túi xách tay gọn nhẹ.
Lệnh di chuyển cho biết đoàn xe này phải qua trạm kiểm soát phía bắc hướng đi Phủ Lý-Hà Nội vào khoảng giờ nhất định mà tôi nhớ là sau 8 giờ và trước 8 giờ 10 phút. Lệnh này cũng cảnh cáo nếu xe nào đến sớm quá hay muộn quá theo giờ ấn định sẽ bị ủi ra khỏi mặt đường để tránh nhiễu loạn giao thông.
Hồi đó tôi còn là học trò. Vội vàng xếp quần áo, hình ảnh, giấy tờ cần thiết, cuống cuồng không biết phải mang theo gì và phải bỏ lại món nào. Lúc còn chừng 25 phút, tôi xin phép mẹ tôi chạy ra phố nói là để chào mấy thằng bạn. Cô ruột tôi , người nuôi nấng tôi từ nhỏ không chịu vì sợ tôi chậm trễ e sẽ kẹt lại. Nhưng mẹ tôi hiểu ý, mỉm cười can thiệp nói, “Chị cứ cho nó đi, nó không dám về muộn đâu.”
Mẹ tôi thừa biết tôi đi đâu. Tôi đạp xe với tốc độ không thua các tay đua vòng quanh Đông Dương, xẹt qua trước nhà cô bạn mà tôi thương vụng nhớ thầm từ năm 17 tuổi và chưa hề mở lời yêu đương.
Đường phố Hà Nội, hình chụp vào tháng 7 năm 1954.
Nàng đang ngồi chải tóc ở cửa sổ trên lầu. Không rõ nàng có nhìn thấy tôi hay không, nhưng tôi vội vàng đánh bạo thu hết can đảm hôn gió trên bàn tay phải ném về phía cửa sổ rồi lao xe như gió về nhà, trước giờ xe chạy khoảng 10 phút. Ở miền Bắc hồi ấy trai gái còn nhút nhát, phải can đảm lắm mới dám làm như thế vì tôi linh cảm chuyến đi này sẽ lâu lắm., có thể là cả đời. Sau này trong đời lính chưa bao giờ tôi phải vận dụng can đảm cao độ như vậy dù gặp nhiều tình thế rất khó khăn nguy hiểm.
Quân cảnh Pháp thi hành đúng giờ giấc như quy định. Tại trạm kiểm soát Cổng Hậu, từng đoàn xe gồm năm mười chiếc có lính hộ tống được cho khởi hành. Một vài xe đến muộn phải đậu một bên đường chờ giải quyết sau. Trên đường đi, tại mỗi cây cầu đều có một toán Công Binh đặt sẵn chất nổ. Một trung sĩ Công Binh Việt Nam cho biết họ phải phá nổ các cầu này khi đơn vị cuối cùng đi qua.
Buổi trưa đoàn xe chúng tôi đi đến Hà Nội. Gia đình tôi về ở nhà người thân. Đêm hôm ấy thị xã Phủ Lý bị một sư đoàn Việt Minh tấn công. Thành phố đã hư hại sẵn nay lại chịu tàn phá gần hết những gì còn lại.
Cuộc rút lui này tuy tiêu biểu cho việc Pháp thua trận nhưng lại là cuộc rút lui thành công. Dựa vào tài liệu của Pháp và thực tế quan sát thấy tại chỗ, cho thấy Đại Tá Vanuxem chỉ huy trưởng Phân Khu Nam đã điều động cuộc rút lui mau lẹ, có trật tự với tổn thất nhẹ không đáng kể. Đoàn quân rút lui vượt qua nút Phủ Lý trước khi bị địch đánh chận.
