Saturday, December 12, 2009

"Sư" ông Nhất Hạnh - TÂM DAO GĂM


TÂM DAO GĂM
(TÔN NỮ NHƯ KHÔNG)
.
Một việc chúng tôi rất ngại và cố né là viết đụng tới các vị tu hành. Một phần là vì lý do thực tế. Ai đó dám viết đụng tới một vị nào đó thì tất sẽ có kẻ bênh người chống, mà những kẻ đã nhắm mắt bênh các vị tu hành thì khủng khiếp lắm, họ sẽ bênh theo kiểu Ắ thánh chiến, chứ không nghe phân trần phải trái. Một phần là vì bản thân chúng tôi, cũng giống như quý vị, đều giữ lòng tôn kính và kỳ vọng đặc biệt vào các vị lãnh đạo tinh thần.
.
Nhưng trong đời, có lúc cũng đành phải làm một vài chuyện chẳng đặng đừng. đã có gan cầm bút thì mình không thể làm ngơ trước sự giả trá quá lộ liễu, và sự bất công có khả năng dẫn tới sự tàn phá quá lớn lao. Nhất là nếu sự giả trá bất công đó lại đến từ một vị tu hành có ảnh hưởng lớn như Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Nói tới Thiền sư Thích Nhất Hạnh có lẽ phần đông người Việt Nam đều nghe danh, và đối với phần đông người Việt Nam và người ngoại quốc, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã xuất hiện như một người đạo cao, đức trọng. Chính vì cái hình ảnh đạo cao, đức trọng này, cộng với tài tổ chức, tài thuyết pháp và tiền rừng, bạc biển, mà Thiền sư Thích Nhất Hạnh có khả năng góp phần gây ảnh hưởng tốt hay xấu trên dư luận thế giới về một vấn đề nào đó. Nói cách khác, nếu cái tâm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh đúng là tâm Phật thì thật phúc cho nhiều người, còn nếu cái tâm của Thiền sư chỉ là một bồ dao găm thì thật là họa cho chúng sinh!
.
Tại sao hôm nay chúng tôi lại buồn lòng phải thưa chuyện với Thiền sư Thích Nhất Hạnh, với Phật tử và với mọi người Việt Nam một cách thẳng thắn? Xin thưa: vì Thiền sư Thích Nhất Hạnh lại vừa làm thêm một chuyện động trời. Sau khi nước Mỹ bị bọn khủng bố tấn công tàn bạo, và trong khi nước Mỹ gạt nước mắt để cương quyết đứng lên cùng cả thế giới ngăn chặn những đợt khủng bố kế tiếp, đồng thời truy lùng bọn khủng bố có tổ chức quy mô và có khả năng tiêu diệt nền văn minh nhân loại bằng những thứ vũ khí độc hại nhất, thì Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã cấp tốc tổ chức một buổi thuyết pháp tại một nhà thờ ở New York và đã chi một số tiền kếch sù để đăng quảng cáo buổi thuyết pháp này trên một tờ báo có ảnh hưởng rất lớn ở nước Mỹ là tờ The New York Times.
.
Nếu đây chỉ là một bài thuyết pháp kêu gọi hòa bình, hay dạy dỗ người Mỹ biết cách kềm giữ để sự giận dữ không biến thành một cuộc trả thù bừa bãi, thì chúng tôi vẫn sẵn lòng lắng nghe, cũng như chúng tôi đã lắng nghe nhiều vị giáo chủ thuộc mọi tôn giáo đã lên tiếng cầu nguyện cho thế giới được hòa bình, đồng thời kêu gọi chính phu? Mỹ hãy sáng suốt và tự chế trong công tác truy lùng những thủ phạm gây tội ác, nhất là khuyến khích thăng tiến sự đối thoại, cảm thông và tôn trọng lẫn nhau để làm căn bản chung.
.
Bài thuyết pháp được mở đầu bằng tám câu thơ, xin tạm dịch:
.
Tôi bụm mặt trong hai bàn tay
Không, tôi không khóc
Tôi bụm mặt trong hai bàn tay
Ðể sưởi ấm nỗi cô đơn
Trong bàn tay bảo vê.
Trong bàn tay nuôi nấng
Trong bàn tay ngăn cản
Hồn tôi đừng bỏ tôi một mình trong cơn giận dữ.
.
Bài thơ thật tuyệt vời, nhưng là sự tuyệt vời khởi đầu cho một âm mưu gian dối! Bởi vì ngay sau đó, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã nói với cử tọa Mỹ rằng bài thơ đã được làm trong cuộc chiến tranh Việt Nam, khi Thiền sư nghe tin thị xã Bến Tre với 300 ngàn dân đã bị máy bay Mỹ bỏ bom phá hủy, chỉ vì có 7 quân du kích đã bắn vài loạt đạn súng phòng không lên trời rồi bỏ chạy.
.
Vụ phá hủy thị xã Bến Tre ấy đã làm Thiền sư đau đớn vô cùng.
Bịa. Bịa trắng trợn và ác ý!
Gian. Gian trơ trẽn và ác độc!
.
Viết tới đây, tôi phải bụm mặt tôi vào hai bàn tay, để sưởi ấm nỗi cô đơn thất vọng của tôi, và để ngăn cản hồn tôi đừng bỏ tôi một mình trong cơn giận dữ. Bởi vì chuyện bịa không ngượng mồm và gian dối không ngượng mặt này đã không đến từ một người tầm thường, mà đến từ một Thiền sư được nhiều người tán tụng. Ở đây cũng không phải là lần bịa chuyện gian dối đầu tiên của Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Hồi còn chiến tranh Việt Nam, để kích thích phong trào phản chiến, Thiền sư đã bịa chuyện nhìn thấy trực thăng Mỹ sà xuống đồng ruộng bắt gái quê đem đi hiếp. Sau đó có người hỏi rằng chuyện ấy đã xảy ra ở tỉnh nào, xã nào, Thiền sư đã không trả lời. Những chuyện gian dối này, Thiền sư Thích Nhất Hạnh chỉ bịa với người ngoại quốc, mặt khác Thiền sư thừa biết rằng nếu bịa trước cử tọa Việt Nam thì Thiền sư sẽ bị lật mặt nạ ngay. Muốn phân tích chuyện bịa trắng trợn mở đầu cho bài thuyết pháp hôm 25 tháng 9 vừa qua, thiết tưởng nên chép lại đây nguyên văn lời Thiền sư Thích Nhất Hạnh thuyết pháp bằng tiếng Mỹ: I wrote this poem during the Vietnam war after I heard about the bombing of Ben Tre city. The city of 300,000 was destroyed because seven guerrillas shot several rounds of unsuccessful anti-aircraft gunfire and then left. My pain was profound.
.
Người Việt Nam mình đọc đoạn thuyết pháp này thì chỉ cười khẩy, vì hiểu là chuyện bịa trắng trợn. Ai cũng biết rằng chẳng có một toán chỉ 7 quân du kích nào mà có súng phòng không. Mà giả sử có anh du kích nào gặp hên lượm được khẩu súng phòng không do ai đó đánh rơi ở dọc đường mà bắn lên trời đi nữa, thì máy bay Mỹ cũng chẳng đủ bom và đủ tàn ác để phá sạch (destroy) thị xã Bến Tre với 300,000 dân. Chứng minh rõ ràng nhất là thị xã Bến Tre vẫn còn đó, người Bến Tre vẫn còn đây, trong và ngoài nước, để làm chứng cho sự bịa đặt gian dối ác ý này.
.
Bây giờ, nếu có ai lại đặt câu hỏi rằng chuyện Mỹ bỏ bom phá sạch thị xã Bến Tre với 300,000 dân ấy xẩy ra ngày nào, tháng nào, năm nào, thì lại một lần nữa Thiền sư Thích Nhất Hạnh cũng chỉ Ợ lầm lì Ợ nhắm mắt Ợ ngồi thiền Ợ im lặng! Nhưng như đã nói ở trên, đối tượng tuyên truyền của Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong bài thuyết pháp đắt tiền vừa qua là người Mỹ. Mà người Mỹ, khi nghe lời thuyết pháp từ một Thiền sư với dáng dấp khoan thai, giọng nói từ bi như vậy, thì họ tin lắm. Họ chẳng biết Bến Tre ở đâu. Lẫn trong giọng thuyết pháp từ bi đều đều là hình ảnh của một thành phố với 300,000 người đàn bà, đàn ông, người già, trẻ thơ vô tội bị giết sạch. Cái câu cố ý lấp lửng. All the city of 300,000 was destroyed có hậu ý và tác dụng gây mặc cảm phạm tội vô cùng khủng khiếp. Ðể phá hủy cả một thành phố như vậy, máy bay Mỹ phải lồng lộn như bầy quạ, máu tóe, thịt văng, khói lửa ngút trời. Người Mỹ rùng mình vì sự tàn ác. Của ai? Của máy bay Mỹ? Của chính phủ Mỹ! Phút chốc, cái hình ảnh hai chiếc máy bay bị quân khủng bố cho lao vào tòa nhà Trung Tâm Thương Mại Thế Giới ở New York biến mất trong đầu người nghe. Bởi vì sự tàn ác của bọn không tặc nào có thấm gì so với sự tàn ác của Mỹ? Một tòa nhà bị phá hủy làm sao so sánh được với cả thành phố? Vài ngàn người chết làm sao so sánh được với con số 300,000 người? Cử tọa Mỹ nghe thuyết pháp trực tiếp và Ðối tượng của sự kinh tởm và oán ghét được chuyển từ quân khủng bố sang quân đội Mỹ và chính phu? Mỹ. Mục đích của bài thuyết pháp đã thành công! Sự bịa chuyện gian dối đã được đền bù! Cái hậu ý ác độc được che dấu bằng nụ cười tươi nở búp sen. Cái tâm dao găm được khép kín trong hai con mắt nhắm ngồi thiền. Bài thơ có lẽ vừa mới được làm chưa ráo mực, được nói dối là đã làm hồi chiến tranh Việt Nam để làm tiền đề cho một lời nói dối khác có tính cách vu vạ ác độc, nhằm mục đích phá hủy chính nghĩa và lòng tự tin của những nạn nhân vừa bị tai họa khủng bố giáng xuống. Ác thật ác! Ác độc thật độc!
.
Ác ấy, độc ấy vừa được phun ra từ cửa miệng của một Thiền sư, được phóng ra từ tâm của một Thiền sư! Người Việt Nam nói chung và người Phật tử Việt Nam nói riêng không thể giữ im lặng đồng lõa với cái ác độc bội phản này. Với cái tâm dao găm phảng phất mùi thiền, trong quá khứ Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã đâm những nhát chí tử vào ý chí chiến đấu tự vệ của người miền Nam Việt Nam. Nay cũng với cái tâm dao găm phảng phất mùi thiền ấy, cộng với danh tiếng và thế lực tiền tài lớn hơn xưa. Thiền sư Thích Nhất Hạnh bằng sự biạ đặt gian dối ác ý, đang âm mưu hạ gục ý chí chiến đấu của người Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố gian nan khốc liệt này. Ác! Ác quá! Người Việt Nam chúng ta thuộc mọi tôn giáo không thể đồng lõa vì nếu chúng ta im lặng thì cái tâm dao găm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã đâm một nhát thấu được qua hai con tim: con tim người Mỹ với mặc cảm phạm tội ác chiến tranh và con tim của người Việt chúng ta với mặc cảm đồng lõa với sự bịa đặt gian dối ác độc. Chúng ta cần hiệp lực chữa cái ác độc do một Thiền sư Việt Nam gây ra. Xin đề nghị ba việc:
.
** Thứ nhất, xin kính bạch Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc 26 năm, kẻ gây chiến là đảng Cộng Sản Việt Nam đã thắng, nạn nhân là cả dân tộc Việt Nam đã thua, thế mà tới bây giờ Thiền sư vẫn còn trường kỳ mai phục để tiếp tục bịa những chuyện động trời một cách ác ý và có tính toán như vầy, thế thì xin hỏi: Thiền sư là ai? Thiền sư là ai mà cứ mỗi lần nước Mỹ đang lâm chiến hay sắp sửa lâm chiến thì Thiền sư lại mượn mùi thiền để bịa chuyện nhằm gây mặc cảm phạm tội chiến tranh trong dân chúng Mỹ, với mục đích thúc đẩy hoặc vực dậy phong trào phản chiến trói tay chính phủ Mỹ hành động? Trong quảng cáo trên báo The New York Times, Thiền sư tự giới thiệu là một a peace maker. Tạm dịch là người xây dựng hòa bình. Kính bạch Thiền sư, hòa bình không thể xây dựng bằng cái tâm gian dối Ợ ác độc Ợ và phản bội! Cái tâm dao găm cũng không phải là cái tâm của một Thiền sư. Phản chiến có hai mặt tích cực và tiêu cực. Rất tiếc, qua hành động, Thiền sư đã và đang hiện hình là một người phản chiến với cái nghĩa tiêu cực. Thiền sư đã và đang khoác áo thiền, mượn danh yêu hòa bình, để giả đò can gián bằng cách ôm cứng nạn nhân cho thủ phạm hung hăng đánh gục. Với thủ đọan gây mặc cảm phạm tội ác chiến tranh trong lòng những nạn nhân vừa bị khủng bố, Thiền sư cũng đã đích thực là một thành phần khủng bố! Nguy hiểm hơn cả những tên khủng bố lái máy bay đâm vào tòa nhà Trung Tâm Thương Mại Thế Giới, vì sự khủng bố của Thiền sư nhằm đánh gục tinh thần và ý chí chiến đấu chống khủng bố của những người nghe Thiền sư thuyết pháp và đọc quảng cáo của Thiền sư trên báo.
.
** Thứ hai, chúng tôi xin thưa chuyện với người Việt Nam, đặc biệt là người Bến Tre. Chúng ta biết đây là một bịa đặt ác ý bởi một vị lãnh đạo tinh thần Việt Nam. Chúng ta xấu hổ. Nhưng xấu hổ không đủ, chúng ta cần góp phần giải độc cái bịa đặt ác ý này. Ðối tượng rải độc của Thiền sư Thích Nhất Hạnh là người Mỹ, nên đối tượng giải độc của chúng ta cũng phải là người Mỹ. Chúng ta cần thông báo cho chính phủ Mỹ và các cơ quan truyền thông Mỹ về sự kiện gian dối và hậu ý ác động này.
.
** Thứ ba, chúng tôi xin các hội đoàn và đặc biệt là các vị Luật sư cùng nghiên cứu, để một mặt đặt vấn đề với Thiền sư Thích Nhất Hạnh, một mặt đặt vấn đề với báo The New York Times. Chúng ta là những người sống có lý và có tình. Chúng ta không thể im lặng đồng lõa với sự gian dối lọc lừa và âm mưu phản bội. Ở đây là vấn đề lương tâm và cũng là liên quan tới cái sống cái chết của chúng ta, không hề nhuốm một tí màu sắc tôn giáo nào.
.
Xin trân trọng kính chào,
TÔN NỮ NHƯ KHÔNG

"Sư" ông Nhất Hạnh - Ngày Em Hai Mươi Tuổi


THIỀN SƯ THÍCH NHẤT HẠNH VÀ "NGÀY EM HAI MƯƠI TUỔI"
[Bà Nhàn Francisco]


Trước khi đặt thẳng vấn đề với Tú Gàn là ai đang tiếp tay cộng sản trong âm mưu " dùng tôn giáo tiêu diệt tôn giáo", chúng ta cần nhìn qua vai trò của thiền sư Thích Nhất Hạnh và cũng xin thưa ngay rằng "Ngày Em Hai mươi tuổi" (The day I turn twenty) là tựa đề một bài viết của thiền sư Nhất Hạnh nhưng đây không phải nói về "Sư Cô Chân Không vừa tròn hai mươi tuổi" mà nói về "Làng Mai (tức Làng Hồng) đã được hai mươi năm" kể từ ngày thành lập!.
.
Kỷ giả Vũ Ánh, trên tờ Việt Mercury số 166 ngày 29/3/2002, khi nói về thiền sư Thích Nhất Hạnh đã viết rằng : "dù có thời gian một đài phát thanh Nam Cali mở chiến dịch chỉ trích, nhưng dường như ảnh hưởng của Thiền sư Thích Nhất Hạnh không sút giảm trong cả cộng đồng Mỹ lẫn Việt". Hai chữ "dường như" mà Vũ Ánh dùng chứng tỏ rằng điều mà ông đưa ra không lấy gì làm chắc chắn.
.
Tại hội chợ Tài Nguyên (Resources Fair 2002) ngày 9/6/2002 ở San Jose Bắc Cali, gian hàng bán sách "Lá Bối" của thầy Nhất Hạnh đã phải đóng cửa dẹp bỏ ra về vì sự chống đối của những người tham dự hội chợ!
.
Nhóm ủng hộ sách của thầy Nhất Hạnh trong đó có cặp vợ chồng giáo sư dạy đại học Berkeley mà cũng phải thốt lên: "..thật là cay đắng!"
.
Không cần tìm đâu cho xa, ngay chính trong đặc san "Lá Thư Làng Mai", của thầy, kỷ niệm năm đạo tràng Mai Thôn đầy hai mươi tuổi, phát hành ngày 12/2/2002 (tức là sau ngày khủng bố 11/9/2001 - 5 tháng),với tựa đề "Đi Như Một Giòng Sông" mở đầu cho tờ đặc san này, qua phần kể lại buổi thuyểt giảng tại nhà thờ Riverside New York, Lá Thư Làng Mai cũng đã thú nhận rằng: "Có một số những vị nhân sĩ trong giới lãnh đạo, chính trị, doanh nghiệp, trí thức đã tỏ ý yểm trợ Thầy (Nhất Hạnh) hứa sẽ có mặt để giới thiệu Thầy đêm đó, nhưng đã không đến được..." và theo sự giải thích của Làng Mai thì "lý do sâu xa không phải họ bận rộn mà vì họ biết tiếng nói ‘nhân bản’ của Thầy sẽ làm họ mất quần chúng mà quần chúng đang sôi sục hận thù, ai nấy đều muốn yểm trợ chiến tranh"(?) (trang 8)
.
Đặc biệt trong phần này khi nhắc đến câu chuyện Bến Tre, bài viết đã không đả động, đính chánh hay xác quyết gì đến con số "300 ngàn dân cùng tỉnh Bến Tre bị bom Mỹ hủy diệt chỉ vì 7 tên du kích bắn vài phát súng vô hại lên một chiếc phi cơ",mà thầy đã cho đăng trên tờ New York Times khiến cộng đồng người Việt khắp nơi phản ứng dữ dội , Làng Mai cho biết lúc đầu thầy chỉ chia buồn trên 1/4 trang báo New York Times với các nạn nhân , đồng thời bảo tin thầy sẽ giảng đề tài "Embrassing Anger" (ôm ấp và chuyển hóa hận thù), nhưng hôm sau, cũng nội dung tương tự lại được đăng nguyên trên trang 5 của tờ báo, phí tổn 40 ngàn đô la do "phật tử" New York và Vermont đóng góp(?).
.
Nếu những "phật tử" này mà là anh em Daniel và Philipp của dòng họ Berrigan, là Dave Dellinger hay phổ thông hơn là Tom Hayden, John Kerry, là vợ chồng cựu TT Bill Clinton thì số tiền 40 ngàn đô đăng báo cộng với phương tiện chuyên chở cho thầy là chiếc máy bay chỉ có 4 chỗ ngồi dành cho thầy và 3 phụ tá đi New York cùng chiếc limousine đưa thầy từ cư xá của đại chủng viện Union Theological Seminary sát đại học Columbia đến nhà thờ Riverside để thầy đi "Ôm ấp và chuyển hóa hận thù" thì quả thật những chi phí đó không nhằm nhò gì so với hậu quả to lớn mà thầy gặt hái được sau buổi thuyết giảng, cũng với đề tài này tại đại học Berkeley ngày 13/11/2001, ngay sau hôm khủng bố hai ngày: đó là cuộc xuống đường rầm rộ của sinh viên Berkeley vào ngày 20/9/2001 với khẩu hiệu "let us end the violence" và "no violence for violence", đến nỗi ông David Horowitz, "một tên tuổi lớn của phong trào phản chiến trong chiến tranh Việt Nam cũng đã lên tiếng kêu gọi sinh viên hãy suy nghĩ hai lần để đừng lập lại những sai lầm mà thế hệ của ông đã phạm phải, kết quả là đã đưa đến sự chiến thắng của bạo lực, và làm Việt Nam mất vào tay Cộng Sản."(Làng Văn số 219 – 11/2001).
.
Vào những thập niên 1960 thầy Nhất Hạnh đã tổ chức những cuộc diễn hành chống chiến tranh trên sân trường đại học Columbia ở Manhattan Nữu Ước trong suốt thời gian thầy du học ở Hoa Kỳ. Trở về Sài Gòn, và chỉ một thời gian sau, vào năm 1966, thầy lại trở ra hải ngoại với một sứ mạng là "kêu gọi hoà bình". Các linh mục, mục sư, giáo sư đại học , sinh viên học sinh, tất cả thầy đều đến gặp, kết thân và mời họ vào con đường vận động hoà bình. Mục sư Kloppenburg ở Đức, tận tụy giúp thầy in sách "Việt nam: Hoa Sen Trong Biển Lửa", giúp thầy tổ chức hội nghị hoà bình ở Paris và thầy còn cho biết trong văn phòng của vị mục sư này không treo ảnh Chúa mà chỉ treo ảnh thầy!!! Sư cô Chân Không ca tụng thầy như là một "đại sư", một nhà văn hóa", thậm chí có tác giả còn dùng chữ "Người" khi viết về thầy. Chẳng hạn như "Năng lực sáng tạo ngôn ngữ của Người rất thần kỳ. Người nặn nó ra rồi hà hơi vào cho nó lên đường đi vào nhịp sống văn hóa hiện tại"?!!! (Lá Thư Làng Mai-trang39).
.
Đệ tử, một số thương thầy đã cho rằng người tu hành luôn luôn tha thứ không hận thù nên ghét chiến tranh. Lập luận này không có gì sai trái cả. Ngay trên tuần báo L’ Express, Jean Sebastien Stehli cũng đã viết và được Làng Mai dịch ra rằng: " Ông (Nhất Hạnh ) không theo miền Bắc, cũng không theo miền Nam vì ông rất chán ngán chiến tranh". Sự thật không phải vâ.y. Trong quyển " Việt Nam: Hoa Sen Trong Biển Lửa" (VietNam: Lotus In A Sea Of Fire), xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1967 ngoài những câu chuyện chống Mỹ, nói xấu VNCH, thầy Nhất Hạnh còn viết: "Hồ Chí Minh là người Anh Hùng dân tộc" (Ho Chi Minh, A National Hero- page 52) và Ngô Đình Diệm là "người Công Giáo Độc Tài" (Ngo Dinh Diem , A catholic Dictator - page 55).
.
Vì muốn đề cao Hồ Chí Minh là anh hùng dân tộc nên khi nhắc đến vua Bảo Đại và tổng thống Ngô Đình Diệm thầy Nhất Hạnh luôn luôn dùng kèm theo mấy chữ "bù nhìn vô hồn của Pháp", "bù nhìn vô hồn của Mỹ". Thầy đưa ra bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, toàn dân đứng lên thành lập các đoàn thể, tổ chức chống Pháp từ nam phụ lão ấu kể cả các tôn giáo, và trong sự suy nghĩ của họ lúc bấy giờ, theo thầy Nhất Hạnh, thì "Hồ Chí Minh là anh hùng dân tộc đã cầm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, chỉ trừ một nhóm rất nhỏ, còn thì không ai nghĩ rằng ông ta là cộng sản".
.
Lịch sử cho thấy nước ta bị Tàu đô hộ liên miên, các vua quan nhà Trần, nhà Lý, nhà Lê phải lên đường chống ngoại xâm tạo nên nhiều chiến công hiển hách. Sau những trận chiến thảm khốc chống ngoại xâm như thế các vua đều một lòng lo cho dân ấm no hạnh phúc, sống trong cảnh thanh bình thịnh vượng, tạo nên nhũng trang sử vàng son cho đất nước! Như Lê Lợi năm xưa, đã đổ bao xương máu trong mười năm kháng chiến chống quân Minh. Giả sử sau khi đánh đuổi được giặc Minh, Lê Lợi lên ngôi mà lại cai trị hà khắc, quay qua giết hại dân lành kể cả những người đã từng theo mình nằm gai nếm mật, ban hành những sắc lệnh bỏ tù không xét xử tất cả những ai không đồng quan điểm với mình, sát hại các tín đồ tôn giáo, cướp lột tài sản của dân, làm cho đất nước tiêu điều, lòng dân ai oán ... thì liệu người đời sẽ gọi Lê Lợi là "Anh Hùng" hay "Bạo Chúa"???... .
.
Một người xa nước ba mươi năm mà khi về quê hương, ngay ngày đầu tiên đặt chân đến Pác Bó, tỉnh Cao Bằng (sát biên giới Việt Trung) lại đặt tên ngọn núi này là núi Karl Marx, con suối kia là suối Lenin, đến khi sắp chết mà lại trăn trối chỉ mơ ước được về với bác Lê, bác Mác, là những ông tây mắt xanh mũi lõ mà không nhắc nhở gì đến quê cha đất tổ của mình thì có thể gọi người đó là người có tinh thần dân tộc hay không?.
.
Bảo rằng Hồ Chí Minh là người yêu nước vì đã đánh đuổi ngoại xâm là quyền suy nghĩ của mỗi người, nhưng câu hỏi cần đặt ra là ông ta yêu đất nước nào? Ông ta đâu có yêu đất nước Việt Nam, đâu có yêu dân tộc VN, vì nếu yêu thì ông ta đã không thủ tiêu những người đứng lên chống ngoại xâm như ông ta, đã không giết hàng chục ngàn người kể cả những người đã từng theo ông ta đi kháng chiến chỉ vì gia đình họ có vài mẫu ruộng, dăm con bò, ba con trâu!? Đất nước của ông ta là thế giới đại đồng, trong đó Liên Xô là ông anh "vĩ đại", Trung Quốc là bà chị hiền "dấu yêu" đã dạy dỗ làm "gương sáng" cho ông ta noi theo, thành lập chuyên chính vô sản để "tiến nhanh tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội". Vì thế cho nên bồi bút Tố Hữu mới nịnh bợ một cách trơ trẽn rằng :
"Sta-lin ! Sta-lin !
Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Sta-lin !
Khi nghe tin ông Tổ qua đời Tố Hưũ cùng Hồ Chí Minh và Đảng CSVN kêu gào thảm thiết:
Hôm qua loa gọi ngoài đồng
Tiếng loa xé ruột xé lòng biết bao
Làng trên xóm dưới xôn xao
Làm sao, Ông đã? làm sao, mất rồi!
Ông Sta-Lin ơi ! Ông Sta-Lin ơi!"
Hỡi ôi Ông mất ! Đất trời có không ?
Thương cha thơng mẹ thương chồng
Thương mình thương một, thương Ông thương mười
.
Nếu cho rằng cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm là nhà độc tài thì tại sao các vị tu sĩ phật giáo chống chính quyền lúc đó lại phải đợi đến sau năm 1975 mới bị đánh đập chết trong tù cộng sản (17/10/1975) như Thượng Tọa Thích Thiện Minh, mới bị CS tiêm thuốc độc cho chết (4/1984) như Hòa Thượng Thích Thanh Trí? mới bị giết (2/4/1984) như Hoà Thượng Thích Trí Thu, mới bị lưu đày quản thúc hiện nay như quí Thầy Huyền Quang, Quảng Độ, Tuệ Sĩ, Không Tánh v.v... và ngày hôm nay (8/10/2003) các vị lãnh đạo của Giáo Hội PGVN Thống Nhất đang bị trù dập, bị chận xe và vu cáo cho hai Hòa Thượng Huyền Quang và Quảng Độ lưu trữ "tài liệu bí mật quốc gia", đồng thời bắt ba vị Thượng Tọa Thích Tuệ Sĩ, Thích Thanh Huyền, Thích Nguyên Lý với cáo buộc "vi phạm luật lệ an ninh quốc gia". Phật Giáo bị cộng sản đàn áp từ 1975 đến nay mà sao chưa bao giờ thấy thầy Thích Nhất Hạnh nói lên một lời công đạo? Phải chăng thầy đã "nhập nhằng" chen vào những cuộc vận động đòi bình đẳng tôn giáo vào thời điểm 1963 để mưu đồ "chống Mỹ cứu nước"??? Không riêng gì Phật giáo mà kể cả bên công giáo như linh mục Nguyễn Ngọc Lan, linh mục Chân Tín, linh mục Nguyễn Văn Vàng cũng cùng chung số phận.
Tại miền Nam, một số trí thức chống đối như bác sĩ Nguyễn Đan Quế, giáo sư Đoàn Viết Hoạt, thế mà con đường học vấn của họ đã không bị ngăn cản mà họ còn được đi du học và chỉ phải đợi đến khi sống dưới chế độ cộng sản họ mới bị "rũ tù"?! Thê thảm nhất là sinh viên Đoàn Văn Toại , vào thời đó đã xách động đám sinh viên biểu tình chống Mỹ gây rối loạn, cũng tưởng về sẽ được cộng sản thưởng công nào ngờ lại vào nằm nhà đá cũng chỉ vì không đồng quan điểm đánh tư sản của Đỗ Mười, đển nỗi người mẹ đau nặng phải chết vì phường khóm không cấp giấy phép cho bà vào nhà thương chữa bệnh, lý do bà có con ở tù với tội danh "bất đồng chủ trương của nhà nước"! Chính Lá Thư Làng Mai của thầy cũng công nhận rằng trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội do thầy Nhất Hạnh thành lập tại SàiGòn đã phát triển nhanh chóng. Năm 1966 thầy lại đi một vòng ra nước ngoài vận động chống chiến tranh lên án Mỹ và VNCH, chính quyền VNCH tuy không cho thầy về nước nhưng ngôi trường của thầy vẫn hoạt động và chỉ bị cấm đoán bởi CSVN sau năm 1975 mà thôi !
.
Nêu lên những bằng chứng cụ thể như vậy để thấy thầy Nhất Hạnh lúc đề cập đến chiến tranh VN thầy đã thiếu hẳn sự vô tư. Khi viết về Hồ Chí Minh thầy đã không nhắc nhở gì đến chuyện thủ tiêu những thành phần trong các đảng phải chống Pháp, nhất là giết người hàng loạt trong chiến dịch "cải cách ruộng đất" mà giới trí thức hồi đó gọi là cuộc "ám sát tập thể" Trong khi đó thầy lại đem câu chuyện thống nhất Nam Bắc qua lời của cộng sản rằng: "Tổng tuyển cử mà được tiến hành thì đất nước sẽ thống nhất trong hoà bình dưới sự lãnh đạo của anh hùng dân tộc Hồ Chí Minh, và sẽ không còn chiền tranh du kích nữa".