Kế hoạch tỉ mỉ do bộ tham mưu Pháp bí mật soạn thảo, trong đó chỉ có các sĩ quan từ đại úy mới được cho tham dự. Mọi việc đánh máy, chuyển nhận công điện, văn thư tài liệu đều do các cấp sĩ quan từ đại úy trở lên đích thân thi hành. Bí mật được giữ đến phút chót. Chỉ có một điều đáng tiếc là nhiều đội dân quân tự vệ ở nhiều làng mạc các tỉnh vùng này kể cả quanh những trung tâm chiến lược như Phát Diệm, Bùi Chu bị Pháp bỏ rơi. Nhiều dân quân chạy không kịp bị Việt Minh bắt và giết hại.
Hà Nội vốn yên tĩnh, lúc đó đang sống thanh bình không nghe tiếng súng. Những vũ trường, hàng quán sang trọng và độc đáo với những thắng cảnh nổi tiếng đầy bóng dáng người đẹp thướt tha. Cuộc di tản 4 tỉnh phía Nam làm cho đường phố Hà Nội đông người thêm nhưng vẫn không mất vẻ mỹ lệ của đất Thăng Long ngàn năm văn vật.
Lúc ấy hội nghị Geneve bắt đầu họp. Ai cũng thấy phe Cộng Sản đang nắm ưu thế. Những người có quan tâm đều lo ngại không biết sẽ đình chiến kiểu nào. Có thể là hai bên ngưng bắn xen kẽ mà sau này năm 1972-73 người ta gọi là “giải pháp da beo.” Cũng có thể là chia đôi đất nước thành hai miền Nam và Bắc. Người ta cũng bàn tán gay go về ranh giới đình chiến sẽ nằm ở vĩ tuyến nào? Vĩ tuyến 13, 16 hay 19?
Đầu tháng 7, ông Diệm ra Hà Nội. Một số đông đảo dân chúng chào đón ông, và nhiều người hy vọng vị nhân sĩ này sẽ cứu vãn tình hình. Sau đó ngày 7 tháng 7 năm 1954 ông Diệm chính thức nhậm chức thủ tướng. Ông thành lập Ủy Ban Bảo Vệ Bắc Việt. Các đoàn thể, đảng phái chống Cộng đều ủng hộ đường lối này. Nhiều sĩ quan, binh sĩ cũng sẵn sàng tham gia việc phòng thủ lãnh thổ phe quốc gia đang nắm giữ. Một số đông đảo đặt niềm hy vọng lớn lao vào sự trợ giúp của Hoa Kỳ thay thế người Pháp.
Nhóm chúng tôi là đảng viên Đại Việt và Quốc Dân Đảng đều hăng hái tham gia tuyên truyền vận động ủng hộ chủ trương giữ Bắc Việt. Đêm đêm, chúng tôi đi ném truyền đơn ở khu Hồ Tây, Cổ Ngư, Ngọc Sơn và nhiều nơi khác kể cả những nơi có lính Pháp lui tới. Hà Nội bắt đầu có không khí căng thẳng và phảng phất mùi chiến tranh.
Đường phố Hà Nội về khuya lần đầu tiên có những bóng dáng cảnh sát võ trang súng trận Mas-36 và quân phục tác chiến đi tuần tiễu. Nhưng các cơ sở dân sự cơ yếu và doanh trại quan trọng của Quân Đội Quốc Gia đều thấy có lính Maroc hoặc da đen canh gác, rõ ràng là Pháp đang phòng ngừa chính biến chống lại họ.
Ngày 14 tháng 7, quân đội Pháp tổ chức diễn binh ờ Bờ Hồ phía Tòa Thị Chính. Thông cáo và bích chương của Pháp vẽ hình nắm đấm được thấy khắp nơi. Pháp giải thích rằng rút 4 tỉnh phía Nam là bàn tay trước kia xòe ra nay nắm lại để đánh mạnh hơn. Tất nhiên ít ai tin vào luận điệu này.
Đám học sinh chúng tôi từ Nam Định chạy về nhiều đứa tình nguyện vào Khóa 5 Sĩ Quan Trừ Bị và lục tục lên đường khoảng trước ngày 15 tháng 7 năm 1954. Phần còn lại thường tìm gặp nhau trao đổi tin tức và bàn luận về tình hình đất nước.