.
Thật ra hiệp định Geneva 54 chia đôi đất nước có phân định rõ ràng là mỗi bên theo thể chế của mình và phải tạo cho được một nền dân chủ thật sự để đi đến cuộc tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam Bắc. Miền Bắc dưới sự cai trị tàn bạo của Hồ Chí Minh cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất gây bao nhiêu hãi hùng cho người dân, thử hỏi nếu tổng tuyển cử thì có ai dám không bỏ phiếu cho Hồ Chí Minh hay không?. Đã độc tài, không tự do dân chủ lại đông dân hơn, thì tổng tuyển cử chỉ là con đường ngắn nhất để Hồ Chí Minh thôn tính miền Nam mà thôi. Những gì thầy Nhất Hạnh mang ra vận động cho "hoà bình" tại hải ngoại lúc đó chỉ làm cho phong trào phản chiến lớn mạnh và đóng góp vào sự mất miền Nam VN !
.
Suy nghiệm , những điều thầy làm có thể người ta nghĩ rằng thầy không sống ở miền Bắc, lại không ở miền Nam sau 1975, và là một nhà tu hành cho nên quan niệm chống chiến tranh của thầy có thể tha thứ được. Thế nhưng sau năm 1975 nếu CSVN không hận thù độc ác qua nhiều chiến dịch liên tiếp như đánh tư sản mại bản, đánh tư sản dân tộc (tiểu thương), tập trung tù cải tạo theo nghị quyết 49NQ/TVQH ký dưới thời đại Hồ Chí Minh ngày 20/6/1961, tịch thu tài sản người dân, đẩy họ lên vùng "kinh tế mới" khủng bố bắt bớ tù đày thì người dân đâu có phải lựa chọn con đường nguy hiểm "thà vùi thân dưới lòng biển cả còn hơn sống dưới chế độ CS" mà chính thầy cũng đã cùng sư cô Chân Không, từ những năm 1975 đến 1982 đã thuê thuyền tổ chức những cuộc cứu vớt thuyền nhân trên biển cả mà trong cuốn sách "Thử Tìm Dấu Chân Trên Cát" sư cô Chân Không đã kể lại rất rõ ràng. Điều này chứng tỏ rằng thầy đã hiểu được cộng sản, đã thấy được sự dã man tàn bạo của chúng, cũng như các nước phương tây trước kia ủng hộ CS thì nay đã thức tỉnh. Ấy thế mà sau ngày 9/11/2001 thầy vẫn chưa tỉnh mộng, trong khi cả nước Mỹ bàng hoàng đau đớn về hành động dã man của quân khủng bố thì thầy lại cho nổ tiếp một "quả bom" ngay trên tờ báo New York Times, một tờ báo lớn có nhiều độc giả nhất nước Mỹ rằng "300,000 dân và tỉnh Bến Tre đã bị bom Mỹ hủy diệt". Rõ ràng là thầy đi ngược lại những gì thầy đã giảng, thầy trở nên ác độc bởi câu chuyện hoàn toàn bịa đặt, để bênh vực cho kẻ ác, lại được phóng ra từ miệng của một nhà Sư vẫn thường đi thuyết pháp, giảng dạy cho người đời là "phải biết lắng nghe với cái tâm từ bi, đừng ôm ấp hận thù"!!! Phật tử và những ai từ trước đến nay vẫn bao che chống đỡ cho thầy giờ đây chắc phải công nhận ông David Horowitz là đúng khi, trong lá thư kêu gọi "những kẻ biểu tình phản chiến hãy suy nghĩ lại" đã viết rằng: "Tôi nói cái gọi là phong trào phản chiến" bởi vì trong lúc nhiều người Mỹ thành thật bận tâm tới nỗ lực chiến tranh của Hoa Kỳ thì những kẻ tổ chức phong trào phản chiến lại là những kẻ theo chủ nghĩa Mác Xít, những kẻ cấp tiến, đã ủng hộ chiến thắng của cộng sản và sự thất trận của Hoa Kỳ. Ngày hôm nay cũng chính những kẻ đó và giới trẻ theo đuôi họ đang tổ chức những cuộc biểu tình nhằm ngăn trở nỗ lực của Hoa Kỳ bảo vệ công dân mình trước lòng thù hận chống Mỹ, trước những lực lượng khủng bố quốc tế đã gây ra vụ tấn công11 / 9/2001".
.
Chưa hết, sau vụ "Bến Tre" thầy vẫn tiếp tục con đường "chống Mỹ cứu nước" của mình. Nhiệm vụ của thầy không phải chỉ truyền bá đạo Phật thuần túy của một nhà sư mà thầy còn làm công tác của một ngươi phản chiến. Thầy "hướng dẫn thực tập kỹ càng cho những cựu chiến binh Hoa Kỳ để họ gia nhập vào những công tác của các hội bảo trợ những dự án hoà giải, giữa những cựu chiến binh trong cuộc chiến với người dân nạn nhân cuộc chiến, như xây cất trường học, bệnh xá v.v.. Chả thế mà một cựu chiến binh Hoa Kỳ đã nói rằng: "Tôi bắt đầu được nghe nói về thiền sư Thích Nhất Hạnh khi tôi trở về Hoa Kỳ và tôi cũng bắt đầu chống chiến tranh VN" (Lá Thư Làng Mai- trang 19)
.
Rõ ràng nhất là ở phần cuối của Lá Thư Làng Mai trong tiểu mục "Góp nhặt hoa lá" gom góp những mẫu chuyện vụn vặt do sư cô Chân Không ghi la.i. Sư cô Chân Không tên là Cao Ngọc Phượng, em của nam ca sĩ Cao Thái (Pháp), nguyên là giáo sư đại học khoa học tại Việt Nam. Trong bài viết "Ngày Em Hai Mươi Tuổi" thầy Nhất Hạnh viết về sư cô như sau: "Sư cô Chân Không, trước khi rời Việt Nam để qua giúp tôi, đã làm việc coi trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội rất đắc lư.c. Và sư cô Chân Không đã có mặt với tôi bắt đầu từ năm 1968 cho tới bây giờ, đã yểm trợ tất cả công tác về hoà bình, về xã hội của tôi một cách liên tục, không có một giây phút nào ngưng nghỉ, không có một giây phút nào thối chí và muốn bỏ cuộc. Cố nhiên là tôi có rất nhiều các bạn và các đệ tử khác nhưng có người đã bỏ cuộc nửa chừng bởi vì trên con đường tranh đấu cho hoà bình, nhân quyền và xây dựng tăng thân có rất nhiều hiểm nguy, khó khăn và trở ngại. Có thể là vì có những khó khăn nội tâm hay khó khăn ngoại cảnh mà nhiều người phải bỏ cuộc nhưng sư cô Chân Không đã đi bên tôi từ đầu đến cuối như một chiến hữu, chưa bao giờ có tư tưởng bỏ cuộc nửa chừng?". Xem như thế vai trò của sư cô Chân Không rất quan trọng nếu không nói là nắm toàn bộ tài chánh cùng mọi sinh hoạt xã hội chính trị của Làng Mai.
.
Trở lại phần cuối của Lá Thư Làng Mai: "Góp nhặt hoa lá" gồm nhiều mẫu chuyện ngắn có nội dung tương tự do sư cô Chân Không ghi la.i. Tiêu biểu là câu chuyện "Cái thấy từ trên trực thăng cao với cây súng máy và sự thật trước một rừng xác người". Chuyện kể rằng: Tom sinh ra trong một gia đình Hoa Kỳ mà bố mẹ say sưa nghiện ngập rồi đổ vỡ, bị đánh đập đối xử tàn nhẫn. Lớn lên bị mẹ và bà ngoại sờ mó hãm hiếp, tìm đến cha thì bị hất hủi vì cha có vợ khác Tom tình nguyện vào lính. Ở trường Võ Bị Tom được huấn luyện rằng đàn bà (Việt Nam) còn giết Mỹ giỏi hơn cả đàn ông và trẻ con cũng là du kích, còn thầy tu, nhất là thầy tu Phật giáo (trọc đầu) cũng là việt cộng(?). Vì được huấn luyện như thế, lại là một tay thiện xa, Tom được phải đi hộ tống bằng trực thăng cho đoàn biệt động quân cho nên dưới họng súng của Tom thân người ngã quỵ hàng loa.t. Tom đã tàn sát suốt mấy mươi cây số trọn năm làng. Thây người nằm sát đất cái lủng bụng, cái lủng ngực, cái lòi óc, em bé vài tháng đang gục đầu vào ngực mẹ mà chết, gương mặt cậu bé mười bốn tuổi chết trong tư thế há mồm kinh ngạc v.v.. Nhảy xuống từ trực thăng Tom nhìn, chợt rùng mình hoảng hốt. Tom sống 24 năm trong sự sợ hãi cho đến ngày gặp sư ông (Nhất Hạnh) trong khoá tu tổ chức cho hơn 100 cựu chiến binh Hoa Kỳ. Tại Paris Tom được anh của sư cô Chân Không là Cao Thái đưa đi "tham quan" khắp nơi. Lúc đầu Tom tự hỏi tại sao mấy ông "thầy chùa việt cộng" này (vì được tuyên truyền như thế) lại tử tế với mình quá vậy? Có lẽ họ đưa mình ra toà án tội ác chiến tranh chăng ?. Nhưng sư cô Chân Không và Sư Nhất Hạnh đã đưa Tom trở về "con đường chính". Đó là phát nguyện đi từ thành phố này đến thành phố khác, họp mặt nói chuyện với các cựu chiến binh Hoa Kỳ giúp họ đỡ đau khổ! (theo nội dung của bài là vì họ đã gây quá nhiều tội lỗi ?) Ngoài câu chuyện của Tom, còn có chuyện của Betty, của Lewis, của Jack cũng bị bố bị mẹ hãm hiếp rồi gây tội ác, sau cùng quy y và được thầy và sư cô chỉ dạy cho để mà "chuộc tội".
Thầy Nhất Hạnh cũng như những tài liệu viết về thầy của những nhà báo ngoại quốc thường rêu rao rằng thầy muốn trở về quê hương nhưng chỉnh quyền miền Nam kể cả miền Bẳc và ngay bây giờ cộng sản VN vẫn không cho thầy về. Sự thật VNCH mà không cho thầy về từ năm 1966 vì thầy đã chống miền Nam trong tất cả các diễn đàn mà thầy tham dự trên thế giới . Nhân chứng còn đây, giáo sư Trần Đức Thanh Phong, trên diễn đàn hội luận của đài Sống Trên Đất Mỹ, nhân câu nói của thầy về vụ Bến Tre, đã cho biết rằng "Tháng 12 năm 1970 tôi (gs Phong) được dự thính International Conference on Peace and Religion tại Tokyo Nhật Bản với đại diện 60 quốc gia. Nhà tu hành Thích Nhất Hạnh đã xử dụng diễn đàn để tấn công, mạt sát miền Nam và "đế quốc Mỹ xâm lăng. Ông ăn nói quá quắt đến nỗi đại diện của Thụy Sĩ đã phải lên diễn đàn đặt vấn đề: tại sao CS Bắc Việt xâm lăng miền Nam mà ông ta không nói tới ?."
.
Còn CSVN mà không cho thầy về thì có gì đâu mà gọi là khó hiểu. Để thầy về dù chỉ về thăm thôi thì những bài thuyết pháp của thầy như vụ 300 ngàn dân Bến Tre hay câu chuyện người cựu chiến binh Hoa Kỳ tên Tom kia sẽ không còn "nặng ký" nữa , đó là chưa kể thầy sẽ đánh bại "cái xác khô nằm nơi Ba Đình" là cái chắc, đã thế nếu thầy về thì CSVN lại mất toi đi mỗi tháng 50 ngàn đô la do thầy gửi vê giúp người nghèo. Bên cạnh câu chuyện của Tom là bài viết "tiếp xúc và tiếp trợ". Sư cô Chân Không cho biết những gia đình trồng cà phê ở VN đã chết sững vì đổ nợ, cà phê xuống giá không ngờ, chủ vườn phá sản, nợ ngân hàng, nợ các chủ tiệm bán phân bón, thuốc trừ sâu .v.v. . nghèo khủng khiếp nhất là những người đi hái cà phê. Con cái họ ốm đói, không có trường học, chính vì thế mà sư ông (Nhất Hạnh) với "sứ mạng của một vị bồ tát đã khước từ Niết Bàn để ở lại độ người", hằng tháng đã gửi 50 ngàn đô la về giúp các vùng kinh tế mới.
.
Tại sao CS khuyến khích bằng cách cho vay để người dân trồng cà phê, nuôi cá basa sau khi có thương ước mậu dịch mà dân vẫn nghèo đói? Đó là do bàn tay cai trị của CS, chính vì CS muốn có "kinh tế thị trường nhưng theo định hướng xã hội chủ nghĩa" nên người dân tuy được tự do trồng cà phê, tự do mượn vốn nuôi cá basa nhưng lại phải bán sản phẩm cho các công ty thu mua của nhà nước và giá cả không theo thị trường mà theo sự chỉ định của các công ty này. Khi tư bản đỏ muốn chiếm lãnh thị trường cá basa ở Hoa Kỳ, chúng tự động bán phá giá trong khi đó lại dìm giá thu mua ở trong nước, giá cá basa đột ngột rớt xuống và giá cả nguyên liệu lại tăng lên, đã thế người dân lại phải chịu thêm thuế 5% trên số cá bán ra khiến họ phải cam kết với các công ty thu mua sẵn sàng bán với bất cứ giá nào! Nông dân, ngư dân phá sản, đổ nợ. Những người làm công đã phải kéo nhau lên vùng kinh tế mới kiếm sống qua ngày. Như vậy cái nghèo này đâu phải do thiên tai bão lụt như sư cô Chân Không đã đổ thừa?
.
Sư cô Chân Không quả thật không hổ danh là người con gái Bến Tre của chiến dịch "đồng khởi" và phải chăng vì "quê hương của chiến hữu mình cũng như của mình" nên nhà tu hành Thích Nhất Hạnh đã phạm tội "vọng ngữ", đó là một trong năm tội mà người phật tử phải tránh là: sát sanh, tà dâm, ẩm tửu (uống rượu), bất đạo (trộm cắp) và vọng ngữ (gian dối). Với một người bình thường nói dối để hại người đã là có tội huống chi là một vị tu hành, đã nói dối mà lại cứ đem trái tim từ bi của đức Phật ra để khuyên tín đồ mình phải tha thứ cho kẻ ác thì tội còn nặng gấp bô.i. Vẫn biết rằng tôn giáo nào cũng khuyên người ta đừng thù hận, phải biết tha thứ nhưng không phải vì thế mà tôn giáo không đặt ra “địa ngục, a tỳ” để trừng phạt, răn đe kẻ gian đối với mưu đồ hại người.
.
Qua những việc làm của Thích Nhất Hạnh, một phần nào chúng ta hiểu được vai trò của nhà sư này trong cuộc chiến VN và hôm nay đây cũng qua nhà sư với sự ủng hộ của nhóm Giao Điểm cùng với sự chống đối của Tú Gàn, chúng ta lại càng thấy rõ âm mưu thâm độc của cộng sản trong vấn đề "dùng tôn giáo tiêu diệt tôn giáo". Xin được góp ý về đề tài này trong một kỳ tới.
Bắc Cali - Viết trong những ngày Pháp Nạn tháng 10/2003.
.
Nhàn S.F.