Chiều 21 tháng 7 năm 1954 khi bọn tôi đang tụ họp thì có tin trên đài Con Nhạn (Hirondelle) của quân đội Pháp vang lên lời loan báo “Hiệp Định Đình Chiến đã được ký kết.” Tờ báo của quân đội Pháp cũng đăng câu ấy trên trang nhất bằng chữ lớn. Mọi người bàng hoàng dù biết trước thế nào việc này cũng sẽ đến. Báo này cho hay đất nước phân chia ở sông Bến Hải, Vĩ Tuyến 17.
Tân Thủ Tướng Pháp Mendès-France nhậm chức ngày 17/6/54, đã tuyên bố rằng ông ta sẽ từ chức nếu không đạt được thỏa hiệp trước ngày 20 tháng 7 năm 1954. Vì thế hiệp định Geneve về Đông Dương được ký lúc sáng sớm ngày 21 nhưng nhà cầm quyền Pháp đã cho đồng hồ ngưng chạy từ đêm trước để làm như lúc ấy vẫn còn là ngày 20. Tại Việt Nam thời điểm này là trưa ngày 21.
Hà Nội liền thay đổi rõ rệt. Niềm hy vọng giữ Bắc Việt lịm tắt dần và dân chúng nóng lòng về tin tức sẽ có cuộc di cư. Một số bài trên báo chí đang từ thái độ chống cộng quay dần sang ủng hộ Việt Minh. Người các tỉnh đổ về Hà Nội đông đảo. Cán bộ Việt Minh cấp thấp ra vào Hà Nội dễ dàng. Đồ chơi trẻ em bày bán trước dịp Trung Thu có những chiếc máy bay, xe thiết giáp, xe chở lính, tàu thủy được sơn cờ đỏ sao vàng. Các cơ quan an ninh chẳng ai thèm để ý.
Một số cán bộ Việt Minh quen biết gia đình tôi đến thăm và khuyên gia đình tôi nên ở lại nhưng mẹ tôi và tôi đã dứt khoát ra đi. Sau đó 4 tháng, chúng tôi gặp lại vài người trong số cán bộ này ở Sài Gòn. Chính họ cũng đã mau chóng nhận rõ thực chất của Cộng Sản và kịp thời ra đi trước khi cảng Hải Phòng đóng cửa tháng 3 năm 1955.
Những gia đình chuẩn bị di cư đem đồ đạc bày bán dọc bờ hồ Thiền Quang làm thành một thứ chợ trời. Một buổi sáng sớm khi những người đầu tiên đang lục tục khuân đồ đạc đến chợ thì thấy có một lá cờ đỏ sao vàng treo trên tàng cây cao chừng ba bốn mét. Một thanh niên nổi nóng trèo lên giật lá cờ ném xuống đất.
Một trung tá người Pháp đi bộ ngang qua hung hăng can thiệp, lớn tiếng đại ý nói đó là quốc kỳ của một nhà nước, không được xúc phạm. Ông ta không ngờ những người bán chợ trời đều không ưa lá cờ máu ấy. Thế là xô xát xẩy ra, kết quả viên trung tá bị trọng thương vì gạch đá gậy gộc cho đến lúc xe quân cảnh Pháp cấp cứu.
Tin tức về di cư được loan báo chính thức vào đầu tháng 8. Nhiều nhà giầu đã đi vào Nam bằng phương tiện riêng. Đại đa số còn lại đợi ghi danh di cư bằng phi cơ và tàu biển. Trong nhóm chúng tôi từ Nam Định lên, phần đi Khóa 5 Thủ Đức, số còn lại một phần tham gia đoàn cán bộ xã hội được gửi vào Nam để phụ trách các trại tiếp cư do Bộ Xã Hội thiết lập. Tôi ở trong số này. Buổi chiều ngày 11 tháng 8 năm 1954 bốn đứa bọn tôi đi bộ thăm tất cả các di tích và thắng cảnh quanh Hà Nội lần cuối.
Sáng sớm 12 tháng 8 khi qua cửa kiểm soát phi trường Gia Lâm, một trung úy Nhảy Dù người Pháp hỏi chuyện chúng tôi vì thấy 25 đứa trong đoàn cán bộ xã hội toàn là thanh niên còn trẻ. Sau khi nghe chúng tôi nói rõ lập trường và mục đích ra đi, ông ta nắm tay chúng tôi giọng xúc động nói rằng, “Nước Pháp đã liên tiếp sai lầm để các bạn chịu hậu quả đau đớn hôm nay.” Nói xong không ai ngờ viên trung úy trẻ dưới 30 này bật khóc, nước mắt chảy dài trên má.
Chúng tôi cũng cảm động tuy nhiên vẫn còn cầm được nước mắt. Nhưng khi phi cơ lượn một vòng lấy cao độ, tất cả đều ngó xuống. Giữa tấm thảm mây mưa xám xịt che kín bên dưới phi cơ có một khoảng trống vuông vắn hiện ra Hồ Gươm và 36 phố phường. Cảnh tượng tuy tầm thường nhưng lại gây xúc động mạnh, khiến đứa nào cũng rưng rưng nước mắt. Đây là lần chúng tôi vĩnh biệt Hà Nội. Vĩnh biệt miền Bắc.
Sau những giờ bay dài phi cơ đến Tân Sơn Nhất, cảnh những con rạch đỏ ngầu giữa hai hàng dừa xanh làm chúng tôi tươi vui hơn. Được đưa về nhận việc tại trại Bệnh Viện Bình Dân dưới quyền Bộ Xã Hội, ngày hôm sau chúng tôi được phân phối đi các trại tiếp cư khắp Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định. Đợt đầu tiên đồng bào di cư bằng cầu vận chuyển của chính phủ và các nước trợ giúp đã vào Sài Gòn từ đầu tháng 8 năm 1954.
Nhờ vào dịp hè, các trường học vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định được trưng dụng để đón nhận người di cư đến bằng phi cơ quân và dân sự, các quân vận hạm Mỹ như Marine Serpent và Marine Addler, các mẫu hạm Anh và Pháp. Trại tiếp cư lớn nhất vùng Sài Gòn là trại Phú Thọ Lều (sát trường đua Phú Thọ, gồm hàng trăm lều vải lớn mỗi lều chứa bốn năm gia đình do quân đội Mỹ dựng. Gọi là Phú Thọ Lều để phân biệt với trại Học Sinh Di Cư Phú Thọ ở gần kế đó. Trại Phú Thọ Lều chứa trên 10 ngàn người.
Trợ cấp tiền mặt một ngày cho mỗi người lớn 12 đồng, trẻ em 6 đồng, dư để ăn ba bữa tươm tất. Lúc ấy một bát phở hay một tô hủ tiếu giá 3 đồng, một bữa cơm ở quán ăn xã hội hai món canh và mặn giá 5 đồng. Chai bia 3 đồng kể cả nước đá, một gói thuốc lá Ruby 8 đồng. Lương giáo viên tiểu học khoảng hơn 4,000 đồng, lương trung sĩ 2,200 đồng, lương cán bộ ngang lương thấp là 1,500 đồng. Một căn nhà gỗ lợp tôn 4×20 mét ở mặt đường khoảng chợ Hòa Hưng giá chừng 30,000 đồng.
Đời sống trong các trại tiếp cư rất đa dạng. Sống chật chội chung đụng và ồn ào, làm nảy sinh nhiều vui buồn, đụng chạm, kết bạn, rã bạn, tạo ra những mối tình ái lăng nhăng xấu tốt đủ cỡ đủ kiểu. Những cảnh âu yếm giao tình nặng nhẹ bên bờ bụi gần trại trong đêm khuya vắng vẻ của trai gái, vợ chồng đủ lứa tuổi, là những nét sinh hoạt rất sống động có đủ vui, buồn, yêu, giận, phát khóc và nực cười.