Friday, December 11, 2009

Hãy Buông Ra



Hãy Buông Ra
.
Tôi nghe buổi Thuyết Pháp tại chùa Thiên Môn. Xin thuật lại để quí vị cùng nghe. Sau phần thuyết giảng, đến phần Pháp đàm. Thầy mời quí Phật tử đặt câu hỏi để cùng thảo luận.
.
Tận cuối hội trường, có một ông già, đứng dậy chắp tay cung kinh xin hỏi:
- Kính bạch thầy. Con hiện đang bị bệnh. Hết đau đầu đến đau khớp, đau thận, tiểu đường, cao huyết áp. Bây giờ lại bị bại một chân nữa ạ! Suốt đêm qua con trằn trọc mãi không sao ngủ được do bệnh nó hành hạ xác thân… Cúi xin thầy thương xót chỉ bảo cho con làm sao cho hết đau bệnh? Xin thầy cầu nguyện Đức Phật gia hộ cho con được hết bệnh, khỏe mạnh như xưa…
.
Thầy lên tiếng nhỏ nhẹ, thong thả nói: - Thưa bác, thưa đạo hữu. Đức Phật đã dạy: Cõi thế gian tràn đầy đau khổ! Trong đó có định luật: SINH, LÃO, BỆNH, TỬ thì đau khổ vô cùng mà bác thì đang đi vào giai đoạn “Bệnh tật”, tức giai đoạn “Hư hoại”. Vạn vật là thế; tất cả đều bị luật “Vô Thường” chi phối. Chẳng hạn như cái áo bác đang mặc, khi mới mua về, vẻ đẹp đẽ, mềm mại, óng mướt, tươi thắm… Nhưng nay bác mặc đã lâu rồi; màu đã bạc, gấu đã sờn, vai đã rách và vải đã mục. Nó đang ở tiến trình hư hoại! Không có gì có thể còn mãi được, vì bản chất tự nhiên là như vậy, mà thân xác bác cũng đang như vậy. Ngay khi bác mới sinh ra thì bác xinh đẹp, rồi bác lớn lên khỏe mạnh. Giờ đây bác đang già yếu và đang ở thời kỳ bệnh hoạn (Sanh, Trụ, Hoại, Diệt). Vậy bác phải chấp nhận điều đó, bác hãy thấu hiểu bản chất của nó, để bác phải chấp nhận nó mà sống an lạc với nó, dù nó ở bất cứ giai đoạn nào.
.
Bây giờ thân thể của bác đang bắt đầu suy yếu, hư hoại theo tuổi đời chồng chất. Thì bác đừng cưỡng lại điều đó, vì đó là qui luật tự nhiên của thân xác. Chân lý không bao giờ thay đổi đó là: Sinh ra > Già cỗi > Bệnh hoạn > Rồi chết đi! Không cách chi làm khác đi được. Thời gian vận hành của định luật đã chín mùi rồi đấy bác ạ! - -
.
Ông già đó nói tiếp:
- Bẩm thầy, nhưng con chưa muốn chết vội, vì con và cháu của con chưa khôn lớn. Nhất là còn nhiều công việc con đang làm dở dang chưa hoàn tất, con cần giải quyết cho xong đã.
.
- Ồ! Tất cả chỉ là vậy, bác chẳng làm gì khác hơn khiến bác phải lo lắng. Công việc của thề gian, bác hãy để mặc thế gian cho họ tự giải quyết lấy. Bác nên hiểu rằng: Giầu hay nghèo, già hay trẻ, đẹp hay xấu, người hay vật. Bất cứ ai, bất cứ vật gi, bất cứ ở đâu cũng không thể giữ mãi tình trạng nguyên thủy như lúc ban đầu được. Mọi người, mọi vật đều phải thay đổi khác đi theo một định luật: Sinh, Trụ, Hoại. Diệt mà không cách chi sửa đổi được. Điều mà bác có thể làm được là bác tự quán chiếu, soi rọi về thân xác và tâm thức của bác, để bác thấy tính: “Vô ngã” của vạn vật. Để không thấy có cái gì là “Tôi hoặc là của tôi”, mà chỉ là giả có, tạm có mà thôi (Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng. Cái gì có hình có tướng, đều là giả có, chứ không thật có). Ngay như nhà cửa, sự nghiệp, danh vọng, vợ, chồng, con cái của bác cũng chỉ là: “Của bác trên danh nghĩa, chúng không thực sự thuộc về bác. Chúng thuộc về tự nhiên!!! Như lời bác vừa cầu mong, chẳng những không đạt được. Thân bác vẫn đau đớn như thường và cách suy nghĩ sai lầm của bác còn đau khổ hơn nhiều nữa. Vì cầu mong mà không được là khổ (Cầu bật đắc khổ). Bởi vậy, bác phải nhìn mọi thứ đúng theo bản chất của nó và đừng níu kéo nó, đừng tiếc thương nó: “HÃY BUÔNG NÓ RA”. Bác hãy rũ sạch mọi thứ bên ngoài. Bác hãy “Buông ra!”. Bác đừng bám víu vợ, chồng, con cái, quyến thuộc, tài sản, công danh… Vì nhưng thứ đó bác không thể mang theo được, hoặc bác không “buông”, thì nó cũng phải “buông” bác mà thôi. Cho nên bác “Hãy Buông Ra!”, bởi mọi thứ đều Vô Ngã: “Không tôi và Không của tôi”. Tất cả rồi sẽ biến mất; chẳng còn gì. Bác phải nhận biết cho bằng được điều này, và sau khi biết rồi thì bác hãy ‘buông’ tầt cả. Đừng bận tâm về con cái, bây giớ chúng còn trẻ. Rồi mai này chúng cũng sẽ già cả y như bác ngày hôm nay. Không ai trên thế gian này có thể trốn thoát được định luật: sinh tru hoại diệt... Nếu bác “Buông ra” được mọi thứ thì bác mới thấy được chân lý. Vậy bác đừng lo lắng và đừng ôm giữ bất cứ điều gì thì bác sẽ thanh thản trong mọi tình huống bác ạ!
.
Ông già hỏi nữa:
- Bẩm bạch thầy, nghe thầy dạy dễ quá, nhưng làm sao con ‘buông ra’ cho được?
.
- Nếu bác ‘buông ra’ không được thì bác sẽ vô cùng đau khổ. Vì không ‘buông ra’ cũng chẳng được. Bởi mọi thứ nó không thuộc về của bác, kể cả chính xác thân bác nữa. Lúc này bác hãy tập trung tâm tưởng, để cho nó được an nhiên tự tại, còn mọi việc đã có người khác lo. Bác hãy tự nhủ lòng rằng: “Chung sự” (Tôi hết việc rồi )- Tư tưởng ham sống lâu sẽ làm bác đau khổ. Cho dù bác mong muốn thiết tha tới đâu cũng chẳng được. Muôn sự đều vô thường và luôn luôn không cố định… “Sau khi sinh ra > Nó biến hoại > Sau khi sinh ra > Nó diệt đi ! Đức Phật cũng thế, bác và cả bàn dân thiên hạ cũng đều như thế. Vậy mà bác muốn xác thân bác còn mãi sao được?
Bác hãy nhìn vào hơi thở thì biết. Nó đi vô rồi lại đi ra, bản chất của nó là vậy. Bác chẳng thể ngăn cản sự đi ra và đi vô của nó được. Bác thử nghĩ coi: “Có thể nào bác thở ra mà không thở vào được chăng?”. Tức là hơi thở nó đi vào, rồi nó lại đi ra. Khi nó ra rồi thì nó lại phải đi vào. Tự nhiên là như vậy, không cách chi làm khác được. Y chang sự quá trình bác sinh ra > rồi già nua > rồi bệnh tật > rồi chết đi! Đó là điều hoàn toàn tự nhiên và bình thường…
Nếu bác không sinh ra, thì lấy gì bây giờ bác bị đau bệnh! Và lấy gì để mai mốt bác chết! Bác có hiểu điều đó không ???
.
- Kính bạch thày, con ngộ được những gì thầy vừa dạy, nhưng con vẫn lo sợ quá chừng!
.
Thầy cầm ly nước uống nhấp giọng, đoạn thày nói thêm:
- Bác nên hiểu rằng: Vạn sự ở đời là như vậy, khi bác nhận thức được đúng đắn thì bác đừng do dự: “Hãy buông ra tất cả, hãy dẹp bỏ tất cả”. Dù bác không buông nó ra thì mọi thứ nó cũng bắt đầu buông bác ra đó. Này nhé! Như những bộ phận trong cơ thể của bác nó cũng đang muốn rời xa bác đấy. Vì những bộ phận ấy nó đã sống đủ thời hạn với bác rồi, nên nó sắp ra đi đó. Bản chất của nó là: “Đã đến, thì phải ra đi”. Bởi thế gian là không có sự bình thường hay mãi mãi, dù bất cứ ở đâu, bất cứ thời nào, bất cứ thành phần giai cấp nào; người giầu có, kẻ nghèo khó, người lớn cũng như trẻ nhỏ, người có học cũng như người thất học…v.v. Cũng không thể có sự bình thường được. Ai ai cũng phải xoay vần theo luật “Vô Thường” chi phối. Quán triệt được điều đó, bác sẽ chả còn quyến luyến bất cứ sự gì. Bác hãy ‘Buông ra” chứ không còn nắm giữ được nữa, ví có giữ cũng chẳng đặng. Bác buông ra, thì tâm bác sẽ thảnh thơi; không buồn mà cũng chẳng vui, không khiếp sợ và cũng chẳng liều lĩnh. Lúc bấy giờ lòng bác sẽ an ổn với trí tuệ hiểu biết: “Vạn vật không bao giờ có thể thường còn mãi mãi được”.
.

“ĐẶC TÍNH PHẢI ĐỔI THAY CỦA VẠN VẬT, KHÔNG BAO GIỜ THAY ĐỔI”.
.
Nếu bác có nhiều thứ, bác sẽ phải bỏ lại nhiều thứ. Nếu bác có ít thứ, bác sẽ bỏ lại ít thứ; giầu có là giầu có, nổi danh là nổi danh, sống lâu là sồng lâu… chẳng có gì khác biệt, mọi sự cũng thế thôi! Vậy bác hãy buông nó ra, buông cho đến khi nào tâm trí bác an lạc! Mọi sự bác không còn cảm thấy khổ đau hay sung sướng. Mọi- thứ bác không còn thấy là của bác nữa; Sung sướng và khổ đau cũng đểu Hoại, Diệt và Mất tiêu như nhau… Duy chỉ có một thứ là còn và còn vĩnh viễn là của bác. Đó là “Phật tánh” là vĩnh cửu của bác mà thôi.
.
- Kính bạch thầy, con đã ngộ!!!
.
- Vậy sao! Bác giải thích xem nào ?
.
- Thưa thầy, chỉ có định luật: Vô Thường” là bất biến, là vĩnh cửu, là thường còn. Ngoài ra, tất cả các Pháp; muôn vàn vạn sự ở đời này đều luôn luôn biến đổi không bao giờ ngừng. Chẳng hạn như:
*THÂN VÔ THƯỜNG: Nay khỏe mạnh, mai ốm đau. Nay đang sống, mai đã chết…
*TÂM VÔ THƯỜNG: Nay đang mến thương nhau, mai chuyển sang hận thù ân oán nhau…
*TÀI SẢN VÔ THƯỜNG: Của cải nay còn, mai hết. Tức là tiện nghi vật chất không thể tồn tại mãi được… Vật thể này biến đổi chất liệu thành ra vật thể khác. Sự vật không bao giờ cố định cả.
.
Thầy cười hoan hỷ, đoạn thầy hỏi:
- Đúng, bác hiểu khá đấy, như vậy bác sẽ làm gì khi bác hiểu như vậy?
.
- Kính bạch thầy, con sẽ buông ra tất cả mà không bám víu vào bất cứ điềi gì trên thế gian này. Để mọi sự chảy suôi như dòng nước. Tính của nước luôn chảy xuống chỗ chũng (thủy lưu tại hạ), dù chỗ đó là đất hay cát, hoặc ruộng vườn. Bản chất của nước là như vậy, con cũng phải giữ tâm như vậy. Tại sao? Bẩm thưa thầy, bởi nước luôn chảy một cách tự nhiên xuống chỗ thấp mà không có cách nào cho nó chảy một cách tự nhiên lên trên cao được. Đó là định luật của càn khôn vũ trụ mà thầy vừa chỉ dậy cho con.
.
- Vâng! Bác hiểu được như thế, tức là bác đã thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ của bác rồi đấy. Bây giờ chỉ còn một điều là bác đưa vào thực hành những gì bác vừa chứng ngộ là đạt quả Phật rồi đó.
.
Ông già ngạc nhiên thưa:
- Kính thưa thầy, con ngỡ là thành Phật khó lắm chứ! Đâu đơn giản như thầy vừa nói ?
.
- Phật đã có sẵn ngay trong bác rồi. Nguời đời thường mang ông Phật thật, đi tìm kiếm ông Phật ơ ngoài, ở chốn xa xôi không sao thấy được, để cầu xin van vái… Trong lúc ông Phật ở ngay trong mình thí lại bỏ quên.
.
- Bạch thầy, con vốn ngu tối xin thầy khai thị cho con được rõ ràng hơn, chứ thầy nói như thế làm sao con hiểu được.
.
- Có khó gì đâu: “Phật Tức Tâm”. Mọi người trong chúng ta đã có sẵn một ông Phật ở trong ta rồi. Nhưng vì u mê tăm tối, nên tham lam: Sắc, Tài, Danh một cách vô độ mà không hiểu rằng những thứ đó do nhân duyên giả hợp tạm có. Hợp rồi tan, sinh rồi diệt! ngay như xác thân bác cũng tạm có đó. Rồi trở thành không đó có bao lâu! Tựa hồ như bóng phù du, như ào ảnh, như khói sương… Nhưng vì si mê chạy theo níu kéo nó. Nên thành chúng sinh mà thôi. Bây giờ bác đã giác ngộ và bác buông ra những thứ mà trước đây bác bám víu vì ngỡ là thật… Vậy là bác đã thành Phật rồi. Bởi Phật và Chúng sinh chỉ khác nhau có một bước:
.
MÊ LÀ CHÚNG SINH, GIÁC NGỘ LÀ PHẬT
.
Phật và chúng sinh, chỉ khác nhau có vậy. Ví dụ: Ông bà thân sinh ra bác, cho bác ăn học tới nơi tới chốn; là con người trí thức đàng hoàng... Nhưng vì u mê! Bác ham chơi, đàn đúm với chúng bạn, sa đà say sưa trác táng, hưởng thụ thú vui vật chất, dẫn đến sa đọa hư hỏng. Khi ấy, bác là kẻ tồi tệ xấu xa… Nay gặp duyên may bác giác ngộ. Thấy được lẽ thật. Bác bỏ con đường hư thân mất nết, trở lại con người thật của mình… Với bằng cấp và kiến thức có sẵn của mình. Bác tận tụy làm ăn, liêm chính, giữ uy tín đạo đức… Là bác trở thành người cao sang, quí phái… Như vậy, một con người của bác có hai giai đọan:
.
a) Giai đoạn 1: Bác là kẻ xấu xa, cho dù bác có bằng cấp là người học thức.
b) Giai đoạn 2: Bác là người cao quí. Do bác giác ngộ được chân lý đạo Pháp…
.
Tức là trước thì bác kà kẻ xấu xa do u mê! Sau bác thành người cao quí do bác giác ngộ. Nghĩa là xấu xa hay cao quí chỉ khác nhau có u mê hay giác ngộ mà thôi. Và Phật hay chúng sanh cũng chỉ khác nhau có thế…
.
Đoạn thầy đọc bài kệ :
.
Chiều nay lộng gió thu về
Lá vàng tơi tả tràn trề khắp nơi.
Đời người như hạt sương rơi .
Lung linh một thoáng mặt trời chiếu tan .
Thân em nhưđóa hoa lan
Ngươì đời yêu thích muôn vàn đắm say
Nhưng rồi chẳng được bao ngày

Cánh hoa tàn úa đổi thay hoàn toàn.
.

Thursday, December 10, 2009

Melbourne - Cờ Vàng VNCH bị bọn Việt Gian đốt




Cờ vàng VNCH tại Tượng Đài Tri Ân & Tưởng niệm Thuyền Nhân Việt Nam ở Melbourne bị Việt gian đốt rụi
.
VKTNVN, 11-12-2009, Melbourne. Gần trưa ngày 10 tháng 12 - 2009 được tin báo của thân hữu, trên đường đi làm, chạy xe ngang qua tượng đài anh phát giác lá cờ trên tượng đài đã bị đốt, cán cờ nghiêng lệch. Anh vòng xe lại, đến tận chỗ để quan sát và chụp hình bằng điện thoại cầm tay. Chiều cùng ngày, sau khi đi làm về Ông Trần Đông, Giám đốc tổ chức Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam Úc Châu đã đến tận nơi quan sát. Cán cờ bằng sắt được bắt ốc thật chặt vào đế bằng thép không rỉ dày 5 ly, cán cờ bị kéo lệch một bên. Điều đó cho thấy kẻ gian đã cố tình giựt mạnh cho rách lá cờ. Vì lá cờ bằng ny-lon khá chắt, kẻ gian không kéo rách được nên đã dùng lửa đốt cháy. Ny-long cháy đen co rúm lại và bám vào cán cờ.
.
Tượng Đài Tri Ân & Tưởng niệm Thuyền Nhân Việt Nam tại Melbourne tọa lạc trong Jensen Reserved Park, nằm ngay góc đường Farnsworth Ave và Meyers Rd, Maribyrnong, Victoria. Đó là một địa thế rất đẹp. Tượng đài hướng ra biển, bên phải là một dãy đồi, phía trước mặt là trường Đại học Victoria University, bên hông phải là Footscray Secondary School, bên trái là dòng sông chảy ra biển và trường đua ngựa. Văn võ và sông núi ứng hầu hai bên. Tượng đài hình cánh buồm trên chiếc ghe thấp lè tè dưới mặt biển là bãi cỏ xanh rì của công viên đã được khánh thành nhân kỷ niệm ngày Quốc Tế Tỵ nạn vào tháng 6-2008. Lễ khánh thành được vinh hạnh đón Ông Quyền Thủ hiến Victoria, thủ lãnh Đảng Đối lập, Ông Tổng Thư ký Quốc hội Tiểu bang, Thị trưởng Thành phố Maribyrnong cắt băng khánh thành. Ngoài ra còn có nhiều nhân vật chính trị tiểu bang và đại diện các hội đoàn đoàn thể trong Cộng đồng người Việt cùng tham dự. Hai ngày sau khi khánh thành, nhân kỳ họp Quốc Hội, sự kiện Tượng đài Thuyền nhân được Ông Tổng Thư ký trình bày tại Quốc Hội và được Quốc hội công nhận để ghi vào Biên niên sử của Tiểu bang. Tượng Đài chính thức trở thành di sản và tài sản của Tiểu bang.
.
Đây là lần thứ hai lá cờ vàng tại Tượng Đài bị kẻ gian phá hoại. Lần thứ nhất xảy ra vào tháng 10 năm 2009, lúc ấy cờ bị xé. Lần thứ hai này kẻ gian đốt cờ. Kẻ gian đốt lá cờ vàng của Việt Nam Cộng Hòa không ai khác hơn là những tên tay sai nằm vùng của chế độ Cộng Sản Việt Nam. Hành động phá rối này dù nhỏ nhưng hàm chứa những ý nghĩa vô cùng to lớn mà chúng ta cần ý thức rõ và không thể bỏ qua:
.
1- Chúng ta đã không chấp nhận sự thống trị của những người Cộng Sản và đã chạy xa họ hàng ngàn cây số, họ vẫn cố bám theo chúng ta. Bằng tiền bạc chúng ta gửi về, CSVN nuôi dưỡng tay sai để theo dõi và phá rối Cộng đồng Việt Nam tại khắp nơi. Việc treo bất cứ lá cờ nào tại Australia là quyền tự do của cộng đồng người Úc gốc Việt, CSVN không có quyền can thiệp.
.
2- Năm 2005 CSVN đã áp lực chính phủ Indonesia và Malaysia triệt hạ hai bia tưởng niệm thuyền nhân tại hai quốc gia này, mặc dù hai bia tưởng niệm được xây dựng để tưởng niệm người chết trên hai hoang đảo không có người. Năm 2006 và 2007 CSVN áp lực Malaysia và Indonesia không được tổ chức tiếp đón long trọng các phái đoàn người Việt hải ngoại. Năm 2008 CSVN áp lực chính quyền tiểu bang Queensland xoá bỏ lời hứa xây dựng bia tưởng niệm thuyền nhân tại nơi này. Năm 2009 CSVN áp lực chính phủ nước Đức không cho đồng hương tại Hambourg xây dựng Tượng Đài Thuyền Nhân, cũng trong năm này CSVN áp lực Indonesia dẹp bỏ di tích trại tỵ nạn Galang. Trong vòng 4 năm qua, CSVN vẫn luôn theo đuổi chính sách thù nghịch đối với cộng đồng hải ngoại trong khi luôn miệng dụ dỗ những người non dạ bằng những thuật ngữ tuyên truyền như Việt Kiều là khúc ruột ngàn dặm, hoan nghênh Việt Kiều về nước và kêu gọi hải ngoại ra sức dồn tiền dồn của về đầu tư tại quê nhà, ...
.
3- Bằng sự phá hoại và khuấy rối tại nơi cư ngụ của chúng ta ở Australia, Toà Lãnh sự, Tòa Đại sứ, Bộ Ngoại Giao cùng bộ máy hành chánh kềm kẹp khổng lồ tại VN đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Australia, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Australia và có ý đồ khuấy rối sự an cư lạc nghiệp của cư dân Úc gốc Việt tại Victoria nói riêng và tại Australia nói chung.
.
4- CSVN tuyên truyền rằng “lực lượng thù địch nước ngoài luôn nuôi lòng thù hận” trong khi chúng ta là những người đã cao chạy xa bay, chúng ta hoàn toàn không xâm phạm độc quyền thống trị của CSVN, sự kiện CSVN cắt cử tay sai đánh phá cộng đồng người Úc gốc Việt là một bằng chứng hùng hồn cho thấy từ sau khi hòa bình lặp lại, đã qua 35 năm, CSVN là kẻ vẫn luôn nuôi dưỡng lòng hận thù, bằng tiền của và thế lực của một quốc gia, CSVN luôn tìm cách khống chế người Việt hải ngoại để bốc lột và kềm kẹp như đã bốc lột và kềm kẹp người Việt trong nước từ 1945.
Do những sự kiện nêu trên tổ chức Văn Khố Thuyền Nhân tại Úc tố cáo trước dư luận thế giới và thông cáo cùng toàn thể người Việt hải ngoại trong và ngoài nước rằng:
.
1- 35 năm qua CSVN là chế độ luôn nuôi dưỡng lòng thù hận đối với người Việt hải ngoại bằng những tên gọi như “thế lực thù nghịch nước ngoài”, phân biệt đối xử đối với những gia đình có thân nhân hải ngoại, người Việt về nước phải xin phép và đóng tiền VISA trong khi người Hoa thì được tự do ra vào, không đóng tiền xuất nhập cảnh và không cần xin phép.
.
2- CSVN thông qua hệ thống Tòa Lãnh sự và Tòa Đại sứ, duy trì sinh hoạt Đoàn Đảng một cách trái phép tại hải ngoại, nuôi dưỡng lực lượng tay sai một cách bí mật phá hoại sự an cư lạc nghiệp của cộng đồng hải ngoại, luôn tìm cách bóc lột và kiểm soát cộng đồng hải ngoại một cách tinh vi với âm mưu biến cộng đồng này thành lực lượng cung cấp tiền bạc cho thế lực cầm quyền qua các hoạt động từ thiện và tôn giáo do họ kiểm soát và tổ chức.
.
3- BCH CĐNVTD Victoria sẽ cùng tổ chức VKTNVN chính thức thông báo sự kiện này đến Quốc hội Victoria, đến Cảnh Sát, đến Hội đồng Thành phố, đến Bộ Ngoại giao Úc, đến các cơ quan an ninh hữu trách khác và đến tất cả Cộng đồng Việt Nam trong và ngoài nước để biết và để cảnh giác những âm mưu khuấy rối khác nhắm vào cộng đồng người Việt hải ngoại do Toà Lãnh sự, Tòa Đại sứ và Bộ Ngoại Giao VN âm thầm thực hiện.
.
4- BCH CĐNVTD Victoria cùng tổ chức VKTNVN sẽ hợp tác chặt chẽ với cơ quan hữu trách, bằng kỹ thuật hiện đại, chúng ta sẽ bắt được kẻ gian đền tội trước công lý và lột mặt nạ kẻ chủ mưu lớn ở phía sau.

Tài liệu & Hình ảnh liên quan đến Tượng Đài Tri Ân & Tưởng niệm Thuyền Nhân Việt Nam tại Melbourne

http://www.vnbp.org/vietnamese/memorial/monuments/victoria/VBPMindex.htm



Wednesday, December 9, 2009

CSVN Điên Cuồng Phản Đối Nghị Quyết Cờ Vàng & Tượng Đài Tại Tiểu Bang Washington

Nhân vụ Thuợng Nghị Si Tiểu Bang là Pam Roach đưa ra hai nghị
quyết tại Thuợng Viện Tiểu Bang. Nghị quyết thứ nhất là công
nhận lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa cũ; nghị quyết thứ hai ủng hộ
dự án xây tuợng đài tại tiểu bang Washington kỷ niệm các chiến
si chiến đấu cho Tự Do.

Sau đó Nghị Si Roach nhận một bức thư từ Ðại sứ Cộng sản Việt
Nam phản đối cả hai Nghị quyết trên. Ông Terrell A. Minarcin đã
đánh máy lại thư Nguyễn Tâm Chiến và viết thư trả lời..

Ðại sứ Cộng sản Việt Nam tại Washington D.C. đã phản ứng một
cách điên cuồng, nên đã phạm phải những lỗi lầm nghiêm trọng về
ngoại giao và bang giao quốc tế, trong đó có việc xâm phạm vào
công việc nội bộ của công dân và đất nuớc Hoa Kỳ.

Sau đây là thư phản đối của Nguyễn Tâm Chiến, Ðại Sứ Cộng sản
Việt Nam gửi Thuợng Nghị Si Pam Roach, tiểu bang Washington .