Từ tháng 8 năm 1954, mỗi ngày có trung bình hàng ngàn người từ Hà Nội và Hải Phòng vào Sài Gòn bằng đường hàng không và nhiều ngàn người mỗi tuần bằng tàu chiến. Công việc định cư được tiến hành song song và khẩn thiết. Phủ Tổng Ủy Di Cư lúc ấy đã thay thế bộ Xã Hội trong nhiệm vụ chuyên biệt này.
Thời gian tạm cư kéo dài đến cuối năm 1954 và các trường học được trả lại cho học sinh. Trại Phú Thọ Lều giải tán. Người di cư theo nhau đi định cư khắp nơi, ở nhà tư hoặc ở các trại định cư khắp các tỉnh. Tính đến chuyến tàu sau cùng tháng 3 năm 1955 có khoảng 950,000 người từ bắc Vĩ Tuyến 17 di cư vào Nam.
Nếu tính theo giấy tờ, con số này có thể lên tới hơn 1 triệu vì có sự gian lận sổ sách của một số viên chức cán bộ lợi dụng thủ tục khai và lãnh tiền trợ cấp dễ dàng. Và không phải 90% người di cư là tín đồ Công Giáo như nhiều người nhận định. Số đồng bào Công Giáo di cư có lẽ chỉ chiếm khoảng 70% tổng số.
Một điểm đáng ghi nhận là đáng lẽ số người di cư còn cao hơn nữa nhưng vì vụ tướng Nguyễn Văn Hinh chống ông Diệm và những cuộc giao tranh giữa quân chính phủ và lực lượng Bình Xuyên đầu năm 1955 ở Sài Gòn nên nhiều người Bắc không dám vào Nam. Tin tức về vụ này làm một số rất nhiều người đã định ra đi nhưng vì e ngại loạn lạc mà đổi ý.
Nói chung, sự xuất hiện của ông Ngô Đình Diệm và thái độ can dự của người Mỹ đã gây được tin tưởng trong một số đông đảo người miền Bắc khiến họ yên tâm vào Nam. Đại đa số thành phần trí thức, chuyên viên cao cấp như kỹ sư, bác sĩ, chuyên viên trung cấp, thợ giỏi, đã rời bỏ đất Bắc khiến chính quyền ông Hồ Chí Minh gặp khó khăn lớn trong mục tiêu xây dựng một đội ngũ chuyên viên kỹ thuật mà họ cho là xương sống của nền kinh tế và khoa học kỹ thuật Xã Hội Chủ Nghĩa.
Cuộc di cư năm 1954 tạo ra những thay đổi sâu rộng trong lịch sử Việt Nam. Xin ghi lại một vài sự kiện nổi bật xảy ra và những nét đặc biệt của cuộc di cư sau Hiệp Định Geneve 1954 điển hình tại vùng thủ đô Sài Gòn.
Trước hết phải nhìn nhận cuộc di cư đã giúp hàn gắn những chia cách đáng buồn giữa hai miền trong nước. Tình trạng chia rẽ do hậu quả của những năm dài dưới chế độ thuộc địa Pháp đã tiêu tan mau chóng. Những dị biệt về phong tục, ngôn ngữ vì ngăn cách, lâu ngày được san bằng gần hết. Những ngăn cách và hiểu lầm còn lại không gây hậu quả nào nghiêm trọng. Về mặt chính trị và xã hội, sau nhiều biến chuyển và chiến tranh, cuộc di cư vĩ đại năm 1954 đã góp phần thay đổi bộ mặt bề ngoài cũng như nếp sống của dân chúng đến chỗ tốt đẹp, phong phú hơn.