------------------------------------------------------------------------
Ngày 10-2-2004
.
Kính thưa Thuợng Nghị Si Roach:
.
Với sự quan tâm dặc biệt mà tôi viết thư này gửi ông liên quan
đến một nỗ lực thứ hai nhằm thừa nhận lá cờ của Việt Nam Cộng
Hòa cũ được trình bày trong văn kiện SJM8045... Ðây là để tái
khẳng dịnh rằng nhân dân và chính phủ Việt Nam không thể chấp
thuận với dự án xây dựng Tuợng Ðài.. Tôi xin chia sẻ với ông về
ý nghĩ của tôi.
.
Thứ nhất, dự án Tuợng Ðài đi nguợc lại những quy uớc quốc tế và
thực tiễn. Bây giờ, cái gọi là Việt Nam Cộng Hòa đã không còn
tồn tại, hơn ba mươi năm qua, lá cờ của nó đã không còn chỗ dứng
hợp pháp tại Việt Nam. Giống như một số văn bản hoặc nghị quyết,
ngôn ngữ của dự án Tuợng Ðài Kỷ Niệm rõ ràng đã phủ định sự hiện
hữu của nuớc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là nuớc đã thiết
lập quan hệ ngoại giao đầy đủ vối Hoa Kỳ từ năm 1995.
.
Thứ hai, kể từ khi khởi đầu của giai đoạn mới của sự bình thuờng
hóa và hòa giải với quý quốc vào năm 1995, Việt Nam đã làm hết
sức mình để dẩy lùi quá khứ và nhìn về phía tương lai, phấn đấu
để xây dựng một quan hệ mà đôi bên đều có lợi. Trong tiểu bang
của ông, hãng Boeing đã bán máy bay cho Việt Nam và Cảng Seattle
vẫn là một cảng chị em với cảng Hải Phòng của miền Bắc Việt Nam
trong chương trình trao đổi. Theo ý tôi, dự án Tuợng Ðài Kỷ
Niệm, dấu hiệu làm sống lại quá khứ của hận thù và buồn đau,
không phục vụ cho lợi ích của cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ hoặc tiểu
bang Washington .
.
Thứ ba, với một chính sách kiên dịnh, Việt Nam hoan nghênh sự
tham gia năng động của Việt kiều trong việc mở rộng quan hệ có
lợi cả hai bên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ và sự hội nhập hữu hiệu
của họ vào dòng sinh hoạt chính lưu của đời sống Mỹ.Việt Nam hy
vọng mãnh liệt rằng cộng dồng của nguời Mỹ gốc Việt, khoảng gần
năm mươi ngàn đã chọn tiểu bang của ông làm quê huong mới, sẽ
cùng tiếp nhận tinh thần thân hữu và hợp tác.
.
Sau hết, ở cấp liên bang vị Ngoại Truởng và các giới chức cao
cấp Hoa Kỳ đã luôn luôn tuyên bố rằng Hoa Kỳ không công nhận lá
cờ của Việt Nam Cộng Hòa cũ. Trong cuộc họp với tôi vào mùa hè
vừa qua, Thống Ðốc Gary Locke đã nói ông ta và tiểu bang
Washington ủng hộ sự gia tăng quan hệ hai bên cùng có lợi giữa
tiểu bang Washington và Việt Nam .
.
Như ông có thể nhớ lại, Nghị Quyết Thuợng Viện loại này số 8659
đã bị rút lại sau cuộc duyệt xét vào mùa xuân vừa qua, khi những
ý tuởng này đuợc đưa ra bàn thảo.
.
Cuối cùng nhưng không kém quan trọng; tôi tin dự án Tuợng Ðài Kỷ
Niệm, một khi đuợc cơ quan lập pháp của ông thông qua, sẽ đâm bổ
vào chính Hiến Pháp Hoa kỳ là nền tảng trao quyền hành cho việc
thi hành chính sách đối ngoại duy nhất trong hệ thống liên bang.
Vả lại, bằng sự kêu gọi công nhận lá cờ cũ ấy như là lá cờ chính
thức duy nhất của nhân dân Việt Nam , nó sẽ làm cho quyền tự do
phát biểu bị nghi ngờ.
.
Duới ánh sáng của những nhận xét này, tôi thành kính yêu cầu ông
dừng hành dộng hỗ trợ cho dự án Tuợng Ðài Kỷ Niệm.
.
Tôi cảm on ông về sự quan tâm và hợp tác.
.
Với lòng kính trọng cao nhất của tôi.
.
Ký tên : Nguyễn Tâm Chiến,
.
Ðại Sứ.

------------------------------------------------------------------------
THƯ PHÚC ÐÁP TỪ WASHINGTON STATE .
------------------------------------------------------------------------
Ngày 23-2-2004
.
Thưa Ông Ðại Sứ,
.
Tôi vừa nhận đuợc một bản sao của thư ông gửi đến Nghị Sĩ Pam
Roach dề ngày 10-2-2004. Tôi xin trả lời thư dó.
.
Nếu bất cứ một nuớc nào khác viết bức thư này, thì sẽ đơn thuần
một chuyện buồn cuời. Nhưng đây lại là của nuớc ông, Ông Ðại Sứ,
nuớc Cộng sản Việt Nam . Nuớc ông chưa bao giờ tôn trọng hoặc
thành thật tuân theo những thủ tục và quy định của bất cứ một
thỏa hiệp quốc tế nào mà nuớc ông đã ký kết vào. Tuy nhiên, nuớc
ông sẽ chỉ núp dằng sau các Thỏa hiệp ấy khi nào chúng thích hợp
cho quyền lợi của nuớc ông. Khi có những cá nhân, chẳng hạn như
bản thân tôi hoặc Ông M. Benge, hoặc các tổ chức như Ân Xá Quốc
Tế, Ủy Ban Tự Do, Tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền, cáo buộc quý quốc
với vô số hành dộng vi phạm nhân quyền hoặc tổn hại, thì lập tức
quý quốc đáp lại bằng cách nói rằng những vấn đề mà chúng tôi
đang quan tâm tới là những vấn đề nội bộ và rằng chúng tôi đã can thiệp
vào chính sách của quý quốc. Thế cũng đuợc. Ở dây, với quá trình
đuợc sắp đặt, chính ông đang can thiệp vào Tiểu bang Washington
về những vấn dề không liên quan gì đến ông cả. Sao mà chúng tôi
vinh danh sự đóng góp của các cá nhân hoặc các cộng đồng dân tộc
ở dây tại Washington lại là ăn nhập dến ông. Xin hãy từ bỏ hành
động can thiệp vào những vấn dề nội bộ của chúng tôi.
.
Ông muốn chúng tôi công nhận và vinh danh lá cờ của ông. Lá cờ
đại diện cho một quốc gia dã thực hiện những cuộc tàn sát diệt
chủng, huynh dệ tuong tàn và buôn bán nô lệ quốc tế. Tôi, với tư
cách một cư dân của tiểu bang Washington , không thể nào tha thứ
hành động ấy. Sao ông dám dòi hỏi tôi làm? Làm như thế sẽ đưa
tôi đến sự đồng lõa với những tội ác lớn lao chống nhân loại của
nuớc ông.
.
Ông nói rằng dự án Ðài Tuởng Niệm phủ định sự tồn tại của nuớc
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghia Việt Nam . Nó chẳng làm đuợc việc nào
như thế đâu. Ðối lại với các bảo tàng viện và đài tuởng niệm của
nuớc ông, Ðài Tuởng Niệm này bày tỏ sự nguỡng mộ đối với những
nguời đã trả cái giá cao nhất cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền
trong nuớc Việt Nam Cộng Hòa cũ.. Ngọn cờ của Việt Nam Cộng Hòa
từ đó duợc công nhận như là ngọn cờ của tranh đấu cho Tự Do, Dân
Chủ và Nhân Quyền trên khắp thế giới. Các màu sắc của nó thật là
tiêu biểu. Ba sọc dỏ tuợng trung cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân
Quyền. Trong lúc màu vàng nói lên sự quý giá biết bao của những lý tuởng ấy, màu đỏ tuợng trưng cho sự đổ máu dể bảo vệ những lý tuởng đó.
Cả trong quá khứ và cả dối với những nguời sẽ bảo vệ những lý tuởng ấy cho đến chết. Tôi, truớc hết, hân hạnh công nhận lá cờ Tự Do và tỏ lòng vinh danh nó. Tôi cũng sẽ hân hạnh công nhận lá cờ của ông khi ông công nhận lá cờ của chúng tôi. Truớc khi ấy, đối với tôi, lá cờ của ông (cờ đỏ sao vàng) tuợng trưng cho giết hại, khủng bố, nguợc dãi, tráo trở, buôn bán nô lệ và vi phạm nhân quyền.
.
Ông tuyên bố rằng ông đang cực kỳ nỗ lực để đẩy lùi quá khứ.
Vâng, với nuớc của ông, hồ sơ quá khứ là sự xâm phạm tất cả các
tiêu chuẩn của hành động văn minh, nên tôi hoàn toàn hiểu duợc
mong muốn đẩy lùi quá khứ của ông. Sau hết, mục đích về sự thừa nhận của ông chỉ bị tổn thuong bởi những hành dộng quá khứ của nuớc ông.
.
Tất cả các cư dân của tiểu bang Washington sẽ cảm thấy sung suớng hơn để mở bàn tay thân hữu và hợp tác khi nuớc ông có đầy đ
ủ Tự Do, Dân Chủ và mở rộng Nhân Quyền cho tất cả nguời dân Việt Nam. Truớc khi đó, xin hãy tránh khỏi công việc nội bộ của chúng tôi.
.
Dự án Ðài Tuởng Niệm không phải là một lời tuyên bố của chính
sách ngoại giao. Nơi mà ông lấy ra cái ý tuởng đó ngoài phạm vi
của tôi. Một lần nữa, ông lại cố gắng làm mờ tối vấn đề. Những
gì mà nhân dân Mỹ làm không mắc mớ gì tới ông. Ðây là một vấn dề nội bộ của tiểu bang Washington do những công dân bình thuờng vinh danh những nguời đã hy sinh mạng sống của mình để bảo vệ Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền, là những lý tuởng đáng nguyền rủa đối với chính phủ chuyên chính bạo nguợc của ông. Ðó là những lý tuởng mà lá cờ nền vàng với ba sọc đỏ đã tuợng trưng.
.
Bây giờ chúng ta hãy nhìn kỹ vào những gì mà nuớc ông dã làm và đang tiếp tục làm.
.
Cộng sản Việt Nam đã tham gia vào hành dộng diệt chủng. Nó đã
chính thức bắt đầu suốt trong cuộc Chiến Tranh Ðông Dương lần
thứ hai. Chính nuớc ông dã tuyên chiến Cuộc Chiến Tranh Ðông
Duong Thứ Hai. Theo định nghĩa lúc bấy giờ, đó là một cuộc chiến
tranh. Như vậy, nuớc ông bị ràng buộc bởi những Quy Uớc Genève
về cách dối xử với Tù binh chiến tranh. Thế nhưng, như tôi đã
nói truớc dây, nuớc ông chưa đủ thành thật và tôn trọng đối với những nguyên tắc căn bản của bất cứ một hiệp dịnh quốc tế nào mà nuớc ông dã ký vào.
.
Sự đối xử với tù binh chiến tranh của các ông đã chứng minh cho
điều đó. Ngoài ra, các ông dã hành quyết ít nhất là 11 tù binh
Hoa Kỳ đang bị các ông giam giữ. Ðó là một tội phạm chiến tranh
và diệt chủng. Cho đến ngày nay, các ông vẫn cố tình phạm tội
diệt chủng. Hãy lấy truờng hợp của Lý Tống, một nguời Mỹ gốc
Việt. Các ông đã tìm cách can thiệp vào tòa án và luật pháp của
Thái-Lan và yêu cầu Thái-Lan hãy hành quyết Lý Tống.. Tội danh
của ông ta là gì? Nói cho dân Việt Nam về Tự Do là một truờng
hợp mà các ông không thể nào tha thứ duợc.
.
Cộng sản Việt Nam đã tham gia và tiếp tục tham gia vào cuộc
huynh dệ tương tàn. Việc này dã khởi đầu vào năm 1956 khi chế độ Cộng sản tại Hà Nội phát dộng chương trình Cải Cách Ruộng Ðất. Trong lúc có thể dễ dàng trút trách nhiệm lên kẻ khích động của Cộng sản Quốc tế là Hồ Chí Minh, thì kiến trúc sư thực sự là
Truờng Chinh. Ðã có bao nhiêu nguời Việt Nam chết duới cuộc tàn sát này? 10,000? - 50,000? - 100,000? Nhiều hơn? Ngay cả chỉ có một nạn nhân của cuộc tàn sát này, cũng đã tạo nên cảnh tương
tàn huynh đệ rồi. Cuộc tàn sát nhắm vào nguời thiểu số Việt Nam
tại miền Tây Bắc Việt Nam cũng cùng một loại (với cải cách ruộng
dất). Mục dích của cuộc tàn sát này là xóa sạch chủng tộc số
nguời Việt Nam thiểu số dã giúp cho nguời Pháp. Tôi nhắc đến diều này là để chứng minh rằng các ông dã tiếp tục chính sách này sau khi kết thúc Cuộc Chiến Tranh Ðông Duong Thứ Hai với sự bắt đầu chính sách cuỡng bách tái định cư những nguời Việt Nam dã cộng tác với Việt Nam Cộng Hòa cũ tại những vùng mà các ông thản nhiên gọi là Vùng Kinh Tế Mới. Các ông tiếp tục chính sách diệt chủng hiện nay duới dạng nguợc đãi và khủng bố tôn giáo, nó cũng là một bằng chứng hiển nhiên về vi phạm nhân quyền. Bất cứ một nguời nào bị giết hại trong cuộc tàn sát này cũng là nạn nhân của chính sách diệt chủng và tương tàn của nuớc ông.
.
Hãy nhìn vào sự gắn bó của nuớc ông trong hành động buôn bán nô lệ. Nhiều lần trong cuộc Chiến Tranh Ðông Duong lần thứ hai và cả sau đó, nuớc ông bán nguời Mỹ, bán đồng minh và tù binh Việt Nam qua nuớc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghia Liên Bang Xô-Viết. Một bằng chứng, năm 1983, nuớc ông bán 275 nguời Mỹ và 27,000 tù binh Việt Nam qua Liên-xô để trừ nợ đã vay trong chiến tranh. Ðây là một vi phạm quá trọng đại đối với nhân quyền và là một tội ác chống nhân loại. Ðã có nhiều lần nuớc ông bán nguời Mỹ, đồng minh và tù binh Việt Nam qua Liên-Xô, nhưng mỗi một lần số luợng không nhiều lắm.
.
Nuớc ông có thể giải quyết nhiều truờng hợp Tù Binh/Nguời Mất
Tích Trong khi làm nhiệm vụ một cách dễ dàng bằng cách mở các hồ
so quân đội và Công an của nuớc ông. Nhưng nuớc ông đã không làm
chỉ vì không có lợi lộc gì trong việc giải quyết nhân đạo vấn đề
tình cảm này. Nuớc ông tống tiền nuớc Mỹ cho lợi nhuận riêng và
huởng thụ. Tại sao? Bởi vì nuớc ông nhận thấy rằng Tổng Thống
Nixon đã hứa viện trợ tái thiết cho nuớc ông khoảng 4 tỷ 3 dô-
la. Ðiều này có thể xảy ra, nuớc ông có thể nhận đuợc số tiền
này một cách dễ dàng, nếu chịu công bố hồ sơ và danh sách tù
binh của nuớc ông cho các gia đình và cho thế giới. Ít ra việc
này cũng có thể làm giảm nhẹ một phần nào trong số tội ác của
nuớc ông.
.
Rồi thì ông dám trơ tráo đòi hỏi rằng nguời Mỹ đừng can thiệp
vào công việc nội bộ của ông và đòi vinh danh lá cờ của nuớc
ông. Với hồ sơ của nuớc ông, lẽ ra ông nên vui mừng là đã không
bị đưa ra xét xử bởi một Tòa án Quốc Tế về những tội ác chống
nhân loại mà nuớc ông đã phạm.
.
Vậy thì, xin đừng can thiệp vào các vấn dề nội bộ của chúng tôi
trong việc vinh danh những nguời đã chết vì Tự Do, Dân Chủ và
Nhân Quyền
. Xin đừng xen vào để xem làm sao chúng tôi vinh danh
những công dân dã đóng góp vào sự an sinh và no ấm của Tiểu bang
chúng tôi.
.
Terrell A. Minarcin
Concerned Citizen for Freedom, Democracy, and Human Rights for
Vietnam .
.
Bản dịch của NGUYỄN-CHÂU ( San Jose )