Trước tháng 10 năm 1954, chính quyền địa phương còn gần y nguyên như thời Pháp Thuộc. Văn thư, giấy tờ, tên công sở, phố xá còn dùng tiếng Pháp. Từ khi chính phủ Ngô Đình Diệm nắm toàn quyền sau những âm mưu đảo chánh bất thành, luật lệ được thi hành nghiêm chỉnh. Nhiều cải cách hành chánh đã làm giảm hẳn nạn giấy tờ nhiêu khê. Văn thư, giấy tờ đều bắt đầu dùng tiếng Việt. Xin Tư Pháp Lý Lịch bây giờ chỉ mất một tuần thay vì đợi 3 tháng. Xin chứng nhận bản sao đợi lấy ngay hay sau vài giờ thay vì một tuần lễ. Các cuộc cải tổ mạnh mẽ được tiến hành có kết quả tốt nhờ phần nào ở sự ủng hộ tích cực của đồng bào di cư đối với chính phủ.
Cuộc đổi tiền Đông Dương thành tiền Việt Nam năm 1955 trong 3 ngày không giới hạn số lượng là một đòn bất ngờ vô hiệu hóa hàng tỷ bạc Đông Dương mà chính quyền Hồ Chí Minh thu gom được ở miền Bắc vì họ không kịp chuyển vào Nam để đổi lấy tiền miền Nam mới. Đợt đổi tiền này cũng chấm dứt luôn thói quen tiêu dùng coi nửa tờ giấy bạc 1 đồng như 5 cắc (hào). Khi cần xài hay trả lại 5 cắc, chỉ cần xé đôi tờ giấy bạc một đồng. Đành rằng tập tục này không áp dụng cho những giấy bạc mệnh giá trên một đồng.
Lúc ấy ảnh hưởng tuyên truyền của Cộng Sản rất mạnh ở nam phần ngay tại Sài Gòn. Nhiều người mở đài Hà Nội công khai mà không ai bắt bớ. Nhiều người miền Nam ít hiểu biết về thực tế Cộng Sản đã thật thà hỏi mấy đồng bào di cư mới gặp gỡ rằng “Ngoài Bắc đã độc lập rồi, mấy thầy cô dô đây làm chi?” Do đó đã xẩy ra một số đụng chạm nhỏ trong tháng đầu. Dần dần đồng bào miền Nam mới nhìn đồng bào di cư một cách có thiện cảm hơn.
Trong bối cảnh ấy, lực lượng học sinh di cư đã dẫn đầu cuộc biểu tình vào dịp 20 tháng 7 năm 1955 đòi tống xuất các đoàn đại biểu của quân đội Cộng Sản từ Hà Nội trú đóng tại hai khách sạn Majestic và Galliéni (đường Trần Hưng Đạo). Khi bị khiêu khích, cuộc biểu tình biến thành bạo động, gây thiệt hại nặng cho hai khách sạn nhưng không có thương vong quan trọng. Những hành vi cương quyết của quần chúng khiến bọn thân Cộng Sản không còn nhởn nhơ tuyên truyền bán công khai như trước.
Người di cư tiếp xúc, trao đổi với dân chúng địa phương mau chóng tạo ra những hiểu biết và thông cảm. Về kinh tế thương mại, người Bắc vào Nam đã mở mang thương trường, ra các cửa hàng nhất là hàng ăn. Năm 1954 hầu hết cửa tiệm ăn do người Hoa kinh doanh, và họ dành độc quyền ngành lúa gạo cũng như các sạp thịt ở mọi chợ. Đời sống dễ dàng ở miền Nam khiến người Việt ít muốn cạnh tranh, ngay như ngành công chức cũng không hấp dẫn nhiều người. Bà con lao động xích lô kiếm đủ tiền tiêu trong ngày nhiều khi đẩy xe lên lề dưới bóng cây làm một giấc, khách gọi mấy cũng từ chối. Cách biệt giầu nghèo ở Nam Việt lúc ấy rất ít.
Các tầng lớp dân di cư cần cù chịu đựng tham gia thị trường lao động đã làm cho đời sống kinh tế miền Nam lên cao nhưng lại buộc mọi người phải làm ăn chăm chỉ hơn. Một số người địa phương không hài lòng vì nếp sống thong thả lè phè cũ đã mất đi không còn trở lại.