--------------------------------------------------------
NGUYÊN VĂN ANH NGỮ
--------------------------------------------------------
Dear Senator ROACH: February 10, 2004
.
It is with particular concern that I am writing to you regarding
a second attempt to recognize the flag of the former Republic of
Vietnam , as expressed in SJM8045. This is to reaffirm that the
people and Government of Vietnam cannot agree with the proposed
Memorial. Let me share with you my thoughts.
.
First, the proposed Memorial runs counter to international
conventions and practices. Now that the so-called Republic of
Vietnam ceased to exist over thirty years ago, its flag
therefore no longer has legal standing in Vietnam . Like a
number of similar bills or resolutions, the language of the
proposed Memorial clearly negates the existence of the Socialist
Republic of Vietnam that has established full diplomatic
relations with the United States since 1995.
.
Secondly, since the start of the new phase of normalization and
reconciliation in 1995 with your country, Vietnam has been doing
her utmost to put the past aside and look forward to the future,
striving to build a relationship that benefits both sides. In
your State, Boeing has been selling airplanes to Vietnam and the
Port of Seattle maintaining a sister port exchange program with
Vietnam 's northern port of Hai Phong . In my opinion, the
proposed Memorial, languaged to revive the past of hatred and
sadness, does not serve the interests of either Vietnam , or the
United States , or Washington State .
.
Thirdly, as a consistent policy, Vietnam welcomes active
participation by Vietnamese Americans in expanding the mutually
beneficial relationship between Vietnam and US and their
effective integration
into the mainstream of the US life. It is Vietnam 's strong hope
that the community of Vietnamese Americans, about nearly fifty
thousand of whom have chosen your State as their new home, will
also adopt the spirit of friendship and cooperation.
.
Finally, at the federal level the Secretary of State and other
senior US officials have repeatedly stated that the US does not
recognize the former Republic of Vietnam flag. In his meeting
with me last summer,
Governor Gary Locke said he and the State of Washington are
supportive of the acceleration of mutually beneficial ties
between Washington State and Vietnam .
.
As you may recall, the similar Senate Resolution 8659 was
withdrawn from consideration last spring when those thoughts
were taken into account.
.
Last but not least; I believe the proposed Memorial, once passed
by your legislature, could run afoul of the very US Constitution
that vests the powers to conduct foreign policy solely in the
federal system. Furthermore, by calling for the recognition of
the former flag 'as the only legitimate flag of the Vietnamese
people,' it also renders the freedom of expression questionable.
.
In light of these considerations, I respectfully urge you not to
act in favor of the proposed Memorial.
.
I thank you for your consideration and cooperation.
.
With my best personal regards,
.
(signed)
.
NGUYEN TAM CHIEN

Ambassador
-----------------------------------------------
Mr. Ambassador; February 23, 2004
.
I recently received a copy of your letter to State Senator Pam
Roach dated February 10, 2004. I would like to respond to that letter.
.
If any other country had written this letter, it would be,
simply put, laughable. But it was your country, Mr. Ambassador,
communist Vietnam .
.
Your country has never honorably or honestly met the protocols
of any international agreement that you are a signatory to. Yet,
you hide behind these agreements only when they suit your fancy.
When individuals, such as myself or Mr. M. Benge, or
organizations, such as Amnesty International or Freedom House,
or Human Rights Watch, charge your country with numerous counts
of violations of human rights or worse, you immediately respond
by saying that the matters we are concerned with are internal
matters and that we are interfering with your country's
policies. So be it. You are interfering with due process here in
the State of Washington in matters that do not concern you. How
we honor the contributions of individuals or ethnic communities
here in Washington is of no concern to you. Quit
interfering in our internal matters.
.
You want us to recognize and honor your flag. The flag
represents a country that has promulgated pogroms of genocide,
fratricide and international slave trafficking. I, as a resident
of the State of Washington , can not condone such behavior. How
dare you insist that I do? To do so makes me an accomplice to
your egregious crimes against humanity.
.
You state that the proposed Memorial negates the existence of
the Socialist Republic of Vietnam . It does nothing of the sort.
In contrast to your museums and memorials, this Memorial pays
tribute to those who paid the ultimate price for Freedom,
Democracy and Human Rights in the former Republic of Vietnam .
The flag of the former Republic has since come to be recognized
as the flag for the struggle for Freedom, Democracy, and Human
Rights throughout the World. The colors are quite symbolic. The
three bands stand for Freedom, Democracy, and Human Rights.
While the gold shows how precious these ideals are, the red
stands for the blood shed for these ideals, both in the past and
for those who will defend
.
Anna Queen .
PD

Tuesday, December 8, 2009

Trăm Năm Bia Đá THUYỀN NHÂN VN


.
Với chính sách có kế hoạch hẳn hoi, bạo quyền Việt Cộng mời gọi những “khúc ruột ngàn dặm” về thăm quê hương, giúp đỡ thân nhân để họ tiếp tục bóc lột, thu nhặt ngoại tệ. Ngoài mặt, họ kêu gào người Việt ở hải ngoại hãy xóa bỏ hận thù thì cùng một lúc, ở bên trong, chính họ đã biểu lộ tính cực đoan, hận thù và nỗi lo sợ sự thật. Lo sợ những tấm bia đá tưởng niệm thuyền nhân chết trên đường vượt biển là bằng chứng hiển nhiên nói lên một sự thật: Chế độ Cộng Sản Việt Nam độc tài, dã man, tàn ác đến độ người dân phải liều chết vượt biển đi tìm tự do. Ðã có khoảng hơn nửa triệu người thiệt mạng trong những chuyến vượt biển này.
.
Chính vì muốn xóa bỏ sự thật, khoảng giữa năm 2005, nhằm mục đích thay đổi nội dung của tấm bia ở đảo Galang đã ghi: “Tưởng nhớ hàng trăm ngàn người Việt Nam đã thiệt mạng trên đường tìm tự do (1975-1996)”, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đã áp lực yêu cầu chính phủ Nam Dương đục phá bia đá do người tỵ nạn dựng lên trước đó không lâu. Tiếp đến là BiaTỵ Nạn tại đảo Bidong Mã Lai cũng bị giật sập vào tháng 9, năm 2005. Sau những sự kiện này, đồng bào ta trên thế giới đã phẫn nộ, phản đối hành động phi nhân này bằng nhiều cuộc biểu tình trước trụ sở các sứ quán Mã Lai, Nam Dương. Cũng chính vì thế, rất nhiều người nghĩ đến ý định thực hiện các tấm bia tưởng niệm những người đã chết vì Tự Do.
.
Có thể nói Geneve, Thụy Sỹ, trọng tâm của những sinh hoạt chính trị và tài chánh thế giới, là nơi đầu tiên Bia Ðá Tưởng Niệm Thuyền Nhân được dựng lên vào ngày 9, tháng 2 năm 2006. Phải nhìn nhận đây là thành quả rất lớn lao của các anh Nguyễn Tăng Lũy, Nguyễn Ðăng Khải, Hoàng Ðình Tường (trải qua nhiều khó khăn vì áp lực quốc tế trên phương diện ngoại giao).
.
Người Việt chúng ta khó ai có thể quên được Thụy Sĩ, nơi Hiệp Ðịnh Geneve được ký năm 1954, chia đôi Việt Nam ra hai miền Nam-Bắc. Cũng nơi này, sau năm 1975 đã mở rộng vòng tay đón nhận người tỵ nạn Cộng Sản. Một nhóm bạn người Thụy SC4 và Việt Nam thuộc tổ chức COSUNAM đã có một sáng kiến táo bạo là thực hiện Bia Ðá Kỷ Niệm Thuyền Nhân ngay “Ngã Tư Quốc tế Geneve" tại một công viên chỉ cách Trụ Sở Liên Hiệp Quốc và Cao Ủy Tỵ Nạn một cây số rưỡi, mất khoảng 15 phút đi bộ. Bia đá được đặt trong khuôn viên của công viên Campagne du Château Pictet thuộc thành phố Grand Saconnex, Geneve; cách Tòa Lãnh Sự Hà Nội khoảng 2 cây số và nằm giữa khu vực sinh hoạt của các cơ quan Liên Hiệp Quốc. Trong khung cảnh thật tĩnh mịch, chỉ có tiếng reo vi vu của những hàng thông cao nghiêng mình trong gió. Thảm cỏ xanh rì êm mượt như nhung dưới những bước chân, ngồi xuống, ta có thể đọc hàng chữ Việt khắc trên tấm bia đá nhỏ, hình chữ nhật, đặt dưới đất. Như một trang sử để lạ i cho hậu thế ghi rõ những hàng chữ:
.
Tưởng Niệm cuộc ra đi của thuyền nhân trên thế giới1975 – 2005. Người Việt tỵ nạn chân thành cảm ơn Thụy Sĩ vàcác nước tiếp cư đã giúp cho chúng tôi được sốnghạnh phúc trong hòa bình, tự do và dân chủ. Chúngtôi sẽ mãi mãi không quên quê hương Việt Nammảnh đất ngàn đời của tổ tiên để lại.
.
Tấm bia đá chính, lớn hơn nhiều, bằng cẩm thạch đen, có hình dạng một cánh buồm, cao hơn một thước, một bên viết bằng Anh ngữ, bên kia là Pháp ngữ, (cùng một nội dung như Việt ngữ) dựng ở một đầu. Ðầu kia là cây tùng, tượng trưng cho cột buồm. Bia đá và cây tùng nằm trên một khung sỏi hình chiếc ghe mà những viên sỏi chính là những ngọn sóng biển.
.
Sau khi khánh thành như một món quà tri ân người Thụy Sĩ của cộng đồng người Việt tại đây, Bia Ðá đã được tặng cho thành phố Geneve để hội đồng thành phố trông coi. Hằng năm, người Việt tại Geneve về đây để làm lễ giỗ, tưởng niệm những người đã chết vì tự do. Hay nói đúng hơn, đã chết vì Việt Cộng. Ngoài biểu tượng, Bia Ðá này còn là chứng tích lịch sử nhắc nhở cho bao năm sau này. Chính những hình ảnh khủng khiếp của thảm cảnh vượt biển đã đánh động lương tâm mọi người ở Phương Tây, và Thụy Sĩ đã thúc đẩy các quốc gia mở rộng vòng tay đón nhận người tỵ nạn Việt Nam.
.
Cùng một mục đích: ghi nhớ đối với các thuyền nhân, cám ơn quốc gia đã cưu mang mình; ngaỳ 30, tháng 6, năm 2006, Bia Ðá Tưởng Niệm Thuyền Nhân đã được trang trọng khánh thành tại công viên dõAvroy, ngay giữa trung tâm thành phố Liege, Vương Quốc Bỉ (Liege, Belgique) sau bao công khó của Cộng Ðồng Việt Nam mà đại diện là ông Lê Hữu Ðào.
.
Liege là thành phố thứ hai của Âu Châu, sau Geneve, Thụy Sĩ có Bia Ðá Tưởng Niệm Thuyền Nhân. Bia Ðá Liege có nội dung gần giống như Bia Ðá Thụy Sĩ: Tưởng niệm thuyền nhân từ 1975-2006, Cám ơn Vương Quốc Bỉ đã tiếp nhận mình và phía trên những hàng chữ là hình chiếc thuyền tỵ nạn mong manh có lá cờ kêu cứu. Dù có nhiều phản đối của nhà cầm quyền Việt Nam và đảng phái thuộc cánh Tả, Bia Ðá Liege vẫn được hoàn thành tốt đẹp nhờ chính sách điạ phương phân quyền của Vương Quốc Bỉ.
.
Trong cùng một thời điểm, cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Ðức đã nỗ lực hoạt động trên mọi phương diện để rồi ngày 28 tháng 4 năm 2007, hơn 1 ngàn bốn trăm người đã hân hoan đổ về thành phố Troisdorf, Ðức Quốc để dự lễ khánh thành Bia Tỵ Nạn Tưởng Niệm Thuyền Nhân. Tấm Bia Ðá cao 1m70, ngang 100/70 cm, dày 30cm, dựng trên một bệ cao 36cm, với ba thứ tiếng Anh, Ðức, Việt mang nội dung: Biá Tưởng niệm những người Việt Nam tỵ nạn Cộng Sản đã chết trên đường tìm tự do. Tri ơn nhân dân, chính phủ Ðức cùng tất cả những ai đã cứu giúp và thu nhận người Việt tỵ nạn, đặc biệt là Dr. Ernst Albrecht, Dr. Ruppert Neudeck cùng Uỷ Ban Cap Anamurá. Bia Ðá Tỵ Nạn được đặt trong một công viên của hai góc đường Frankfurterstrasse và Siebengebirgsallee thuộc thành phố Troisdorf. Bên cạnh là xác chiếc ghe vượt biển đã được Cap Anamur cứu vớt vào cuối tháng Tư, năm 1982 và đem về đặt ở đây cho đến nay.
.
Trên hai mặt Bia còn có hình hai bàn tay nâng chiếc thuyền trên sóng nước mà bên trên là làn khói vàng có ba sọc đỏ (trông như lá cờ) thoát ra từ ống khói ghe
.
Bia Ðá này xác định lập trường chính trị của Cộng Ðồng Người Việt tại đây là một cộng đồng tỵ nạn, đã bỏ nước ra đi vì không chấp nhận chế độ độc tài Cộng Sản hiện nay tại Việt Nam.
.
Và gần đây nhất, Thứ Bảy, 25 tháng 4, năm 2009, tại thành phố Westminster, California, nơi được gọi là thủ phủ của người Việt tỵ nạn Cộng Sản trên đất Mỹ, hàng ngàn người đã cùng về d1 ngày khánh thành Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân. Nhóm sáng lập gồm Thi Sĩ Thái Tú Hạp, Nữ Sĩ Ái Cầm, Bác Sĩ Lê Hồng Sơn và phu nhân Thu Thủy, các cộng tác viên như ca sĩ Việt Dũng, Minh Phượng, Vân Bằng và rất nhiều người, sau hơn 10 năm vượt qua nhiều trở ngại đã đạt thành tâm nguyện thực hiện Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân được xây dựng trong Nghĩa Trang Westminster Memorial Park, cách khu Litle Sài Gòn khỏang nửa dặm Anh (chưa được 1 cây số).
.
Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân gồm một tượng đồng được dựng nổi trên hồ nước nhân tạo. Ðiêu khắc Gia Vivi Võ Hồng Kiệt đã tạc cảnh sống động của một gia đình thuyền nhân trước giây phút hãi hùng khi thuyền sắp chìm. Người Mẹ quỳ gối ôm đứa con thơ, người chồng đứng sau lưng, tay C4ỡ mẹ già, đầu cúi xuống nhìn vợ con. Chung quanh hồ nước là là 54 tảng đá lớn, đặt rải rác. Mỗi tảng đá tượng trưng một con thuyền bị đắm dưới biển. Số 54, cộng lại là 9, biểu hiện của sự vĩnh cửu hay vĩnh hằng. Trên mặt đá khắc tên những nạn nhân đã bỏ mình trên đường đi tìm tự do và nhân quyền. Khoảng hơn 6 ngàn danh vị được khắc ở đây, được xem là nơi an nghỉ vĩnh viễn của họ. Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân cũng đã được trao tặng cho Memorial Park để thành phố trông coi và chăm sóc.
.
Từ Tượng Ðài ở Thụy Sĩ, sang Vương Quốc Bỉ, qua Ðức, nay đến Hoa Kỳ, các Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân này là niềm hãnh diện của những người Việt yêu chuộng tự do, công lý, hòa bình. Các chứng tích này đã minh chứng tội ác của Cộng Sản Việt Nam cũng như sẽ mãi mãi nhắc nhở chúng ta; những vong linh can trường đã chết cho tự do; những người đã phấn đấu vượt qua mọi gian khổ để tiến về tương lai tươi sáng trước mặt.
.
Trăm năm và hàng trăm năm sau,
Bia Ðá Tưởng Niệm Thuyền Nhân sẽ vẫn còn. .... Còn mãi.
.
Gió Ðồng Nội 2009