Hình chụp tại Saigon vào tháng 10 năm 1954 trong một trại định cư với hàng trăm căn lều. Lúc đó, một trong những trại định cư lớn nhất ở Saigon là trại Phú Thọ Lều được thiết lập tại Quận 10 sát bên trường đưa Phú Thọ. Trại này có lúc đã chứa đến 10,000 người di cư. (HÌNH ẢNH: VNCTLS sưu tầm).
Trang phục phụ nữ hai miền khác nhau, nổi rõ nhất là giới nữ sinh trung học tuổi đôi tám. Nữ sinh Hà Nội làm dáng sớm hơn, quần hẹp, áo dài nở vòng số một. Nữ sinh Sài Gòn vận quần trắng rộng, áo bà ba trắng nhiều hơn áo dài được may vòng số 1 tương đối phẳng phiu có lẽ vì đó là cách tỏ ra là con nhà nghiêm túc. Sau hơn một năm các cô hai miền tự nhiên hòa hợp cách ăn mặc, bọn thanh niên sinh viên học sinh chúng tôi không còn phân biệt được gốc gác các cô qua y phục nữa. Điều quan trọng và dễ thương hơn hết là những câu chuyện tình Bắc duyên Nam đã nhiều khi hóa giải rất nhiều cho những mâu thuẫn văn hóa chính trị.
Các trường phía Bắc di chuyển vào Sài Gòn giữ gần y nguyên ban giám hiệu và tổ chức riêng. Từ Hà Nội vào, Chu Văn An tiếp tục tại cơ sở cạnh Petrus Ký. Trưng Vương học chung cơ sở nhưng khác giờ với Gia Long… sau hai ba năm mới ra học ở các cơ sở riêng trước Thảo Cầm Viên. Mấy năm sau nữa thì học sinh gốc hai miền dần dần pha trộn.
Chuyện đáng nhớ là năm 1955 học sinh Bắc vào Nam và các bạn gốc miền Nam mở chiến dịch phá bỏ tên đường tiếng Pháp. Nhờ đó mà việc đặt tên đường mới, vốn là việc mất nhiều công sức, đã được Tòa Đô Chánh Sài Gòn thực hiện trong vòng khoảng một tháng.
Về mặt văn hóa và báo chí, các nhà văn, nhà thơ, nhà báo từ Bắc vào Nam đã hòa hợp với đồng nghiệp miền Nam tạo ra sinh khí mới, lối viết và văn phong, sắc thái trong sáng, có sức truyền đạt hơn. Sau một thời gian ngắn người đọc chỉ có thể nhận thấy một số khác biệt ít ỏi giữa bài vở sách báo do các tác giả gốc từ các miền khác nhau viết ra.
Đặc biệt là về tân nhạc, lớp nhạc sĩ và ca sĩ cũng như những người yêu nhạc từ miền Bắc vào Nam đã lôi cuốn được phong trào âm nhạc mới phát triển mạnh để tiến đến tới cao điểm nghệ thuật ca nhạc trong các thập niên sau. Và ngược lại số người Bắc di cư hâm mộ ca nhạc kịch cải lương cũng gia tăng nhiều.
Về mặt ăn chơi, sự thay đổi rõ rệt hơn. Sòng bạc Kim Chung, Đại Thế Giới, khu mại dâm Bình Khang bị đóng cửa đầu năm 1955. Giữa năm 1954 cả Sài Gòn hình như chỉ có 2 hay 3 tiệm phở Bắc. Chỉ sau vài tháng số tiệm phở tăng đến hàng chục. Các quán cà phê cũng lục tục ra đời cùng với các ngành buôn bán khác. Các xuất gọi là phụ diễn tân nhạc trước khi chiếu phim chính ra đời dần dần tiến đến những buổi trình diễn âm nhạc chuyên nghiệp gọi là “nhạc hội” giúp vào việc phổ biến âm nhạc sâu rộng hơn. Trước đó hoạt động âm nhạc chỉ được biết qua các chương trình ca nhạc và các cuộc thi hát, tuyển lựa ca sĩ của các đài phát thanh quốc gia, đài quân đội và đài Pháp Á cùng hai đài Huế và Hà Nội.
Ngôn ngữ hai miền sau cuộc di cư cũng thay đổi và pha trộn về từ ngữ tuy vẫn giữ những nét độc đáo của từng vùng mà không lai giọng. Điểm đáng lưu ý là sau nhiều năm gia đình gốc gác miền Bắc di cư có con cái đứa thì nói giọng địa phương (Nam hay Trung), đứa thì nói giọng Bắc, đứa thì nói cả hai ba giọng tùy theo môi trưởng xóm giềng và trường học. Nhưng không mấy ai nói lẫn lộn cùng một lúc các giọng khác nhau.
Về mặt đời sống xã hội, người di cư dần dần và chậm chạp chịu ảnh hưởng bởi lối sống phóng khoáng, chân thật, thẳng thắn của dân miền Nam. Sau một thế hệ, tính nết người Bắc di cư khác hẳn tính nết của đồng hương của họ còn ở lại quê nhà. Đến sau 30 tháng 4 năm 1975 người ta càng thấy điều này rõ rệt hơn khi gặp đợt Bắc Kỳ mới vào Nam.
Trong đời sống tinh thần, có hai sự kiện đáng nhớ trong thời gian ấy. Một là trước ngày Việt Minh tiếp thu Hà Nội thì chùa Một Cột, di tích quý báu nhất của Việt Nam bị kẻ vô danh phá bằng chất nổ. Rất may chùa chỉ hư hại một góc. Nghe tin ấy chúng tôi đều hết sức buồn phiền. Hai là giữa lúc nhịp độ di cư đang lên cao thì Hoàng Dương, em nhạc sĩ Hoàng Trọng cho ra đời ca khúc Hướng Về Hà Nội với lời ca tha thiết “Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi… mái trường phượng vĩ dâng hoa, dáng chiều ủ bóng tiên nga… biết đâu ngày ấy anh về.” Ca khúc này khiến lứa tuổi 18, 19 chúng tôi cảm thấy rõ điều mà các văn thi nhạc sĩ gọi là “tan nát cõi lòng.”
Dĩ nhiên trong ngót một triệu người Bắc di cư có đủ mọi thành phần tốt xấu kể cả đầu trộm đuôi cướp, quan lại tham nhũng, trọc phú bất lương, tay sai thực dân và nội tuyến Cộng Sản. Nhưng so với số các phần tử tinh hoa của xã hội, số người yêu nước, chuyên viên giỏi các loại, các nhân sĩ, trí thức, chiến sĩ quốc gia chân chính, thì những phần tử xấu xa nói trên chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ bé.
Một số người cho rằng người miền Bắc di cư đã là chứng nhân lịch sử khiến đồng bào miền Nam hiểu rõ bản chất của chế độ Cộng Sản. Điều đó có thể đúng một phần nhỏ. Phần quan trọng hơn là chính vì thực tế những đường lối mà Cộng Sản thi hành tại miền Nam tại nông thôn từ khoảng năm 1961 trở đi. Từ đó họ đã thấy rằng chế độ Cộng Sản đi ngược lại quyền lợi và sự an hòa của nhân dân ta nhất là giai cấp nghèo khổ ở nông thôn.
Tôi và các bạn cùng lứa tuổi di cư vào ở miền Nam gần 40 năm tính đến năm 1990 qua di trú sang Hoa Kỳ. Tuy sinh ra trên đất Bắc nhưng chỉ ở Bắc dưới 20 năm trong đó mới biết chuyện đời được dăm ba năm. Vì thế chúng tôi có hai miền quê quán. Quê quán thứ nhất ở miền Bắc còn ở trong tim nhiều hơn. Quê quán thứ hai ở miền Nam sau ngày di cư năm 1954 mới thực sự chứa đựng nhiều vui buồn, yêu thương, giận dỗi, vinh quang và tủi nhục vì trải qua quãng đường đời dài 40 năm với biết bao nhiêu là kỷ niệm.
Powered By Blogger