Thursday, December 3, 2009

Hỏi Đảng CSVN - ĐÂU LÀ SỰ THẬT ?



Ðâu Là Sự Thật ?
.
Ðặng Xuân Khánh
(Sinh viên trẻ đang sống trong thiên đàng xã nghĩa VC)
.
Giới trẻ chúng tôi, thành phần lớn lên sau chiến tranh không hiểu biết lý do tại sao đã có cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2 (1954-1975), mà báo chí ngoại quốc thường gọi là chiến tranh Việt Nam (Vietnam War).
.
Chúng tôi đã được học tập dưới hệ thống nhà trường xã hội chủ nghĩa (XHCN) về lý do tại sao có cuộc chiến tranh Việt Nam qua những cụm từ như “chế độ khát máu Mỹ-Diệm”, ”miền Nam bị Mỹ, nguỵ kìm kẹp”, “đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào”, “ách thống trị thực dân kiểu mới của Mỹ”, “giải phóng miền Nam” v.v…
.
Nhưng ngày nay, với sự phổ biến của công nghệ thông tin, chúng tôi đã biết nhiều hơn trước. Về lý do tại sao đã có và do ai gây ra cuộc chiến Việt Nam 1954-1975, hoàn toàn không phải như chúng tôi đã được tuyên truyền trong nhà trường.
.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng còn vài thắc mắc rất đơn giản. Kính mong các bác, các chú, là những người đã và đang phục vụ cho đảng và nhà nước Việt Nam và những người vẫn khư khư cho rằng chiến tranh Việt Nam là cần thiết để “giải phóng miền Nam” thoát khỏi sự “kìm kẹp của Mỹ, Ngụy” v.v giải thích giùm:
.
1. Sau năm 1954, sau chiến thắng Ðiện Biên Phủ, Hiệp định Geneve đã được ký kết ngày 27/10/1954 chấm dứt chiến tranh Ðông Dương lần thứ nhất. Trong thời gian chủ tịch Hồ Chí Minh (HCM) lãnh đạo chính quyền miền Bắc, tại sao 1 triệu người miền Bắc đã phải lên tàu đua nhau bỏ chạy vào miền Nam để cho “Mỹ - Diệm kìm kẹp” mà không ở lại cùng nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và chủ tịch HCM? Số 1 triệu người này có thể còn nhiều lần hơn nếu nhà nước không dùng bạo lực ngăn chặn, không cho họ ra đi! Tại sao ngoại trừ một số các cán bộ đảng viên cộng sản (CS) tập kết ra Bắc, người dân miền Nam lại không đua nhau chạy ra Bắc theo chế độ CS của chủ tịch HCM, mà tuyệt đại đa số cứ nhất quyết ở lại cho “Mỹ - Diệm kìm kẹp”? Theo hiệp định Geneve thì lúc đó mọi người được hoàn toàn tự do lựa chọn đi ra miền Bắc hay ở lại miền Nam cơ mà??
.
2. Tại sao hồi còn chiến tranh Việt Nam (trước 30/4/1975), mỗi khi có giao tranh giữa quân đội miền Nam (VNCH) và bộ đội “giải phóng” thì dân chúng đều chạy về phía có lính miền Nam trú đóng, chứ không chạy về phía bộ đội “giải phóng”? Nếu dân miền Nam bị “Mỹ, Ngụy kìm kẹp”, cần phải được “giải phóng”, thì lẽ ra họ phải hồ hởi mà chạy về phía các “đồng chí bộ đội”, tay bắt mặt mừng và cám ơn “được giải phóng”, chứ sao lại bồng bế nhau mà chạy trối chết để xa lánh các “đồng chí” ấy? Ðua nhau chạy vế phía có lính miền Nam để tiếp tục bị “kìm kẹp”, không lẽ họ ngu đần đến nỗi chỉ thích bị “Mỹ, Ngụy kìm kẹp” chứ không muốn được “giải phóng” à?
.
3. Năm 1975, sau khi chiến tranh chấm dứt, “bộ đội giải phóng” chiếm toàn bộ miền Nam, đất nước thống nhất, Mỹ đã cút, Ngụy đã nhào. Tại sao dân miền Nam lại lũ lượt trốn chạy ra đi, bất chấp nguy hiểm, bão tố, cá mập, hải tặc mà vượt Biển Ðông; bất chấp các bãi mìn, hay bị Khơ-me Ðỏ chặt đầu; để bằng đường bộ băng qua Campuchia sang Thái Lan?
.
Theo ước tính của các cơ quan truyền thông, thông tin quốc tế thì hơn 1 triệu người đã đi bằng hình thức này (http://archives.cbc/. ca/id-1-69- 324/l...ty/ boat_people).
.
Chúng tôi đã được học tập là “Mỹ- Diệm đã ban hành đạo luật 10/59 tố Cộng, diệt Cộng, lê máy chém đi khắp miền Nam”, nào là “bè lũ tay sai quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu”, nào là “ghi khắc tội ác dã man của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai”… v.v…. Khi học xong, đọc hay nghe những dòng chữ như thế, thì chúng tôi nghĩ, chắc hẳn chế độ ở miền Nam dù với Diệm hay Thiệu thì cũng tàn ác kinh khủng lắm, thế nhưng tại sao lại suốt từ 1954 cho thời điểm ngày “Giải phóng” 30/4/1975 - 20 năm trời, không hề có hiện tượng người dân miền nam từ bỏ, trốn khỏi miền Nam để xuống tầu đi vượt biên? Thay vì đến khi bộ đội ta từ miền Bắc vào Nam “giải phóng”, lẽ ra phải ở lại mừng vui, thì họ lại kéo nhau ra đi là thế nào? Thế thì có tréo cẳng ngỗng không? Tại sao hàng ngàn dân miền Bắc, nhất là từ Hải Phòng, đã có kinh nghiệm sống dưới sự lãnh đạo của Bác và Ðảng hơn 20 năm, cũng bỏ miền Bắc XHCN, vượt vịnh Bắc Bộ sang Hong Kong mong có cơ hội được sống với thế giới tư bản, chứ nhất định không ở lại miền Bắc XHCN “tươi đẹp”?
.
4. Năm 2005, sau khi hoà bình đã về trên quê hương được 30 năm, đảng CS đã lãnh đạo đất nước được 30 năm, (chính quyền Sài Gòn chỉ lãnh đạo miền nam có 20 năm thôi, 1954-1975), thì tại sao dân chúng vẫn còn lũ lượt tìm cách rủ nhau ra đi. Trai thì đi lao động cho nước ngoài, rồi tìm cách trốn ở lại, gái thì cắn răng chịu đựng tủi nhục lấy toàn đàn ông (già cả, tàn tật, hết thời, …) của Ðài Loan, Singapore, Ðại Hàn, để có cơ hội thoát khỏi Việt Nam??? Tại sao du học sinh, thành phần gọi là tương lai của đất nước vẫn luôn tìm mọi cách (ngay cả khi chưa học xong) để ở lại nước ngoài, như lập hôn thú (giả có mà thật cũng có) với người Việt hải ngoại, chứ nhất định không chịu trở về Việt nam???
.
5. Những năm gần nay, những người Việt trước nay đã trốn đi vượt biên, chạy theo để “bám gót đế quốc”, là “rác rưởi trôi dạt về bên kia bờ đại dương”, là “thành phần phản động”, là “những kẻ ăn bơ thừa, sữa cặn” như nhà nước Việt Nam vẫn từng đã nói. Nay được chào đón hoan nghênh trở về Việt Nam làm ăn sinh sống và được gọi là “Việt kiều yêu nước”, “khúc ruột ngàn dặm”? Có đúng họ “yêu nước” không? Tai sao họ không dám từ bỏ hoàn toàn quốc tịch Mỹ, Pháp, Canada, Úc, xé bỏ hộ chiếu nước ngoài và xin nhập lại quốc tịch Việt Nam và vĩnh viễn làm công dân nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam???
.
6. Trong bộ môn lịch sử chương trình lớp 12, chúng tôi được giảng dạy rằng, “Mặt trận Giải phóng Miền Nam” thành lập ngày 20/12/1960 với mục tiêu “đấu tranh chống quân xâm lược Mỹ và chính quyền tay sai, nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”. Theo như chúng tôi tìm hiểu, năm 1961 khi Ngô Ðình Diệm ký Hiệp ước quân sự với Mỹ, thì miền Nam lúc ấy chỉ có các cố vấn Mỹ và một ít quân mang tính yểm trợ (US Support Troopes) với nhiệm vụ chính là xây dựng phi trường, cầu cống, đường xá… Mỹ chỉ bắt đầu đưa lính vào miền Nam từ năm 1965, sau khi lật đổ và giết Ngô Ðình Diệm do cương quyết từ chối không cho Mỹ trực tiếp can thiệp quân sự. Quân Mỹ thực sự đổ quân vào miền Nam sau sự kiện vịnh Bắc Bộ năm 1964. Vậy thì vào thời điểm 20/12/1960, làm gì có bóng dáng lính Mỹ nào ở Miền Nam, làm gì đã có ai xâm lược mà chống?? Các bác, các chú chống ai, chống cái gì vào năm 1960???
.
Ðặng Xuân Khánh
----ooOoo----
.
Ngày nào còn đảng giặc Hồ,
Dân còn điêu đứng tiền đồ nát tan.
Ngày nào còn đảng Việt gian,
Nhà nhà còn cực lầm than đói nghèo.
Ngày nào còn đảng chó, heo,
Thời còn khốn nạn vì theo Cộng Tàu
Nhân quyền Dân chủ còn đâu,
Kiếp người nào khác ngựa, trâu nhục nhằn.
Xót thương thân phận Việt Nam,
Khốn cùng, nghiệt ngã, điêu tàn, tang thương
Chỉ còn mỗi một con đường,
Giải trừ Cộng đảng và phường tham ô.
.

Wednesday, December 2, 2009

VC Minh Triet nói về tham nhũng ở VN

Khi "ngài chủ tịt" VC Nguyễn minh Triết phân bua về tình trạng tham nhũng ở Việt Nam, theo "ngài chủ tịt" đó chẳng qua là một hình thức mượn đỡ, mượm tạm rồi trả sau thôi ....... chứ VN làm gì có chuyện tham nhũng nhất nhì thế giới ! Hình thức "thủ quỹ mượn chút" này có thể giải thích được là tại sao ở các ngân hàng Thụy Sĩ ở nước ngoài có cả hàng chục "người thủ quỹ" quốc tịch Việt Nam có thẻ đảng với số tiền ký thác hàng bạc tỷ, chưa kể hàng trằm hàng ngàn "người thủ quỹ" khác của đảng CSVN có số tiền gửi lên hàng bạc triệu đô la ! Một điều dễ hiểu khác nữa là hễ có thẻ đảng là trở thành "thủ quỹ", là có quyền "mượn chút chút" tài sản của nhân dân VN, chứ làm gì có chuyện tham nhũng với tham tiền !

Phân bua, giải thích chí lý lắm thưa "ngài chủ tịt" Triết ... nhưng ...... khi nghe giải thích xong thì đũng quần của thằng tôi ướt đẫm, nồng nặc mùi nước đái ..... chưa kể đến mùi thum thủm phảng phất bốc lên




Quy luật muôn đời của đảng ta
"Túng tiền thiếu bạc" cứ lấy ra
Công quỹ của chung nào ai biết
Thằng nào khiếu nại - có (súng) A K

Powered By Blogger